Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Giáo trình lịch sử Nhật Bản (Kỳ 13)

Tiết 7: Thời thịnh trị dưới triều Shômu. Văn hóa Tenpyô.

7.1 Biên soạn sử thư và địa chí nhằm nâng cao uy tín quốc gia:

Vào đầu thế kỷ thứ 8, lúc thời đại Nara vừa mới có chưa được bao lâu thì giữa hoàng tộc và các tay hào tộc trung ương, thế quân bình về quyền lực giữa họ vẫn còn được giữ một cách tốt đẹp.

Một thể chế cho phép hai bên hợp tác với nhau đã được xây dựng lên giúp cho sự vận hành nhà nước luật lệnh được thông suốt trơn tru. Vừa khi thể chế quốc gia đã ổn định và sức mạnh của nhà nước đến hồi sung mãn thì những người trong cuộc bỗng cảm thấy có nhu cầu ghi chép ký sự về sự hình thành và phát triển của quốc gia để  truyền lại cho những thế hệ mai sau. Đó chính là lý do mà nhà nước đã cho soạn những sử thư và địa lý chí rất độc đáo theo cách thức Nhật Bản.

Như đã nói đến bên trên, về các sử thư ra đời thời đó phải kể đến việc biên soạn các cuốn Kojiki (Cổ Sự Ký, 712, Wadô 5) và Nihon shoki (Nhật Bản thư kỷ, 720, Yôrô 4) là những hành động cụ thể. Kojiki dựa trước hết trên những Teiki (Đế kỷ) hay truyền thuyết kể lại từ xưa trong cung đình về sự nghiệp các thiên hoàng và sự kế thừa trong hoàng tộc. Nó còn dựa lên những Kyuuji (Cựu từ) tức là những thần thoại lập quốc và các bài ca dao cổ đại. Hai sáng tác này hình như đã được truyền lại dưới triều Thiên Hoàng Kinmei. Một người xá nhân (kẻ theo hầu vua hay bậc tôn quí) trong đám người chuyên nghề kể chuyện gọi là Kataribe có trí nhớ thật tốt tên là Hieda no Are đã thuộc lòng chúng. Nữ Thiên hoàng Genmei mới nghĩ rằng phải cố nhớ những điều đó cho thật kỹ để có thể lưu truyền cho hậu thế, và theo đó, đến năm 711 (Wadô 4) thì bà hạ lệnh Hieda no Are đọc lại tất cả để chức quan là Ono no yasumaro lấy bút ghi.Kojiki nhân đó mới hoàn thành. Về Nihon shoki thì nó được biết như công trình biên soạn của nhóm người chung quanh hoàng thân Toneri. Họ đã viết bộ sử ấy theo lối phân chia đề tài và cách thức biên niên như ở Trung Quốc. Hai cuốn Kojiki và Nhon shoki được gọi với một tên chung là Kiki (Ký kỷ).

Kí và Kỷ chủ yếu khác nhau thế nào?

 

Kojiki (Ký) (712)

Nihon shoki (Kỷ) (720)

Hình thức truyện kể

Chủ yếu dùng cho người trong nước

Nặng tính cách tác phẩm lịch sử

Có mục đích phô trương với nước ngoài

Viết theo quốc âm, sử dụng khả năng cách đọc âm (on) huấn (kun) của Hán ngữ

Văn thể thuần túy chữ Hán

Đặt trọng tâm vào thần thoại và ca dao

Biên niên:ghi chép sự kiện theo năm tháng

 

Việc biên soạn sử thư được đi kèm với việc biên soạn các địa chí. Năm 713, chính phủ trung ương ra lệnh cho các địa phương phải báo cáo về địa thế đất đai, sản vật , các loại điểu thú côn trùng và sự tích trong vùng. Những tập ghi chép đó có tên là Fudoki (Phong thổ ký). Fudoki hiện còn được bảo tồn là của 5 vùng Hitachi, Izumo, Harima, Bungo, Hizen.

Giữa khi văn hóa phát triển như thế thì xã hội cũng trãi qua nhiều cuộc biến động, trong đó có sự bành trướng thế lực của dòng họ Fujiwara và sự đề kháng đến từ thế lực đối lập mà hoàng tộc là trung tâm. Dần dần chính trường không còn được ổn định và cuối cùng, nó trở thành sân khấu cho một cuộc tranh giành quyền bính xấu xa. Đặc biệt những gì đã xảy ra dưới thời Thiên Hoàng Shômu trị vì kể từ khi ông tức vị vào đầu niên hiệu Jinki (724-729)[1] mà chúng ta sẽ khai triển sau đây. Lúc ấy, mức độ hỗn loạn trên chính trường đã lên tới cực điểm. Những cuộc tranh chấp nhiều vô kể, không thể trình bày hết. Chỉ đưa ra vài sự kiện quan trọng nhất để hiểu vấn đề.   

7.2: Hỗn loạn trên chính trường:

Năm 647 (Taika 3), người có công hàng đầu trong chính biến mở đầu cuộc cải cách niên hiệu Taika là Nakatomi no Kamatari được triều đình ban họ Fujiwara cùng với chức Taishokkan (có nơi đọc Taishokukan, Đại Chức Quan), một danh hiệu đứng trùm lên hết 16 bậc quan và chỉ dùng để cấp cho mỗi một mình Kamatari. Cho nên Taishokkan đã trở thành cái tên người ta dùng để nói về ông.

Từ đó, con trai Kamatari là Fuhito (659-720) cũng như cháu chắt ông đều mang họ Fujiwara. Dòng họ này đã ra sức củng cố và phát triển nhà nước luật lệnh, đồng thời tìm cách tiếp cận hoàng gia để bành trướng thế lực cho vây cánh. Cụ thể là Fuhito đã đưa con gái mình là Miyako (Cung tử) vào làm vương phi cho Thiên hoàng Monmu và hạ sinh người nối ngôi ông tức Thiên hoàng Shômu.

Sau khi Fuhito chết rồi, bốn người con trai ông thừa kế sự nghiệp và trở thành thế lực khuynh đão chính trường. Được mệnh danh “Fujiwara tứ tử” là bốn người lãnh đạo 4 bunke (phân gia, chi nhánh) sau đây: Muchimaro (cầm đầu Nanke tức Nam gia), Fusasaki (Hokke tức Bắc gia), Umakai (Shikike tức Thức gia) và Maro (Kyôke tức Kinh gia)[2].

Lại nữa, vợ Fuhito là bà Agata Inukai no Michiyo từng giữ chức nữ quan trong hậu cung và rất có thế lực. Con gái của hai người là Kômyôshi (Quang Minh tử) lại trở thành hoàng hậu của Thiên hoàng Shômu. Đây là một biến cố vượt khỏi khuôn phép hoàng tộc. Vì việc này mà trong hoàng tộc xảy ra nhiều vấn đề.

Việc lập bà Kômyôshi, một người xuất thân từ gia đình thần dân làm hoàng hậu, phá vỡ tập quán cho rằng hoàng hậu phải là người trong hoàng tộc. Thế nhưng xưa kia sao lại có tập quán đó? Bởi vì hoàng hậu là người trên nguyên tắc sẽ tạm thời chấp chính khi thiên hoàng vừa mới thăng hà, có khi lại lên nối ngôi luôn.Đó là sự khác nhau giữa hoàng hậu (kôgô, chính thất) và hậu (kisaki, trắc thất). Thế nhưng tập quán lâu đời của triều đình cũng không ngăn chặn nổi thế lực nhà Fujiwara. Hoàng tộc phản đối kịch liệt, Chức Tả Đại Thần là Hoàng thân Nagaya vì có ý định lật đổ cánh Fujiwara nên đã bị Muchimaro đem quân bao vây nhà và dồn đến bước đường cùng, phải tự sát.Sự kiện nói trên theo sử chép là cuộc biến loạn của Hoàng thân Nagaya (Nagayaô no hen, 729, năm Tenpyô nguyên niên). Kết quả là bà Kômyôshi, con của nhân thần (jinshin) tức là bầy tôi mà lại được leo lên tới địa vị tối cao là hoàng hậu. Bà là người có lòng tin sâu sắc vào Phật giáo nên chỉ một năm sau khi trở thành Kômyô Kôgô (Quang Minh Hoàng Hậu), bà đã lập viện Hiden-in (730) làm nơi cứu trợ người bần cùng và cô nhi trong xã hội cũng như mở Seyaku-in, cơ sở cấp thuốc men và chữa trị cho họ.  

Thật ra, lúc đó nơi hang cùng ngỏ hẻm, dịch đậu mùa đang hoành hành. Người trong vòng thân tộc của hoàng hậu cũng không thoát cảnh khổ đó. Bốn ông con trai nhà Fujiwara đều vì bệnh ấy mà nối tiếp nhau qua đời. Thế lực của tập đoàn Fujiwara nhân vậy thành ra suy yếu. Cánh thiên hoàng nhờ đó vùng lên trấn áp được họ. Điều đó đã được chứng tỏ qua việc nhà quí tộc Tachibana no Moroe được thăng Tả đại thần vào nâm 738 (Tenpyô 10) và gom lại hết quyền lực nhà nước trong tay mình.

Tại sao lại gọi cánh Tachibana là hoàng tộc? Nhất là khi hoàng tộc không hề có tên họ. Thực ra, Tachibana là cái họ mà gia đình bà Agata Inukai no Michiko (vợ Fuhito) được triều đình ban cho.Bà trước đã kết hôn với một người trong hoàng tộc là Hoàng tử Mino và sinh được một con trai cũng là hoàng tử, Katsuragi. Đến năm 736 (Tenpyô 8) thì Hoàng tử Katsuragi được lệnh trở thành dân (chế độ gọi là shinseki kôka, thần tịch giáng hạ) nghĩa là không còn là người thuộc hoàng tộc nữa (có thể vì mẹ ông tục huyền với Fuhito). Ông lấy họ Tachibana của mẹ và đổi tên thành Tachibana no Moroe (như vậy ông là anh cùng mẹ khác cha với Hoàng hậu Kômyô).

Trong thời gian này, cố vấn chính trị cho đại thần Moroe là hai cựu du học sinh từng qua bên nhà Đường: tăng Genbô ( ? - 746)[3] và nhà quí tộc Kibi no Mabiki (695-775).[4] Hai ông cũng được sự tín nhiệm của Thiên Hoàng Shômu và đã truyền đạt lại cho những người trong nước những kinh nghiệm học hỏi được trong thời gian theo phái bộ Kentôshi của mình. Một sự kiện khác đáng chú ý lúc đó là nhân nạn đói và dịch lệ làm cho xã hội mất yên ổn, ở Kyuushuu có những người cho rằng thời cơ đã đến nên nổi lên chống phá chính quyền Moroe.  

Đó là việc xảy ra vào năm 740 (Tenpyô 12) khi con trai Fujiwara no Umakai thuộc chi Shikike đang làm chức phó tướng ở phủ Dazai tên là Fujiwara no Hỉrotsugu (Đằng Nguyên Quảng Tự) mưu việc lật đổ Moroe, đuổi cặp bài trùng Genbô-Kibi no Makibi và phục hồi quyền lực cho gia đình Fujiwara.Ông ta họp được hơn một vạn người gồm hào tộc và nông dân trên đảo và nổi dậy nhưng liền bị tướng của triều đình gửi ra là Ono no Azumahito dẹp được. Tuy loạn bên ngoài đã yên nhưng trong triều đình, tranh chấp vẫn kéo dài và Thiên hoàng Shômu chưa hết được mối lo.

Đứng trước hoàn cảnh đó, Thiên hoàng Shômu không biết cách gì hơn là mỗi lần có biến lại thiên đô. Chỉ trong vòng có vài năm mà ông đã chuyển kinh đô từ cung Kuni sang cung Naniwa rồi cung Shigaraki, cuối cùng trở về kinh đô cũ Heijô...nhưng việc đó  chỉ gây ra sự hao tốn sức lực và tiền của mà không giải quyết được gì.

Cũng vì tình thế xấu đi như vậy mà con người sùng đạo như Thiên hoàng Shômu đã phải bắt đầu tìm cách dựa vào triết lý Phật giáo hộ quốc để trấn an mọi người, từ giới chính trị đến thường dân. Do đó, năm 741 (Tenpyô 13), ông hạ chiếu lập những ngôi chùa ở mỗi địa phương gọi là Kokubunji (chiếu ấy tên là Kokubunji Konryuu no Mikotonori). Lúc ấy, kinh đô Nhật Bản đang nằm ở cung Kuni.

Theo chiếu chỉ, khắp nước Nhật người ta cho xây dựng những chùa địa phương (kokubunji) và chùa sư nữ địa phương (kokubun niji). Tên chính thức của nó rắc rối hơn nhiều: Konkômyô shitennô gokoku no tera (Kim quang minh tứ thiên vương hộ quốc tự) và Hokke mezzai no tera (Pháp hoa diệt tội tự). Chú ý hai chữ “hộ quốc” và “diệt tội”. Nhà sư hoạt động mạnh mẽ dưới thời ấy là tăng Gyôki (Hành Cơ)[5]. Ông đã góp công lớn trong việc huy động nhân lực và tài vật để dựng pho tượng Phật khổng lồ gọi là Đại Phật (Daibutsu).

          

                       

                                                                                             Đại Phật ở Nara

 

Năm 743 (Tenpyô15), từ cung Shigaraki ở Ômi, Thiên hoàng Shômu đã giáng chiếu dựng tượng Phật khổng lồ (Daibutsu Zôryuu no Mikotonori) bằng hợp kim đồng (đồng dát vàng) tục gọi là tượng Rushanabutsu (Lô Xá Na Phật)[6]. Thế rồi, khi thiên hoàng trở về kinh đô cũ Heijô thì công sự dựng tượng cũng dời về chùa Tôdaiji (Đông Đại Tự) ở Nara.Năm 752 (Tenpyô shôhô 4), vào thời người 4 năm trước đó đã lên kế vị Shômu là nữ Thiên Hoàng Kôken (Hiếu Khiêm), lễ khánh thành (khai nhãn cúng dường) của tượng đã được cữ hành trọng thể (với sự có mặt của các danh tăng Trung Quốc và Phật Triết[7], một nhà sư đến từ Việt Nam (lúc đó là phần đất Chiêm Thành).

Một năm trước đó tức năm 751, đã xuất hiện tập thơ chữ Hán nhan đề Kaifuusô (Hoài phong tảo) đại ý có nghĩa là “Những áng thơ đẹp”, tập thơ tối cổ còn giữ được, thu thập những vần Hán thi đẹp nhất do người Nhật viết sau khi nhận ảnh hưởng của thơ Trung Quốc từ đời Lục Triều cho đến đời Đường. Những người biên tập nó đều là thi nhân xuất sắc thời đó như Ômi no Mifune, Isonokami no Yakatsugu. Chính Isonokami là người đã dùng nhà cũ của mình để dựng nên Untei (Vân đình), cơ sở được xem như thư viện đầu tiên của Nhật Bản. Thiên hoàng Shômu cũng đã cho mời từ Trung Quốc những danh tăng sang dạy giới luật. Sau khi trải qua muôn ngàn cực khổ, có một nhà sư mù đã đặt chân đến Nhật Bản. Người đó là Ganjin (Giám Chân).[8]

 

                   

                    

                     Hòa thượng luật tông Giám Chân (Ganjin)

 

Chùa Tô Shôdaiji[9], nơi người Nhật dựng lên cho ông tu là tổng bản sơn của Luật Tông (Rishuu). Nôi đây có đặt môn pho tượng của Ganjin làm bằng lõi gỗ đắp đất, phủ lên một lớp bố bằng tơ gai và thếp son theo kỹ thuật kanshitsuzô (can tất tượng hay tượng sơn khô) của Trung Quốc. Về kiến trúc chùa này thì tiêu biểu nhất là tòa kim đường (nơi đặt các pho tượng Phật) và giảng đường (nơi giảng kinh) của nó.       

7.3 Nhân vật đương thời: Từ Nakamaro đến tăng Dôkyô:

Sau khi Thiên hoàng Shômu thoái vị, ngôi báu về tay Nữ thiên hoàng Kôken (Hiếu Khiêm, 718-770) con gái thứ hai của ông. Tuy công chúa lên nối ngôi như nhưng thực quyền vẫn nằm trong tay mẹ là Hoàng thái hậu Kômyô (tức bà Fujiwara Kômyôko) và người cháu trai của bà ta là Fujiwara no Nakamaro (con trai Muchimaro thuộc Nanke). Đà thăng tiến của Nakamaro dẫn đến sự suy thoái của cánh nhà Tachibana no Moroe. Phải nói là người cháu trai này được Hoàng thái hậu hết sức tín cẩn vì bà đã bổ nhiệm ông vào chức trưởng quan của Shibi chuudai (Tử vi trung đài) một nha sở mới được hai bác cháu đặt ra để lo về những việc kề cận thiết thân của Hoàng thái hậu

Thấy Nakamaro nắm được quyền cao, con trai Tachibana no Moroe là Naramaro sinh ra bất mãn. Sau khi Moroe lui về ẩn dật (năm 756) rồi qua đồi vào năm sau đó thì Naramaro mới tụ tập tất cả các thành phần hào tộc chống đối như họ Otomo, họ Saeki, họ Tajii làm một cuộc đảo chánh mưu trừ cánh Nakamaro. Thế nhưng âm mưu bị kẻ khác mật báo nên bất thành. Naramaro bị bắt giam rồi chết trong ngục.

Sau khi trừ khử xong Naramaro, Nakamaro được Thiên hoàng Junna (con trai thứ 7 hoàng thân Toneri và do Nakamaro lập lên sau khi Kôken nhượng vị) ban cho tên mới là Emi no Oshikatsu. Ông mặc tình thao túng chính trường. Thế nhưng từ khi có một tăng sĩ tên Dôkyô (Đạo Kính) - người được Thái thượng hoàng Kôken tín nhiệm - xuất hiện thì giữa Emi và Dôkyô có một quan hệ đối lập. Năm 764 (Tenpyô Hôji 8), Emi Oshikatsu bèn cử binh mưu phản nhưng bị đánh dẹp và chết. Sử chép đó là cuộc loạn Emi Oshikatsu.   

Sau đó, Thái thượng hoàng Kôken lại “trùng tộ” nghĩa là lên ngôi thêm một lần nữa. Đó là Nữ thiên hoàng Shôtoku (Xứng Đức). Dôkyô được đặt vào một chức vụ đặc biệt tên là Daijôdaijin Zenshi (Thái chính đại thần thiền sư), có quyền lực của một vị tể tướng kiêm giáo chủ (Hôô = pháp vương). Lúc đó, Nữ thiên hoàng lấy cớ là có lời của thần ở đền Usa Hachiman Jinguu thác lời mà mưu tính đưa cả Dôkyô lên ngôi Thiên hoàng.Đó là một việc hi hữu, trong ngoài đều khó chấp nhận. Sau may nhờ có nhóm các đại thần như Wake no Kiyomaro hiệp lực ngăn cản cho nên ước vọng phi lý đó mới không thành. Dù sao, từ trước cho đến lúc đó và từ đó trở về sau, không có tăng nhân nào có thể đạt được tối địa vị của Dôkyô.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, cuộc tranh chấp chung quanh chiếc ngai vàng vẫn tiếp tục xảy ra trong vòng hoàng tộc và quí tộc.Thêm vào đó những công trình xây dựng tu tạo cung điện và tự viện đã làm cho công quỉ thâm thụt gây nên tình trạng bất ổn. Vì lý do đó, nhóm quí tộc có thế lực là họ Fujiwara – sau khi Nữ thiên hoàng Shôtoku chết đi và tăng Dôkyô bị đuổi về chùa Yakushiji ở Shimotsuke no kuni (tức vùng Tochigi gần Tôkyô bây giờ) – mới lập người cháu (gọi bằng ông nội) [10]của Thiên hoàng Tenji lên ngôi nhằm lập lại thể chế nhà nước luật lệnh. Tân thiên hoàng hiệu là Kônin (Quang Nhân). Sự thay bậc đổi ngôi này là một dịp may vì nó đưa đến sự ổn định chính trị để cho một nền văn hóa mới mang tên là văn hóa (niên hiệu) Tenpyô , có thể ra đời.  

Nhìn chung, ảnh hưởng của Phật giáo rất quan trọng đối với xã hội Nhật Bản thời cổ.  Hầu như mỗi nền văn hóa trong giai đoạn này đều đi song đôi với việc xây dựng một ngôi chùa nổi tiếng. Trong trường hợp này, ngôi chùa ấy là Tôdaiji (Đông Đại Tự) vậy.

         Tứ thiên vương hộ quốc chùa Tôdaiji tượng trưng cho phong cách điêu khắc Tenpyô

1 Trì Quốc Vương, 2 Tăng Trưởng Vương 3 Quảng Mục Vương 4 Đa Văn Vương

Nếu nói đến Tôdaiji của văn hóa Tenpyô tức là nói đến sự tồn tại của nó như trung tâm Phật giáo (tổng bản sơn) tông Kegon (Hoa Nghiêm). Nó còn có vai trò sôkokubunji (tổng quốc phân tự) tức ngôi chùa vai vế cao nhất trong hệ thống kokubunji (chùa nhà nước ở địa phương) trên toàn quốc. Ngoài ra, vào thời điểm này, ngoài tông Kegon ra, còn có các tông phái khác như Sanron (Tam Luận), Jôjitsu (Thành Thực), Hossô (Pháp Tướng), Kusha (Câu Xá), Ritsu (Luật) nữa.Sáu tông phái này (gọi là Nam đô lục tông) là những học phái đã ra đời qua quá trình nghiên cứu giáo lý.

 Nam đô lục tông là gì?

Nam đô nghĩa là đô thành ở phiá nam, ám chỉ Heijoukyô tức Nara.Lục tông nghĩa là 6 học phái Phật giáo. Tam luận tông khai triển giáo lý từ trong ba bộ kinh luận (trung luận, bách luận và thập nhị môn luận). Họ chủ trương thế giới này chỉ nằm trong một chữ “không” mà thôi. Thành thực tông thuyết rằng phải ngộ rằng tất cả mọi sự ở đời chỉ là hư không. Họ là một chi phái của Tam luận và truyền vào đất Nhật cùng một thời. Pháp tướng tông phát triển lý luận cho biết tất cả môi việc trên đời đều đến tự cái tâm của con người, trong khi đó, Câu xá tông bảo con người phải sống sao để được thoát khỏi mọi chấp trước như danh lợi, tiền bạc. Hoa nghiêm tông dựa trên kinh Hoa nghiêm ca tụng sự vĩ đại của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na, người chiếu sáng vũ trụ, vạn vật (giống như Đại Nhật Như Lai của Mật giáo). Cuối cùng, Luật tông thì như tên gọi của nó, đặt trọng tâm vào giới luật (không được giết người, cướp của, rượu chè, nói dối, đam mê sắc dục vv...)..

Trái với điều ta có thể nghĩ là mỗi cảnh chùa ủng hộ một tông phái, Tôdaiji (Đông đại tự) là nơi nghiên cứu một lượt cả 6 tông. Nam đô lục tông (địa bàn Nara) tượng trưng cho tinh thần bảo thủ nếu đem so với Phật giáo tân hưng của Kamakura.

Về mặt văn học, ngoài thơ chữ Hán (Kanshi) vốn là công cụ nằm trong khuôn khổ giáo dục kiến thức cho giới quí tộc, thơ waka cũng được lưu hành rộng rãi. Bằng cớ là thi tuyển Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập) thu thập ước chừng 4.500 bài thơ từ trước đó cho đến thời Nara đã ra đời.Tập thơ được ghi lại dưới dạng văn tự đặc biệt Nhật Bản là man.yôgana (dùng chữ Hán để biểu âm) đã giữ lại dấu vết đời hoạt động và cá tính của các nhà thơ lớn như Yamanoue no Okura, Yamabe no Akahito, Ôtomo no Tabito và Otomo no Yakamochi.

Nói đến giáo dục thì vào thời ấy, nhà nước đã thành lập các cơ sở như Daigaku (Đại học) ở trung ương và Kokugaku (Quốc học) ở các địa phương (koku). Chủ yếu, giáo trình là kinh điển Nho giáo nhưng cũng dạy cả pháp luật, Hán văn, toán số, thư đạo vv...nữa. Để được theo học nơi đây, phải là con em của quí tộc hoặc quan lại địa phương (các gunji). Con nhà thường dân không có quyền tham dự.

Thử tóm tắt và so sánh nét đặc trưng của ba nền văn hóa cổ đại trong vùng Nara

 

Tiết mục

Asuka (Phi Điểu)

Hakuhô (Bạch Phượng)

Tenpyô (Thiên Bình)

Thời kỳ

Tiền bán thế kỷ thứ 7

Hậu bán thế kỷ thứ 7 cho

đến tiền bán thế kỷ thứ 8

Buổi đầu thế kỷ thứ 8 cho đến cuối thế kỷ thứ 8

Khu vực chính

Asuka, Ikaruga (Ban Câu)

Vùng Asuka (kinh đô Fujiwara)

Kinh đô Heijô (Heijôkyô)

Người chủ trì

Hoàng tộc, Thái tử Shôtoku, hào tộc Soga, người nhập cư

Hai thiên hoàng Tenmu, Jitô và hào tộc.

Thiên hoàng Shômu, hoàng hậu Kômyô và quí tộc Fujiwara.

Đặc trưng

  1. Văn hóa đầu tiên có màu sắc Phật giáo.
  2. Ảnh hưởng của Kudara, Kôkuri Trung Quốc thời Nam Bắc Triều.
  3. Có điểm chung với Tây Á, Ấn Độ và Hy Lạp
  1. Văn hoá trẻ trung tràn đầy sinh khí của nước luật lệnh.
  2. Ảnh hưởng nhà Đường qua trung gian Kudara.
  3. Văn hóa Phật giáo là nền tảng.
  1. Văn hóa quí tộc cao cấp  của vùng Heijôkyô.
  2. Văn hoá in đậm màu sắc Thịnh Đường và tính quốc tế.
  3. Văn hóa Phật giáo với tư tưởng trấn hộ quốc gia (Nam đô lục tông = 6 giáo phái vùng kinh đô)

Kiến trúc

Kim đường chùa Hôryuuji, tháp năm tầng, trung môn, hành lang vòng (hồi lang)

Chùa Yakushiji (hoàn thành 698)

Đông tháp Yakushiji (730)

Daianji (745)

Yumedono của Hôryuuji, Tô Shôdaiji (Đường chiêu đề tự), Pháp hoa đường của Tôdaiji, kho tàng Shôsôin (Chính thương viện)

Điêu khắc

Tượng kim đồng Thích Ca tam tôn, tượng gỗ Quan Thế Âm kiểu Kudara,  tượng gỗ Quan Tế Âm ở điện Yumedono, tất cả thuộc Hôryuuji. Tượng gỗ bán già tư duy ở Chuuguji và Kôryuuji

Tượng kim đồng A Di Đà  tam tôn, tượng Quan Âm ở điện Yumedono chùa Hôryuuji, đầu Phật chùa Kfukuji. Tượng kim đồng Dược sư tam tôn chùa Yakushiji. Tượnh kim đồng Thánh Quan Âm của Đông viện đường Yakushiji.

Các tượng sơn khô (kiểu kanshitsu) chùa Kôfukuji, Pháp hoa đường chùa Todaiji, tượng tăng Giám Chân chùa Tô Shôtaiji.

Các tượng Tứ thiên vương (kiểu sôzô = tượng đất đắp lên lõi gỗ) chùa Tôdaiji và chùa Yakushiji mới.

Hội họa

Tranh trên khám thờ ở Hôryuuji

Bích họa kim đường Hôryuuji

Bích họa cổ mộ Takamatsuzuka

Tượng tiên nữ Kichijô ở  chùa Yakushiji.

Bình phong vẽ hình phụ nữ áo lông chim ở Shôsôin.

Kinh Nhân Quả có tranh các vị Phật quá khứ, hiện tại.

Công nghệ

Gấm hoa văn sư tử ở Hôryuuji và màn thêu ở Chuuguuji

 

Đàn tì bà cẩn xa cừ, bình và lò hương ở Shôsôin.

Đèn lồng bát giác ở Tôdaiji.

Sử sách, đia lý chí, văn học

 

 

Sử: Kojiki (Cổ Sự Ký), , Nihonshoki (Nhật Bản thư kỷ). Địa : Fudoki (Phong thở ký các vùng). Văn: Kaifusô (Hoài phong tảo) Man.yôshuu (Vạn Diệp Tập)

 


[1] Năm Thần Qui, đổi niên hiệu từ Yôrô sang sau khi bắt được một con rùa trắng (bạch qui) và cho đó là điềm lành.

[2] Về lý do tên của các chi nhánh thì Nam gia của trưởng nam Muchimaro có dinh thự nằm ở phía nam đối diện Bắc gia của em trai ông là Fusasaki. Còn Shikikei là vì người cầm đầu làm quan cao bộ Lễ (Shikibu) và Kyôke vì người cầm đầu làm quan khanh trông coi Tả Kinh (Sakyô, khu vực phía tả của kinh đô). 

[3] Tăng lữ tông Pháp Tướng, sang nhà Đường từ năm 717 đến năm 735. Có tài chửa bệnh và trừ tai cầu phúc nên được trọng dụng. Là lý do đưa đến cuộc nổi loạn của Hỉrotsugu. Sau loạn đó, bị tá thiên xuống chùa Quan Âm ở Tsukushi trên đảo Kyuushuu.

[4] Văn quan và văn nhân. Qua nhà Đường từ 717 đến 735.Đem về nhiều sach vở. Sau cũng bị tá thiên xuống Kyuushuu. Để lại nhiều sách về luật lệ.

[5] Gyôki (Hành Cơ, 668-749) người vùng Kawachi, là nhà sư hay vân du để giáo hóa dân chúng, xây dựng cầu đường và thiết bị thủy lợi. Lúc đầu bị bắt bớ vì vi phạm qui luật tăng ni do tự tiện  nhúng tay làm công tác xã hội nhưng sau được triều đình hiểu cho và tôn vinh.

[6] Còn gọi là Biruhanabutsu (Tì Lô Già Na Phật), phiên âm chữ Phạn trong kinh Hoa Nghiêm.

[7] Tương truyền ông đã dạy những vũ khúc Chiêm Thành mà ngày nay người ta vẫn còn diễn trong các buổi lễ.

[8] Tăng Ganjin (688-763), người Dương Châu (tỉnh Giang Tô), đã được mời sang dạy cho người Nhật giới luật Phật giáo.Chịu đựng sóng gió và cảnh mù lòa, ông cất công đến được nước Nhật. Thiên hoàng Shômu rất kính trọng nên qui y với ông và lập chùa Tô Shôdaiji để ông tu. Còn được gọi là Quá hải đại sư, Đường đại hòa thượng.

[9] Shôdai (chiêu đề) dịch từ âm tiếng Phạn caturdisa có nghĩa là “tăng vân du bốn phương” những cũng để chỉ “tu viện”.

[10] Ông vốn tên là Hoàng tử Shirakabe (Bạch Bích), con trai thứ 6 của Hoàng tử Shiki thuộc dòng Tenji. Cho đến lúc đó, cánh nhà em là Tenmu đã giữ ngôi báu từ sau cuộc loạn năm Nhâm Thân (672) khi loại bỏ được Thiên hoàng Kôbun , con trai Tenji..