Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 - 1946)[Phần I]

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành quốc gia lớn mạnh nhất hành tinh, là nước duy nhất sở hữu vũ khí hạt nhân tại thời điểm đó và là một trong những nước có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an của Liên Hợp Quốc. Trong điều kiện bàn cờ thế giới về bản chất là cuộc chơi giữa các nước lớn, thì với ngần ấy ưu thế, Mỹ không chỉ sở hữu tiếng nói trọng lượng trong giải quyết nhiều vấn đề quốc tế, mà nhiều diễn biến quốc tế sẽ vận động theo quan điểm, lập trường của Mỹ cũng như theo xu hướng mà Mỹ mong muốn.

 Hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, một câu chuyện có tính thời sự nóng bỏng, được nhiều nước quan tâm là về giải thuộc địa và phi thực dân hóa. Thái độ, chính sách của Mỹ về vấn đề này có ảnh hưởng quan trọng đối với ý định, kế hoạch khôi phục quyền cai trị các thuộc địa của nhiều nước, trong đó có sự quay lại Đông Dương (và Việt Nam) của người Pháp.
I.
Vào cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ là nước sở hữu số lượng và diện tích thuộc địa vào loại ít nhất thế giới trong so sánh với nhiều nước đế quốc khác, nhất là với Anh và Pháp. Người dân Mỹ chỉ trích mạnh mẽ các cường quốc châu Âu đang áp đặt chủ nghĩa thực dân lên các nước thuộc địa ở khắp nơi trên thế giới.
Ở Đông Nam Á, Mỹ có thuộc địa duy nhất là Philippines, nơi Mỹ thiết lập quyền thống trị từ năm 1902; tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó, Mỹ đã không coi đây là “ách thống trị thực dân”, mà gọi đó là chế độ "bảo hộ nhân từ" trên cơ sở chính phủ tự trị bản xứ có hiến pháp và quốc hội riêng. Mỹ tuyên bố bằng con đường đó sẽ từng bước giúp nhân dân Philippines thực hiện tự trị, tự quản. Tháng 3-1934, Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Tydings-McDuffie, quy định sẽ thành lập một nước Philippines thịnh vượng chung (Commonwealth of the Philippines) vào năm 1936. Nhà nước Philippines thịnh vượng chung sẽ tồn tại trong vòng 10 năm và là hình thức nhà nước quá độ để tiến tới một nước Philippines độc lập vào năm 1946. Trong 10 năm quá độ (1936-1946), chế độ tự trị vẫn được duy trì ở Philippines và quyền lợi của Mỹ vẫn được đảm bảo.
Sau thất bại của Mỹ tại Trân Châu Cảng (12-1941) quân đội Nhật Bản tấn công và đánh chiếm Philippines, Manila rơi vào tay Nhật (2-1942). Một Ủy ban điều hành đất nước được thành lập từ hơn 30 thành viên của giới tinh hoa chính trị Philippines thân Nhật. Phối hợp với lực lượng quân sự Nhật Bản tại Manila, Ủy ban này cai quản Philippines và tồn tại đến tháng 9-1943, khi nó được thay thế bằng sự ra đời của nước Cộng hòa Philippines độc lập (Đệ nhị Cộng hòa Philippines) với Tổng thống là José Laurel (được lựa chọn bởi người Nhật). Người Nhật đã trao trả độc lập cho Philippines trong nỗ lực tuyên truyền về chủ nghĩa Liên Á.
Cuối năm 1944, Nhật Bản bị đánh bại, quân đội Mỹ chiếm lại Philippines và đến năm 1946 đã trao trả độc lập cho quần đảo này. Cuối cùng, giấc mơ độc lập của nhân dân Philippines đã trở thành hiện thực.
Từ trường hợp Philippines, mô hình "bảo hộ nhân từ" được Mỹ coi là khuôn mẫu trong giải quyết các vấn đề liên quan đến thuộc địa sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó cũng là một trong những cơ sở để Mỹ đề xuất chế độ ủy trị quốc tế đối với các thuộc địa cũ của các nước đế quốc. Vào năm 1941, khi Chiến tranh thế giới thứ hai còn đang diễn ra hết sức khốc liệt, Mỹ đã cam kết thực hiện nguyên tắc về quyền tự quyết của các dân tộc thông qua việc cùng với Anh ra Tuyên bố chung Đại Tây Dương. Điều 3 của bản Tuyên bố nêu rõ rằng hai nước này “tôn trọng quyền lựa chọn chính thể mình muốn của các dân tộc, ước mong thấy chủ quyền và chính phủ tự trị của các nước trước kia bị các nước khác dùng sức mạnh tước mất quyền đó được lập lại”[1]. Một năm sau đó (năm 1942), những nội dung này một lần nữa được xác nhận và nhấn mạnh lại trong dịp 26 quốc gia thông qua Hiến chương Đại Tây Dương. Tháng 6-1945, Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký kết và trong phần Tuyên ngôn về những lãnh thổ không tự trị đã yêu cầu các quốc gia thành viên có trách nhiệm hoặc đảm đương trách nhiệm “quản trị những lãnh thổ mà nhân dân chưa hoàn toàn tự quản trị được, thừa nhận nguyên tắc đặt quyền lợi của nhân dân các lãnh thổ lên hàng đầu”[2], nhằm giúp các lãnh thổ đó được phồn vinh trong khuôn khổ của hệ thống hoà bình và an ninh quốc tế do Hiến chương định ra.
Qua những diễn biến nói trên, có thể kết luận rằng, trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, về mặt lý thuyết, đã xuất hiện những điều kiện, những cơ hội cũng như khả năng cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực tiễn lại là câu chuyện khác –đó là cả một quãng đường dài, nhiều chông gai và hết sức gian nan.
II.
Trước Chiến tranh thế giới hai, “như hầu hết người Mỹ, Franklin D. Roosevelt ít quan tâm hoặc biết đến Đông Dương thuộc Pháp”[3]. Thật vậy, Việt Nam cũng như các thuộc địa của Pháp ở Đông Dương nằm ở ngoại vi quan hệ đối ngoại của Mỹ. Theo Dixee Bartholomew-Feis, nước Mỹ và F.D.Roosevelt luôn dành mối quan tâm hàng đầu cho châu Âu và khu vực Mỹ Latinh kề cận[4]. Những chú ý đầu tiên của chính quyền F.D.Roosevelt đến tình hình Đông Dương liên quan tới sự kiện Pháp - Nhật tranh chấp quần đảo Hoàng Sa (1939), dù thái độ lúc đó của Mỹ là ôn hòa và trung lập. Cùng với sự kiện này, Đông Dương thuộc Pháp đã chiếm một vị trí nhất định trong tiềm thức của Tổng thống và nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ nhưng chỉ với tư cách là “một khu vực địa lý không thể phủ nhận dưới sự kiểm soát của Pháp và có ý nghĩa quan trọng đối với chính phủ Tưởng Giới Thạch, chứ không phải như một vùng đất của người bản xứ với những quyền và khát vọng của riêng mình"[5].
Vấn đề Đông Dương trở nên đậm nét hơn trong nhận thức của Mỹ, quan trọng thứ hai chỉ sau vấn đề Trung Hoa Dân Quốc khi Pháp đầu hàng Đức (1940) dẫn đến khả năng Đông Dương có thể rơi vào tay một thành viên phe Trục là Nhật Bản, nhất là khi nước Nhật ngày càng lấn tới, đưa thêm yêu sách về chia sẻ quyền lực tại khu vực này và không ngừng gia tăng sức ép lên Chính phủ Vichy. Hơn thế, Nhật Bản đã trở nên nguy hiểm hơn đối với Hoa Kỳ khi ký Hiệp ước ba bên với Đức và Ý (9-1940); qua đó liên kết những cuộc xung đột ở châu Âu và châu Á không chỉ chống Liên Xô mà còn nhằm cả vào Mỹ. Trước nguy cơ bành trướng sức mạnh của Nhật ở Đông Dương, Mỹ yêu cầu “chính phủ Nhật phải ngừng mọi hành động chiếm đóng Đông Dương bằng quân đội và hải quân, hoặc ngừng ngay những khởi sự đang bắt đầu”[6]. Mỹ cũng đề nghị Nhật Bản cùng cam kết “coi Đông Dương là một quốc gia trung lập cùng một cách thức như nước Thụy Sĩ mà các cường quốc đã công nhận là quốc gia trung lập”[7]; đồng thời, hứa nếu Nhật Bản tuân thủ những điều kiện đó, sẽ đảm bảo cho Nhật Bản quyền lợi được cung cấp nguyên liệu từ Đông Dương trên cơ sở cân bằng với các nước khác. Trước khi sự kiện Trân Châu Cảng nổ ra, Hoa Kỳ thậm chí vẫn còn xúc tiến và hy vọng ký được một Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau với Nhật. Tuy nhiên, không chấp nhận chia sẻ quyền lợi, Tokyo đã quay lưng lại với hầu hết những đề nghị của Washington, tiếp tục xúc tiến kế hoạch bành trướng toàn Đông Nam Á. Đáp trả, Hoa Kỳ sử dụng biện pháp trừng phạt kinh tế, đánh mạnh vào nền sản xuất công nghiệp quốc phòng của Nhật, kiềm chế sức mạnh quân sự của quốc gia này (thực hiện lệnh cấm vận dầu mỏ, sắt, thép vụn, đóng băng mọi tài sản của Nhật tại Mỹ[8]). Phản ứng của Washington trước việc Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương quyết liệt hơn so với dự kiến ​​của Tokyo; tuy nhiên, các lệnh cấm vận của Mỹ chẳng những không ngăn được quyết tâm giành lấy Đông Dương của Nhật, mà trái lại, còn khiêu khích và đẩy nước này vào những hành động chiến tranh quyết đoán hơn - cái vòng luẩn quẩn đó cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn quan hệ Mỹ-Nhật sau sự kiện Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng (12-1941).
Chiến tranh với Nhật Bản (chiến tranh Thái Bình Dương) củng cố thêm tầm quan trọng địa chính trị của Việt Nam đối với Mỹ. Mỹ nhận thức Việt Nam từ vị trí bàn đạp để Nhật Bản tấn công Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, Trung Quốc; đồng thời, coi việc chiếm Đông Dương của Nhật như là một bước tiếp theo quan trọng hơn nhằm nắm quyền kiểm soát vùng biển phía Nam, bao gồm các con đường thương mại hết sức quan trọng đối với Hoa Kỳ và nhằm kiểm soát các sản phẩm chiến lược đối với phát triển kinh tế như cao su, thiếc, dầu mỏ…. Khi chiến tranh Thái Bình Dương vừa bùng nổ, trong các cuộc thảo luận với mật độ tương đối dày đặc giữa đại diện Mỹ Peter Marshall với đại diện chính phủ Pháp, vấn đề Đông Dương đã liên tục được nhắc tới và Washington bày tỏ sự quan tâm đến việc Pháp bảo tồn các vùng lãnh thổ ở ngoài (các thuộc địa của Pháp), yêu cầu Pháp tiến hành chiến tranh chống lại các cuộc xâm lược của những nước thuộc khối Trục tại các khu vực đó. Washington cam kết: “Mọi cuộc chiến đấu của chính quyền Pháp chống phát xít ở bất kỳ vùng thuộc địa nào cũng sẽ nhận được sự ủng hộ không chỉ về tinh thần mà còn cả sự hỗ trợ vật chất từ chính phủ Mỹ”[9]. 
Có thể thấy rằng, sự quan tâm của Mỹ đối với quyền cai trị thuộc địa của Pháp xuất phát từ yêu cầu đảm bảo thắng lợi của phe Đồng minh trước khối Trục, được giới hạn chủ yếu trong phạm vi bảo vệ những vùng đất này khỏi sự chiếm đoạt của các nước phát xít, chứ chưa hẳn là sự thừa nhận hoặc đồng ý với việc Pháp tiếp tục thống trị những lãnh thổ này khi chiến tranh kết thúc. Vì lẽ đó, vào tháng 1-1943, trong cuộc họp Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, Tổng thống F.D.Roosevelt tuyên bố rằng ông "đã rất hồ nghi về việc khôi phục chế độ thực dân của Pháp ở Đông Dương"[10]. Tại Hội nghị Casablanca (10-1943), Hội nghị Tehran (11-1943) và Hội nghị Cairo (11-1943), vấn đề số phận thuộc địa của Pháp tiếp tục được đặt ra. Đặc biệt, ở Hội nghị Cairo, F.D.Roosevelt đã đề xuất áp dụng tại Đông Dương chế độ quản thác quốc tế và đã tìm được tiếng nói chung với Tưởng Giới Thạch về vấn đề độc lập của Đông Dương sau khi chiến tranh kết thúc[11]. Chế độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương được F.D.Roosevelt nhắc lại một lần nữa trong buổi thảo luận với các đại diện của Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và sau đó là trong Hội nghị Tehran. Thông báo cho I.V.Stalin về quan điểm của Churchill- người ủng hộ việc khôi phục quyền kiểm soát của Pháp đối với các thuộc địa, F.D.Roosevelt lưu ý: “Sau 100 năm thống trị của Pháp ở Đông Dương, người dân nơi đây có cuộc sống ngày càng tồi tệ hơn trước”[12].
Trong hai năm 1943-1944, vấn đề Đông Dương được F.D.Roosevelt nhiều lần đề cập đến. Thảo luận về những vấn đề hậu chiến với Ngoại trưởng Anh Anthony Eden (3-1943) hay trong tiếp xúc với Đại sứ Anh Halifax tại Washington (1-1944), F.D.Roosevelt luôn nhắc đến kế hoạch ủy trị đối với Đông Dương và phê phán chính sách thuộc địa của Pháp: “Người Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm, các dân tộc Đông Dương đáng được hưởng một cái gì đó tốt hơn thế"[13]; đề nghị thay vào việc trao trả Đông Dương lại cho Pháp thì nên đặt Đông Dương dưới sự ủy trị quốc tế và chuẩn bị cho nền độc lập của Đông Dương sau này. Tại Hội nghị Yalta (2-1945), F.D.Roosevelt tiếp tục nhấn mạnh rằng, dưới sự cai trị của người Pháp "Đông Dương đã không đạt được bất kỳ tiến bộ nào"; do đó, chế độ quản thác quốc tế là một sự lựa chọn thích hợp[14] và quan điểm này của Mỹ nhận được sự tán thành của Liên Xô- sự ủng hộ này là rất quan trọng, nó làm tăng khả năng hiện thực hóa quan điểm này trong thực tiễn.
Sáng kiến thiết lập chế độ ủy trị quốc tế đối với Đông Dương của F.D.Roosevelt vấp phải sự phản ứng quyết liệt của Anh (quốc gia sở hữu chuỗi thuộc địa lớn nhất toàn cầu) và một số quan chức Mỹ. Sự phản đối này lớn dần lên khi cuộc chiến chống lại Nhật Bản ngày càng cần huy động nhiều nhân lực, vật lực trong khi Pháp có thể đáp ứng phần nào yêu cầu này. Bên cạnh đó, Ủy ban An ninh quốc gia Mỹ cũng cho rằng, việc Pháp khôi phục chế độ thuộc địa “góp phần làm nó trở nên lớn mạnh hơn và đó là một đối trọng tốt trước nước Nga cộng sản, có lợi cho chính sách hậu chiến của Washington trong thế đối đầu với Moscow”[15]. Ngoài ra, một số quan chức cấp cao của Washington còn muốn tránh những va vấp và xung đột không cần thiết với nước Anh chỉ vì Đông Dương khi Hoa Kỳ còn cần đến sự ủng hộ của quốc gia này trong nhiều vấn đề quốc tế khác.
Dưới những áp lực nêu trên, F.D.Roosevelt buộc phải nhượng bộ và trong cuộc họp báo vào tháng 2-1945, đã điều chỉnh chủ trương ủy trị quốc tế đối với Đông Dương, mở rộng thành phần tham gia, đồng ý để Pháp có mặt trong Hội đồng ủy trị quốc tế với điều kiện Pháp coi độc lập của Đông Dương là mục tiêu chính[16]. Tháng 2-1945, tại Hội nghị Yanta, Mỹ (và cả Liên Xô) tuyên bố không nhất thiết phải áp dụng chế độ ủy trị quốc tế đối với các thuộc địa của các nước đế quốc[17]. Cũng từ thời điểm này cho đến khi ngã bệnh và mất (4-1945), Tổng thống F.D.Roosevelt không còn trở lại với yêu cầu thiết lập chế độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương cũng như thôi không theo đuổi kế hoạch tương lai của Đông Dương, đẩy nó lùi vào những vấn đề hậu chiến: “Tôi không muốn dính líu vào bất cứ quyết định nào về Đông Dương. Vấn đề này cần giải quyết sau khi chiến tranh kết thúc”[18]. Tương tự, F.D.Roosevelt cũng không muốn thúc đẩy các nỗ lực quân sự để giải phóng Đông Dương khỏi sự thống trị của Nhật Bản, giải thích rằng tất cả các nguồn lực cần được tập trung cho chiến tranh Thái Bình Dương.
Như vậy, dù rất cố gắng, song F.D.Roosevelt đã không thể đưa ra những giải pháp dứt điểm cho số phận Đông Dương hậu chiến. Người ta cũng nhận thấy rằng, dù nhiều lần nhắc đến chế độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương, song trên thực tế, F.D.Roosevelt đã không hành động quyết liệt. Nhà nghiên cứu Sanford B. Hunt cho biết: “Không có một bằng chứng nào cho thấy Tổng thống F.D.Roosevelt từng ra lệnh hoặc yêu cầu soạn thảo các kế hoạch cụ thể nhằm thiết lập chế độ ủy trị cho Đông Dương”[19]. Dixee Bartholomew-Feis - tác giả cuốn sách “OSS và Hồ Chí Minh: Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật” gọi kế hoạch quản thác quốc tế cho Đông Dương của F.D.Roosevelt là một kế hoạch lỏng lẻo, dù đó là kế hoạch mà thông qua đó, F.D.Roosevelt hy vọng nó “sẽ cho phép Mỹ thiết lập các căn cứ hải quân, không quân dài hạn tại những vị trí chiến lược trên Thái Bình Dương và bất kỳ những nơi không tồn tại mối ác cảm truyền thống đối với quan điểm chính trị dựa vào sức mạnh của Mỹ"[20]. Gabriel Kolko thì khẳng định rằng, việc loại bỏ quyền lực của Pháp tại các thuộc địa được thúc đẩy bởi mong muốn trừng phạt sự hợp tác của Pháp với Đức và Nhật Bản, hơn là vì một niềm tin thực sự vào giá trị nội tại của tự do cho Việt Nam[21]. Ý tưởng về ủy thác quốc tế đối với Đông Dương quả thực là mong manh và nó càng trở nên dễ vỡ trước áp lực được các đồng minh của nước Mỹ bền bỉ tạo ra cũng như sức nặng ngày càng lớn các lợi ích quốc gia của Mỹ, để cuối cùng nó lặng lẽ chết cùng với sự ra đi của F.D.Roosevelt.
-----------------------------------------------------
[1] Báo Sự thật, số 32, ngày 20 - 4-1946
[2] Charter of the United Nations, United Nations, http://www.un.org/en/charter-united-nations/index.html
[3] Dixee Bartholomew-Feis: The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan, University Press of Kansas, 2006, p.197.
[4] Dixee Bartholomew-Feis: The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.199.
[5] Dixee Bartholomew-Feis: The OSS and Ho Chi Minh, Ibid, p.199.
[6] The Pentagon Papers Gravel Edition (Chapter I, "Background to the Crisis, 1940-50”), Volume 1, Boston: Beacon Press, 1971.
[7] The Pentagon Papers Gravel Edition, Ibid.
[8] Kết quả là Nhật Bản bị mất ¾ quan hệ kinh tế -thương mại với nước ngoài; mất 88 % lượng dầu nhập khẩu dẫn đến dự trữ dầu của Nhật Bản chỉ đủ dùng cho ba năm thời bình hoặc 1,5 năm thời chiến.
[9] The Secretary of State to the Ambassador in France// Foreign Relations of the United States (FRUS), 1942. Vol. II. Wash, 1962, p. 124.
[10] Hess G. R: Franklin Roosevelt and Indochina, The Journal of American History, 1972, Vol. 59, № 2, p.355.
[11] Foreign Relations of the United States, The Conferences at Cairo and Tehran, 1943, Wash, 1961, p. 325.
[12] Foreign Relations of the United States, The Conferences at Cairo and Tehran, Ibid, p. 485.
[13] foreign Relations of the united States 1944, Government Printins Office, Washington, D.C., 1965, Vol III, p. 773.
[14] United States Department of State: Foreign relations of the United States. Conferences at Malta and Yalta, 1945, U.S. Government Printing Office, 1945, p.770.
[15] Smith T. O: Churchill, America and Vietnam, 1941- 1945, Palgrave Macmillan UK,2011, p.12.
[16] Thomas G. Paterson and Dennis Merrill (Edited): Major Problems in American Foreign Policy, Volume II: Since 1914, 4th edition, Lexington, MA: D.C. Heath and Company, 1995, p. 190.
[17] United States Department of State: Foreign relations of the United States. Conferences at Malta and Yalta, 1945, Ibid, p.977.
[18] Hess G. R: Franklin Roosevelt and Indochina, Ibid, p.363.
[19] Sanford B. Hunt, IV, B.A: Dropping the baton: decisions in United States policy on Indochina, 1943-1945, A Thesis in History, Texas Tech University, p.97.
[20] Dixee Bartholomew-Feis: The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan, Ibid, p.201.
[21] Gabriel Kolko: The United States in Vietnam 1944-66: Origins and Objectives of an Intervention Objectives of an Intervention, Outsider Insight, 2014, p.15.

..........

CÒN NỮA