Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Tư duy chiến lược và các bước thực hiện chiến lược cường quốc khu vực Châu Á- Thái Bình Dương của Trung Quốc

1.                  Những khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.1.            “Chiến lược” là gì?

Thuật ngữ “chiến lược” vốn xuất phát từ lĩnh vực quân sự đã được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,  từ kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự, an ninh, khoa học - công nghệ, văn hóa, giáo dục, đào tạo…

 

Từ “chiến lược” lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Hy Lạp vào thế kỷ thứ V trước công nguyên. Nghĩa gốc của từ đó là thống soái, chỉ huy quân đội. Như vậy, đó là thuật ngữ quân sự. Trong tác phẩm “Bàn về chiến tranh”, của Karl Clausewitz (1780-1831), nhà khoa học quân sự nổi tiếng người Đức, đưa ra khái niệm chiến lược quân sự khá đầy đủ. Ông viết: “Chiến lược là sự ứng dụng các cuộc chiến đấu nhằm đạt mục đích chiến tranh, dó đó chiến lược phải quy định cho toàn bộ hành động của toàn quân một mục tiêu thích ứng với mục đích của các cuộc chiến đấu, cũng tức là vạch kế hoạch chiến tranh, đồng thời phải gắn hàng loạt hành động nhằm đạt mục đích ấy, tức là vạch ra phương án của các cuộc chiến và bố trí việc chiến đấu trong các phương án đó.” Đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh.

Các lãnh tụ của giai cấp công nhân thế giới đã vận dụng thuật ngữ chiến lược quân sự vào lĩnh vực chính trị và nêu bật những nội hàm mới. V.I. Lênin trong các tác phẩm của mình đã nêu ra những ý kiến về chiến lược, sách lược cách mạng của giai cấp vô sản. Còn J. Stalin định nghĩa chiến lược chính trị, ông viết: “Chiến lược là hướng tiến công cách mạng chủ yếu trong một giai đoạn nào đó của giai cấp vô sản, nó vạch ra kế hoạch bố trí lực lượng cách mạng tương ứng trong giai đoạn này, đấu tranh thực hiện kế hoạch đó trong suốt giai đoạn cách mạng ấy.” 

Theo từ điển tiếng Việt, chiến lược có những nghĩa sau: i) Chiến lược quân sự. Phương châm và biện pháp quân sự có tính chất toàn cục, được vận dụng trong suốt cuộc chiến tranh nhằm thực hiện mục đích quân sự, chính trị, kinh tế nhất định. Ví dụ: Chiến lược chiến tranh nhân dân, Chiến lược đánh lâu dài; ii) Chiến lược quân sự. Bộ phận chủ đạo của nghệ thuật quân sự, nghiên cứu quy luật, phương pháp chuẩn bị và các hoạt động quân sự có tính chất toàn cục trong chiến tranh và trong khởi nghĩa. Ví dụ: Một thiên tài về chiến lược quân sự; iii) Phương châm và kế hoạch có tính chất toàn cục, xác định mục tiêu chủ yếu và sự sắp xếp lực lượng trong suốt cả một thời kỳ của cuộc đấu tranh xã hội - chính trị. Ví dụ: Chiến lược cách mạng; iv) Thuộc về chiến lược, phục vụ cho chiến lược hoặc dùng riêng cho chiến tranh. Ví dụ: Cuộc phản công chiến lược, Vị trí chiến lược, Hàng chiến lược, Một vấn đề có tầm quan trọng chiến lược.”

Bách khoa toàn thư mở trình bày những nhận thức sau đây về chiến lược: Chiến lược từ gốc tiếng Hy Lạp (nghệ thuật người lãnh đạo cao nhất, Bộ chỉ huy quân sự, kế hoạch chung), nghĩa là kế hoạch chung ở cấp cao, nhằm đạt một hay nhiều mục tiêu thông qua quản lý chiến lược, trong đó phương pháp, kế hoạch được lựa chọn nhằm đạt được mục đích hoặc giải quyết vấn đề đặt ra trong tương lai. Chiến lược là nghệ thuật và kế hoạch sử dụng nguồn lực sao đạt được hiệu quả nhất.

Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam trình bày một khái niệm chiến lược rất toàn diện và khoa học: “Chiến lược là nghệ thuật xác định mục tiêu, sắp xếp, quy tụ lực lượng và đề ra giải pháp nhằm đạt đến một mục đích nhất định bằng con đường có lợi nhất, tạo ra trạng thái phát triển mới của một lĩnh vực (chiến lược chuyên ngành), toàn xã hội (chiến lược quốc gia) hoặc toàn thế giới (chiến lược toàn cầu) trong một thời kỳ nhất định. Thuật ngữ chiến lược lúc đầu chỉ dùng trong lĩnh vực quân sự, dần dần được dùng trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học… Các yếu tố đặc trưng của chiến lược bao gồm: lựa chọn các mục tiêu chiến lược hiện thực (mục tiêu cơ bản, mục tiêu trung hạn, mục tiêu trước mắt), sắp xếp lực lượng chiến lược hợp lý (lực lượng chủ lực, lực lượng hậu bị) và tìm các giải pháp chiến lược khả thi (giải pháp căn bản, giải pháp tình thế, các chính sách liên quan). Hoạch định chiến lược phải căn cứ vào bối cảnh và thực trạng của tình hình, trong đó phải tính đến trạng thái của đối tượng, lực lượng chiến lược và các tiềm lực có thể huy động vào việc thực hiện mục tiêu chiến lược. Sự đúng đắn của chiến lược chủ yếu phụ thuộc vào tài nghệ chủ quan của con người trên cơ sở nắm vững quy luật khách quan của từng lĩnh vực hoạt động và của sự phát triển xã hội nói chung. Trong nghệ thuật quân sự, thuật ngữ chiến lược thường đi với thuật ngữ nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật; trong nghệ thuật chỉ đạo cách mạng, nó thường đi với thuật ngữ sách lược. Ở Việt Nam, chiến lược là sự cụ thể hóa đường lối, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối ở một thời kỳ nhất định.”[1]

1.2.            Khái quát về khu vực Châu Á- Thái Bình Dương

Về mặt địa lý tự nhiên: khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ bao gồm Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Trung Á, Nam Á, nhóm các quần đảo ở Thái Bình Dương và vành đai các nước trong khu vực Nam Bắc Mỹ. Số lượng các quốc gia trong khu vực này gấp đôi Liên minh châu Âu (EU), tổng dân số lên tới gần 4 tỷ người (gấp 8-10 lần EU), chiếm hơn một nửa dân số thế giới. Hiện nay, khu vực này bao gồm những quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới (Nga, Trung Quốc và Mỹ), 4 trong số những quốc gia đông dân nhất thế giới (Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ và Inđônêxia), 3 cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới (Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản). Về chính trị, Đại châu Á-Thái Bình Dương tập trung 3 trong 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (Trung Quốc, Mỹ và Nga), 7/10 cường quốc quân sự hàng đầu thế giới (Trung Quốc, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc). Về quy mô kinh tế, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của 21 nước thành viên Diễn đàn hợp tác châu Á-Thái Bình Dương (APEC) chiếm 54% tổng GDP thế giới, tổng lượng hàng hóa và dịch vụ thương mại chiếm tới 44% thế giới. Cuối cùng, về tương lai phát triển, Đại châu Á-Thái Bình Dương có số lao động và nhu cầu thị trường cực lớn với những quốc gia là thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước ASEAN; có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với Trung Á, khu vực viễn đông của Nga, Đông Nam Á, Ôxtrâylia, Canađa; có công nghệ cao và kinh nghiệm quản lý của các nước như Mỹ, Nhật Bản. Nếu những nền kinh tế này có cơ hội tập hợp lại với nhau, không gian tăng trưởng kinh tế châu Á-Thái Bình Dương có thể tiếp tục mở rộng. 

Từ khi bước vào thế kỷ XXI đến nay, châu Á-Thái Bình Dương luôn là khu vực tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Theo thống kê, từ năm 2007 – 2012, mặc dù tăng trưởng kinh tế toàn cầu đi xuống, tổng lượng kinh tế của các quốc gia mới nổi ở khu vực này lại tăng thêm gần 50%, tỷ trọng trong nền kinh tế thế giới cũng gia tăng. Trong 5 – 10 năm tới, kinh tế những quốc gia mới nổi tại châu Á-Thái Bình Dương vẫn có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng như vậy. Xem xét đến nền kinh tế Bắc Mỹ tăng trưởng cao hơn châu Âu và tiến trình khu vực hóa châu Á-Thái Bình Dương không ngừng tiến triển, nếu tính cả Bắc Mỹ tổng lượng kinh tế Đại châu Á-Thái Bình Dương sẽ chiếm 2/3 tỷ trọng kinh tế thế giới[2]

Đặc điểm địa lý vốn có, quy mô kinh tế và tương lai phát triển không hạn chế là những nhân tố quyết định để khu vực châu Á-Thái Bình Dương thay thế khu vực châu Âu – Đại Tây Dương, vươn lên trở thành trọng tâm địa chính trị toàn cầu. Tương lai thế giới là hòa bình hay chiến tranh, ổn định phồn vinh hay rối ren nghèo đói ngày càng quyết định bởi diễn biến cục diện địa chính trị của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và bàn cờ sức mạnh địa chính trị tại khu vực này. 

Như vậy, cục diện địa chính trị Đại châu Á-Thái Bình Dương sẽ thay đổi như thế nào trong 5 – 10 năm tới? Nói cách khác, các nước lớn chủ yếu hay sức mạnh địa chính trị chủ yếu sẽ phân hóa và xếp sắp lại ra sao? Đáp án rất khó đoán định, từ đó cũng đặt ra cho giới nghiên cứu chiến lược câu hỏi khó nhất và điều kiện nghiên cứu lớn nhất. 

Về lý luận, cuộc đấu địa chính trị Đại châu Á-Thái Bình Dương có hai triển vọng chiến lược hoặc phương thức chiến lược. Thứ nhất là phương thức có thắng có thua, có thể gọi là “phương thức xung đột”. Do bối cảnh địa chính trị ở châu Á-Thái Bình Dương cực kỳ phức tạp, khi mổ xẻ các yếu tố quyết định phương thức cuộc đấu địa chính trị khu vực châu Á-Thái Bình Dương, người ta dễ đưa ra kết luận khá bi quan: Triển vọng địa chính trị đi theo xu hướng “phương thức có thắng có thua” hoặc “phương thức xung đột” vẫn tồn tại thực sự nghiêm trọng. Về ý thức hệ, châu Á-Thái Bình Dương tập trung những quốc gia xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam; có những quốc gia tư bản “tam quyền phân lập” như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia; có quốc gia ý thức hệ hỗn hợp như Ấn Độ; lại có những nước đang trong quá trình chuyển đổi như Nga và các quốc gia Trung Á. Về giai đoạn phát triển, châu Á-Thái Bình Dương có “những quốc gia hậu hiện đại” có nền kinh tế rất phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Canađa, Ôxtrâylia, cũng có những quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), còn có những “quốc gia tiền hiện đại” như Mianma, Ápganixtan, Pakixtan. Về bối cảnh văn hóa tôn giáo, Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia, Philíppin theo Kitô giáo; Inđônêxia, Malaixia, Pakixtan, Ápganixtan theo Hồi giáo, Mianma, Nêpan, Thái Lan theo Phật giáo, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên cơ bản là nước vô thần. Đồng thời, các dân tộc, tộc người, tập quán, ngôn ngữ giữa các nước có sự khác biệt lớn. Về cơ cấu sức mạnh, châu Á-Thái Bình Dương có các lực lượng mạnh về quyền lực trên biển như Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, cũng có những nước lớn mạnh về quyền lực trên đất liền như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ. Ngoài ra, giữa các nước tại khu vực này còn tồn tại mối thù hận lịch sử và mâu thuẫn thực tại rất đa dạng. Chẳng hạn như mối quan hệ giữa Nhật Bản với Nga, Nhật Bản với Bắc Triều Tiên, Ấn Độ với Pakixtan, Campuchia với Thái Lan và những quốc gia lên tiếng về chủ quyền Biển Đông như Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Brunây, Inđônêxia với Trung Quốc đều tồn tại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, vùng biển. Bán đảo Triều Tiên vẫn ở trạng thái bị chia cắt. Đại lục Trung Quốc và Đài Loan vẫn chưa thống nhất. Món nợ lịch sử do Nhật Bản phát động chiến tranh xâm lược tàn phá các quốc gia Đông Á từ thời cận đại đến nay vẫn chưa hoàn toàn được tính sổ. Điều quan trọng hơn là quan hệ giữa hai siêu cường ở châu Á-Thái Bình Dương là Trung Quốc và Mỹ tồn tại những nhân tố khó lường. Cạnh tranh quân sự quốc tế mà châu Âu là địa bàn chủ yếu có khả năng chuyển sang chạy đua vũ trang tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương là chủ yếu. 

Nhân tố xung đột trong cơ cấu địa chính trị của khu vực này tuy có nhiều nhưng cốt lõi là nhân tố xung đột trong quan hệ địa chiến lược Trung - Mỹ, nhân tố khác đều xoay quanh nó. Các nhân tố phụ thuộc khác hoặc góp phần giảm bớt, gia tăng hoặc kích hoạt. Một mặt, tổng lượng kinh tế thương mại của Trung Quốc hiện nay đứng thứ hai châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời đứng thứ hai thế giới. 5-10 năm tới, kinh tế Trung Quốc vẫn có khả năng giữ mức tăng trưởng cao trên dưới 8%. Năm 2030, Trung Quốc có hy vọng vượt qua Mỹ trở thành cường quốc thương mại đứng đầu châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời cũng đứng đầu thế giới. Khi đó sức mạnh kinh tế và ảnh hưởng của Trung Quốc làm gia tăng sự chênh lệch so với các lực lượng chủ yếu ở châu Á-Thái Bình Dương như Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Hàn Quốc và ASEAN. Mặt khác, Mỹ hiện nay là nước có nền kinh tế lớn nhất châu Á-Thái Bình Dương và thế giới, cho dù địa vị kinh tế của họ bị thay thế thì họ vẫn sẽ giữ vị trí thứ hai trong khu vực này và trên thế giới trong một thời gian dài, địa vị nước lớn quân sự số một của họ thậm chí còn được giữ vững trong thời gian dài hơn. Do đó, cho dù địa vị kinh tế thương mại của họ giảm xuống hay không thì Mỹ cũng là nước có ảnh hưởng lớn tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trên thực tế, khu vực này sở dĩ nhanh chóng trở thành trọng tâm địa chính trị thế giới, không những trên cơ sở sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc kéo theo hàng loạt các quốc gia mới nổi vươn lên tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà còn trên cơ sở Mỹ nhanh chóng chuyển từ nước thuộc Đại Tây Dương truyền thống sang quốc gia Thái Bình Dương để phù hợp với sự trỗi dậy tại châu Á-Thái Bình Dương. Giữa Trung Quốc và Mỹ, ai là anh cả, ai là anh hai, hai nước chia rẽ hay hợp tác đều sẽ gây ảnh hưởng cơ bản đối với sự xếp sắp lại địa chính trị và triển vọng chiến lược của châu Á-Thái Bình Dương. 

Trung Quốc và Mỹ tồn tại đối lập về chế độ chính trị và ý thức hệ, bối cảnh và hệ thống giá trị văn hóa tôn giáo cũng hoàn toàn khác nhau, giữa hai nước còn có lịch sử đối đầu Chiến tranh Lạnh lâu dài, quyết liệt. Hai nước hiện nay còn va chạm, xung đột trên một số vấn đề lớn như kinh tế, sở hữu trí tuệ, nhân quyền, Đài Loan, Tây Tạng, Biển Đông, tiến trình liên kết khu vực châu Á-Thái Bình Dương, biến đổi khí hậu toàn cầu, phương thức chống khủng bố.... Vấn đề quan trọng nhất: Trung Quốc là nước lớn mới trỗi dậy, Mỹ là nước lớn hiện tại. Sự trỗi dậy của Trung Quốc tại châu Á-Thái Bình Dương chắc chắn sẽ phải “chèn lấn” sang “phần lợi ích” đã được tích tụ trong một thời gian dài của Mỹ tại khu vực này. Do đó, căn cứ vào tư duy lôgích của “phái bảo thủ mới” và những người theo chủ nghĩa thực tế của Mỹ, họ đang là nước lớn tại khu vực này, ngược lại, Trung Quốc lại là nước đế quốc. Theo chủ trương của những người này, Mỹ phải đảm bảo “quyền lực” bành trướng quá mức của họ tại châu Á-Thái Bình Dương, phải cố gắng ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Hơn nữa, ngăn chặn một cách mạnh mẽ sự trỗi dậy của Trung Quốc, thì không thể không lựa chọn chính sách kiềm chế thậm chí gây chiến với nước này. Một khi chủ trương của họ trở thành cách giải thích chủ lưu trong giới hoạch định chính sách Mỹ và chuyển hóa thành chính sách, cuộc đấu địa chính trị giữa hai nước tại châu Á-Thái Bình Dương có thể diễn biến quanh “phương thức có thắng, có thua”. Trong tình hình đó, các nước trong khu vực này chỉ có thể lựa chọn đứng về phía Trung Quốc hoặc Mỹ, xung đột địa chính trị châu Á-Thái Bình Dương cuối cùng có thể chuyển biến thành sự đối kháng tập thể. Những đối kháng này không những mang đặc điểm các nước lớn tranh giành địa vị lãnh đạo trong khu vực, mà còn mang tính đối đầu trên biển và trên đất liền, đối đầu về ý thức hệ, quan niệm giá trị văn hóa và chế độ quốc tế. Mức độ quyết liệt và quy mô của sự đối địch này không hề thua kém sự đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. 

Phương thức thứ hai trên bàn cờ địa chính trị tương lai là phương thức hợp tác hòa bình. Cơ cấu địa chính trị châu Á-Thái Bình Dương tuy tồn tại nhiều nhân tố xung đột, nhưng cũng có nhiều nhân tố hợp tác. Trước hết, về mặt kinh tế thương mại và đầu tư, các nước châu Á-Thái Bình Dương đã hình thành mối quan hệ lợi thiệt cùng nhau. Khoảng 60% tổng lượng thương mại của Trung Quốc bắt nguồn từ quan hệ với các nước châu Á-Thái Bình Dương cũ. Nếu tính thêm cả Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia thì tổng lượng thương mại với các nước trong khu vực này đã chiếm hơn ¾ kim ngạch thương mại của Trung Quốc. Tổng lượng thương mại giữa Mỹ và các nước châu Á-Thái Bình Dương cũng lớn hơn so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới trong đó có EU. Không những thế, có mối quan hệ chặt chẽ giữa việc Trung Quốc xuất siêu thương mại sang Mỹ với Mỹ xuất siêu thương mại sang các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương, Trung Quốc nhập siêu từ các quốc gia trong khu vực này. Điều này đã phản ánh lợi ích và sự bổ sung lẫn nhau giữa các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương. Thứ hai, về lĩnh vực chính trị an ninh, giữa các quốc gia trong khu vực này, tuy tồn tại nhiều nhân tố xung đột, nhưng đều tìm kiếm phương thức hòa bình, hợp tác, hiệp thương chứ không sử dụng phương thức chiến tranh để giải quyết bất đồng, xung đột. Đồng thời, việc thiết lập nhiều tổ chức, cơ chế hợp tác khu vực ở cấp độ cao như APEC, “ASEAN+N” và ở phạm vi nhỏ hơn như Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Cơ chế đàm phán sáu bên, Tổ chức tiểu vùng sông Mê Công, diễn đàn tại các khu vực đã chuẩn bị điều kiện để tiếp tục hợp tác sâu sắc hơn. Về khái niệm, điều quan trọng hơn là đa số các nước châu Á-Thái Bình Dương đều theo đuổi hòa bình phồn vinh và hợp tác. Nhật Bản đã từng phát động chiến tranh ở Thái Bình Dương, đến nay cũng không có ý dùng phương thức chiến tranh quy mô lớn để thực hiện nhu cầu lợi ích của mình. Do đó, châu Á-Thái Bình Dương không những có khả năng thực hiện phương thức thứ hai, mà khả năng thực hiện phương thức này lớn hơn phương thức thứ nhất[3]

2.                  Chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Trong những thập niên qua, châu Á - Thái Bình Dương trở thành một trong những động lực chủ yếu cho sự phát triển của thế giới. Thế kỷ XXI được dự báo là “Thế kỷ châu Á - Thái Bình Dương”. Do đó, gần như tất cả các nước lớn trên thế giới đều chú trọng và có sự điều chỉnh chiến lược đối với khu vực có tầm quan trọng đặc biệt này.

2.1.            Chiến lược của Mỹ đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Trong chiến lược toàn cầu, Nhà Trắng coi CA-TBD là khu vực địa-chiến lược, địa-chính trị trọng yếu, quan hệ trực tiếp đến an ninh quốc gia và vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ. Tổng thống Mỹ G.W.Bush đã nhiều lần tuyên bố, đối với nước Mỹ hiện nay, không có khu vực nào quan trọng hơn là khu vực CA-TBD. Mục tiêu xuyên suốt của Mỹ ở CA-TBD là nắm vững quyền chủ đạo, làm nền tảng để bảo vệ lợi ích sống còn của quốc gia ở khu vực và thực hiện chiến lược toàn cầu. Mỹ thực hiện chiến lược CA-TBD dựa trên ba trụ cột chính: an ninh, kinh tế và đối ngoại.

Về an ninh, để duy trì an ninh, ổn định ở CA-TBD, Nhà Trắng tăng cường củng cố các liên minh quân sự truyền thống với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Philíppin và Thái Lan; coi liên minh với Nhật Bản là “hòn đá tảng” và tăng cường mở rộng quan hệ quân sự, an ninh với các nước, các cơ cấu an ninh khu vực, để gây ảnh hưởng và tạo thành “các chân rết” phục vụ chiến lược của Mỹ ở khu vực. Đồng thời, tăng cường sức mạnh quân sự, hiện đại hóa các lực lượng quân đội đồn trú ở phía trước, các căn cứ quân sự, hình thành thế bố trí quân sự chiến lược, nhằm khống chế, kiểm soát toàn bộ khu vực, ngăn chặn không để các nước thách thức đến vai trò lãnh đạo của Mỹ.

Về kinh tế, thời gian qua, kim ngạch buôn bán hai chiều, đầu tư của Mỹ vào khu vực tăng nhanh và cao hơn nhiều so với các khu vực khác. Hiện nay, Mỹ đang tập trung vào hai hướng: Một là, tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với các nước, nhất là các nước được coi là thị trường lớn, như Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN... Hai là, phát huy vai trò chủ đạo trong các tổ chức khu vực, như Diễn đàn hợp tác kinh tế CA-TBD (APEC), để thúc đẩy mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại, đầu tư và chi phối kinh tế khu vực. Bên cạnh đó, Mỹ cũng tăng cường chính sách ngăn chặn, như lập hàng rào thuế quan, áp dụng luật sở hữu trí tuệ, các chế tài tài chính… để bảo vệ thị trường trong nước và kiềm chế nước khác về kinh tế.

Về đối ngoại, lấy chiêu bài “chống khủng bố”, “dân chủ”, “nhân quyền”, Mỹ thực hiện chính sách can dự vào khu vực. Trong quan hệ quốc tế, Mỹ coi trọng sách lược “cây gậy và củ cà rốt”, đối xử với các nước theo “tiêu chuẩn kép”, nhất là với các nước mà Mỹ cho là “bất trị”; thể hiện rõ nhất là cách giải quyết vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên. Đánh giá về chiến lược của Mỹ, các nhà phân tích cho rằng, đó là một chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng thể để đạt mục tiêu của Mỹ ở khu vực; nhưng, chiến lược đó chưa phù hợp với một CA-TBD đã có nhiều thay đổi. Đó là vì: Thứ nhất, chiến lược đó vẫn mang tư duy của thời kỳ “Chiến tranh Lạnh”, là lấy sức mạnh để “ngăn chặn, kiềm chế” nước khác, nhằm bảo vệ an ninh, lợi ích quốc gia của mình. Điều đó làm cho mâu thuẫn giữa Mỹ với các nước, kể cả các nước đồng minh, ngày càng sâu sắc, phức tạp. Thứ hai, Mỹ tăng cường sức mạnh quân sự là nhân tố thúc đẩy chạy đua vũ trang, đe dọa đến đến an ninh, ổn định của khu vực, bị dư luận phản đối[4].

Những điều chỉnh chiến lược dưới thời Tổng thống B. Obama

Trước những thay đổi to lớn và sâu sắc trên thế giới và ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, Mỹ đã có những điều chỉnh chiến lược đáng chú ý, nhất là từ đầu năm 2011, Tổng thống Mỹ  B. Obama tuyên bố chuyển trọng tâm chiến lược toàn cầu sang châu Á - Thái Bình Dương, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xuyên suốt là tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo thế giới, không để xuất hiện bất cứ đối thủ nào có thể cạnh tranh hay thách thức vị thế số 1 của Mỹ ở một khu vực được đánh giá là phát triển nhanh và năng động nhất thế giới này. Để thực hiện chiến lược “xoay trục” sang châu Á - Thái Bình Dương, bước đầu Mỹ đã thực hiện một số biện pháp chiến lược như sau:

Một là, tăng cường quan hệ liên minh quân sự với các đồng minh truyền thống trong khu vực, như Phi-líp-pin, Thái Lan, Xin-ga-po, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, trong đó liên minh Mỹ - Nhật Bản là cốt lõi của cả hệ thống an ninh trong khu vực. Đồng thời, Mỹ phát triển và tăng cường quan hệ với nhiều đối tác khác trong khu vực, như thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN và quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam. Theo hướng này, Mỹ tiến hành bố trí lại lực lượng ở Nhật Bản và quyết định mở thêm căn cứ quân sự ở Ô-xtrây-li-a và Phi-líp-pin; tăng cường các cuộc diễn tập quân sự phối hợp song phương hoặc đa phương với các đồng minh và đối tác của Mỹ trong khu vực.

Hai là, tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương. Theo đó, Mỹ sẽ chuyển phần lớn hạm đội hải quân tới Thái Bình Dương vào năm 2020, điều chỉnh tương quan lực lượng hải quân bố trí tại Thái Bình Dương và Đại Tây Dương từ tỷ lệ 50-50 thành 60-40, nghiêng về ưu tiên khu vực Thái Bình Dương.

Ba là, tăng cường sự tham gia và ảnh hưởng của Mỹ tại các diễn đàn ở khu vực có liên quan tới Biển Đông, như ASEAN, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn Đông Á (EAF); Diễn đàn Kinh tế thế giới khu vực Đông Á; Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC).

Bốn là, xúc tiến ký kết và thực thi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Năm 2015, sau khi hoàn tất đàm phán, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma tuyên bố, TPP là “Hiệp định của thế kỷ XXI” và với TPP, Mỹ chứ không phải là Trung Quốc hay Nga sẽ “viết luật chơi cho thế giới”[5].

Dự báo về chiến lược xoay trục sang Châu Á – Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống D. Trump (2017 - 2021)

Hiện tượng D. Trump

D. Trump đã trở thành hiện tượng khác thường, từ một tỷ phú bất động sản, ít kinh nghiệm về hoạt động chính trị, ông đã trở thành vị Tổng thống thứ 45 trong lịch sử 240 năm của Mỹ. Ông đã luôn đưa ra những khẩu hiệu tranh cử “phục hưng nước Mỹ” mang đậm màu sắc dân túy, coi trọng việc bảo vệ lợi ích người lao động, khôi phục chủ nghĩa bảo hộ thương mại, siết chặt các mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương và xuyên Thái Bình Dương như TPP và TTIP. Do vậy, tạm thời, các hiệp định này sẽ trục trặc, khó khăn khi D. Trump làm Tổng thống. Về đối nội, D. Trump sẽ tăng lãi suất tiền gửi, hoạt động của Ngân hàng Trung ương Mỹ (FED) cũng sẽ thay đổi so với chính quyền tiền nhiệm. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu. Thứ hai, ông D. Trump sẽ siết chặt nhập cư, hủy bỏ một số chương trình xã hội, chăm sóc sức khỏe của chính quyền Tổng thống B.Obama. Đặc biệt, mối quan hệ giữa Mỹ với Nga, sẽ có khả năng bớt căng thẳng, giảm xung đột ở Xyri và Ucraina. Nhưng quan hệ Mỹ - Trung sẽ có khả năng căng thẳng hơn, đặc biệt về quan hệ kinh tế giữa hai nước, và những xung đột ở Biển Đông. Nhiều ý kiến cho rằng, Tổng thống D. Trump là người phi truyền thống, chống lại thể chế hiện hữu, chống lại sự rập khuôn cũ kỹ, sẽ cổ vũ cho trào lưu của chủ nghĩa dân túy, đề cao “chấn hưng nước Mỹ”, bảo vệ lợi ích của nước Mỹ, sẽ chống lại kể cả với các đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc. Ông sẽ giải quyết các công việc đất nước qua lăng kính “một nhà kinh tế”, một “thương gia có hạng”[6]?

Những thay đổi về chiến lược xoay trục sang CA-TBD trong tương lai

Trong chiến dịch vận động tranh cử của Tổng thống Mỹ, từ Tổng thống Jimmy Carter tới Tổng thống R.Regan, không phải tất cả những lời hứa hẹn đưa ra trong thời gian tranh cử đều trở thành hiện thực. Theo ông Ralph Cossa thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế của Mỹ thì “tới phân nửa những lời hứa hẹn của các ứng cử viên sẽ không được thực hiện. Thách thức ở đây là phải tìm ra phân nửa nào sẽ được thực hiện”. Về chính sách đối với khu vực CA-TBD, trong cuộc vận động bầu cử, ông D. Trump đã đưa ra những tuyên bố như: (1) Đề nghị Hoa Kỳ rút quân đội Mỹ ra khỏi Nhật Bản, Hàn Quốc, trừ phi hai nước này cũng chia sẻ gánh nặng tài chính cho sự hiện diện của lực lượng Mỹ đồn trú tại hai nước này (trên thực tế, hai nước này đã trả phân nửa chi phí đóng quân của Mỹ)[7]; (2) Ông chống đối lại Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP (đây là tâm điểm của các nỗ lực của chính quyền B. Obama nhằm tái cân bằng của Mỹ, xoay trục sang châu Á - Thái Bình Dương); (3) Ông D. Trump cũng có những phát biểu rất gay gắt đối với Trung Quốc. Ông hứa sẽ áp đặt mức thuế 45% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, một động thái có thể gây ra một cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung trong tương lai v.v[8].

Những lời bình luận này đã gây quan ngại sâu sắc cho giới quan sát, họ cho rằng quan điểm của ông D.Trump hình như thể hiện một sự thay đổi căn bản trong chính sách của Mỹ về châu Á - Thái Bình Dương, mặc dù chính sách nhất quán đó đã được sự đồng thuận của cả hai đảng trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, nhiều nhà lãnh đạo trong khu vực CA - TBD đang theo dõi mọi động thái của ông D. Trump, đều có chung nhận định: “Chúng tôi không bận tâm xét nét từng lời phát biểu của ông D.Trump khi vận động bầu cử trước công chúng”[9]; hay: “Tôi không dám phán xét về những gì chưa xảy ra, nhưng theo tôi, Hoa Kỳ vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng ở châu Á, và chính quyền mới của Hoa Kỳ sẽ tiếp tục sự hiện diện tại khu vực”[10].

Do vậy, những lo lắng của dư luận quốc tế về việc Tổng thống D.Trump sẽ ngừng “xoay trục” sang CA-TBD là không có cơ sở. Bởi vì, chiến lược “xoay trục” là một chiến lược lâu dài, nhằm khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực CA-TBD, một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. “Xoay trục” là một chiến lược lâu dài, chứ không phải một công việc nhẹ nhàng do tổng thống chỉ thực hiện trong vòng 4 năm. Tuy nhiên, các Tổng thống khác nhau sẽ thực hiện chiến lược xoay trục theo cách riêng của mình. Họ sẽ sử dụng các cộng cụ và phương tiện thực thi khác nhau, và sẽ không có Tổng thống nào dám từ bỏ chiến lược xoay trục. Trong chiến lược xoay trục đó, hồ sơ Biển Đông vẫn sẽ là một mắt xích vô cùng quan trọng của Mỹ. Giới quan sát ở Mỹ, châu Á, trên thế giới đều tin rằng trong nhiệm kỳ 4 năm tới, Tổng thống D.Trump vẫn thực hiện quyền đi lại trên biển, trên không ở Biển Đông như Tổng thống B.Obama vẫn làm. Vấn đề Biển Đông không chỉ là vấn đề của riêng Tổng thống, mà nó sẽ chịu tác động của các cơ quan quyền lực khác như Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Quốc hội.... Đây là vấn đề quan trọng liên quan đến lợi ích của nước Mỹ, vì vậy sẽ không có ai dám từ bỏ nó. Tại Biển Đông, Mỹ có rất nhiều lợi ích, bởi đây là vùng biển quốc tế đã mang lại giá trị giao thương hàng hóa lên đến hơn 5000 tỷ USD mỗi năm[11].

Tổng thống đắc cử Mỹ D. Trump đã nói chuyện với hàng chục lãnh đạo các nước kể từ khi ông đắc cử, trong đó có những cuộc điện đàm đã làm rung chuyển giới ngoại giao của Mỹ. Đầu tháng 12/2016, ông D. Trump đã có cuộc điện đàm với Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, gây xôn xao dư luận khi nó đánh dấu lần đầu tiên một vị Tổng thống Mỹ đã nói chuyện trực tiếp với một lãnh đạo Đài Loan trong vòng 30 năm qua. Theo dư luận quốc tế, cuộc điện đàm này đã được chuẩn bị từ vài tháng trước. Ông D. Trump đã bất chấp sự phản ứng của Trung Quốc, mặc dù Mỹ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan từ năm 1979, sau khi Mỹ đã xác lập quan điểm “một Trung Quốc”. Dư luận quốc tế lo ngại rằng động thái này sẽ gây căng thẳng trong quan hệ Mỹ - Trung trong tương lai. Nhưng có lẽ ông D. Trump sẽ sử dụng Đài Loan như một con bài chiến lược của Mỹ nhằm ngăn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông.

Đúng như nhận định của ông John M. Huntsman, cựu đại sứ Mỹ tại Trung Quốc trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống B.Obama: “Là một doanh nhân, D.Trump thường sẽ tìm kiếm đòn bẩy trong bất kì mối quan hệ nào. Nên nhiều khả năng tổng thống D.Trump sẽ thấy Đài Loan là một đòn bẩy hữu ích”[12]. Thậm chí cựu đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc, ông John Bollton nói: “Hoa Kỳ có một cái thang ngoại giao buộc Bắc Kinh phải chú ý. Ông đã từng khuyến cáo Tổng thống B.Obama nên sử dụng vấn đề Đài Loan để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông. Tổng thống tiếp theo của Hoa Kỳ nếu mạnh dạn, sẵn sàng hành động thì luôn có những cơ hội ngăn chặn và đảo ngược xu thế bành trướng lãnh thổ, bá chủ Đông Nam Á mà Trung Quốc đang theo đuổi”[13]. Đặc biệt, thượng nghị sĩ Marco Rubio (người từng là ứng cử viên tranh cử Tổng thống của Đảng Cộng hòa đầu năm 2016), đầu tháng 12/2016 đã giới thiệu một dự luật lên Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, trong đó đề xuất các biện pháp trừng phạt đối với hành động bất tuân thủ pháp luật của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Nếu dự luật này được thông qua, sẽ cho phép Tổng thống D.Trump thực hiện các biện pháp trừng phạt đối với các cá nhân, các tổ chức của Trung Quốc hoạt động phi pháp ở Biển Đông. Đây là nền tảng pháp lý cho chính quyền của Tổng thống D. Trump nhằm tiếp tục thực hiện tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, tự do tuần tra hoạt động trên biển và mở rộng hợp tác của Mỹ với các quốc gia ở Đông Nam Á[14].

Bên cạnh sự quan tâm của ông D. Trump đến Đài Loan như tuyên bố sẽ sẵn sàng từ bỏ chính sách “một Trung Quốc”, ông D. Trump còn điện đàm và bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ Tổng thống Philíppin R. Duterte trong chiến dịch chống ma túy. Ông kêu gọi “nên sửa chữa mối quan hệ xấu của chúng ta” và mời Tổng thống Duterte sang thăm Mỹ, tiếp tục mối quan hệ hợp tác đồng minh chiến lược Mỹ - Philíppin. Ông D.Trump đã điện đàm với Thủ tướng Pakixtan N.Sharif, ca ngợi ông Sharif là “người đàn ông tuyệt vời”, kêu gọi sự hợp tác giữa hai nước trong tương lai. Đồng thời, ông D. Trump còn điện đàm với Tổng thống Cadắcxtan N.Nazarbayer và tuyên bố “quyết tâm đưa quan hệ Mỹ - Cadắcxtan lên tầm cao mới, bao gồm hợp tác thương mại và kinh tế”[15].

Tóm lại, Tổng thống mới của Mỹ D. Trump nhậm chức vào ngày 20/1/2017, trong bối cảnh hết sức thuận lợi, được cả hai viện (Thượng viện và Hạ viện) ủng hộ, sẽ tiếp tục thực thi chính sách “Xoay trục sang CA-TBD” mà Tổng thống tiền nhiệm B. Obama đã công bố từ năm 2011. Bản thân chiến lược “xoay trục này” đã phản ánh tầm quan trọng của khu vực CA-TBD trong nền kinh tế toàn cầu và chính trị quốc tế cũng như trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Tuy nhiên, là một thương gia làm chính trị, với tư tưởng đề cao tinh thần “chấn hưng nước Mỹ”, lấy lợi ích Mỹ làm tiền đề, vì vậy, các cách ứng xử và phương thức hành động của Tổng thống D. Trump khi cầm quyền sẽ có những khác biệt nhất định với người tiền nhiệm. Với tinh thần xuyên suốt là vì lợi ích nước Mỹ, vì sự lãnh đạo thế giới của Mỹ, Tổng thống D. Trump sẽ vẫn tiếp tục thực thi chính sách “xoay trục” nhưng với cách làm mới và phương pháp mới. Vấn đề Biển Đông vẫn sẽ là một trong những trọng điểm trong chính sách “xoay trục” của Mỹ. Sự cạnh tranh chiến lược của Mỹ với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ diễn ra trong tình trạng “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, nhưng mặt cạnh tranh, đấu tranh sẽ mạnh hơn nhiều, thậm chí gay gắt hơn[16].

2.2. Sự điều chỉnh chiến lược của Nga

Nghiên cứu sự phát triển tư duy của giới lãnh đạo Nga kể từ khi Liên Xô tan rã, có thể khẳng định, sự điều chỉnh chiến lược của Nga đối với châu Á không phải là sự điều chỉnh chiến lược mang tính tình thế hoặc nhất thời nhằm đối phó với Mỹ và phương Tây, mà là thể hiện chiến lược hướng Đông, hay còn được gọi là “xoay trục” tới châu Á kể từ khi Tổng thống Nga V. Pu-tin lên cầm quyền vào năm 2000, xuất phát từ 4 lý do quan trọng nhất: 1- Thế kỷ XXI sẽ là “Thế kỷ châu Á - Thái Bình Dương”; 2- Sự đối đầu giữa phương Tây do Mỹ đứng đầu và Nga nằm trong chiến lược dài hạn sau Chiến tranh lạnh với toan tính của phương Tây làm tan rã nước Nga như một quốc gia có chủ quyền; 3- Nga là cường quốc nằm trên hai châu lục Á và Âu; 4- Trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, yếu tố cạnh tranh sẽ ngày càng nổi trội, buộc Trung Quốc phải liên kết với Nga để đối phó với Mỹ. Do đó, giữa Nga và Trung Quốc hình thành “mối liên kết tự nhiên”.

Sự điều chỉnh chiến lược của Nga nhằm: 1- Khai thác tiềm năng các nền kinh tế đang phát triển nhanh ở châu Á để thu hút đầu tư cho phát triển khu vực Xi-bê-ri và Viễn Đông của Nga; 2- Tiếp cận thị trường rất lớn về tài nguyên năng lượng ở châu Á với vai trò là nhà xuất khẩu năng lượng lớn nhất thế giới; 3- Mở rộng thị trường vũ khí trang thiết bị rộng lớn ở châu Á do các nước trong khu vực này có nhu cầu rất lớn về vũ khí trang bị hiện đại.

Sự điều chỉnh của Nga trong quan hệ đối tác với ASEAN là một trong những ưu tiên trong chính sách của Nga ở châu Á - Thái Bình Dương bởi Nga và ASEAN có quan hệ gắn kết với nhau dựa trên nền tảng lịch sử bền vững, sự gần gũi hoặc trùng hợp về quan điểm đối với nhiều vấn đề toàn cầu và khu vực, tạo khả năng to lớn để hai bên cùng phối hợp hoạt động trong các công việc quốc tế. Nga và ASEAN ủng hộ việc xây dựng cấu trúc khu vực hoàn thiện hơn ở châu Á - Thái Bình Dương theo nguyên tắc bình đẳng và minh bạch, dựa trên cơ sở đa trung tâm, quyền tối cao của pháp luật, tính đến lợi ích của tất cả các nước trong khu vực dựa trên cơ sở Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á mà Nga đã tham gia từ năm 2004. Theo quan điểm của mình, Nga không có tham vọng giành ưu thế quân sự, cũng không đặt ra nhiệm vụ bảo đảm an ninh biên giới phía Đông của Nga làm phương hại đến an ninh của các nước khác; không có kế hoạch xây dựng căn cứ ở châu Á - Thái Bình Dương, không xây dựng liên minh quân sự bí mật với các nước trong khu vực, không cạnh tranh với bất kỳ các nước nào trong việc tranh giành ảnh hưởng. Nga khẳng định tôn trọng chủ quyền của các nước trong khu vực, ủng hộ sự đa dạng của mô hình phát triển, đối thoại giữa các nền văn hóa và tôn giáo; hợp tác với các nước trong khu vực trong khuôn khổ cơ chế đa phương hiện có và sẵn sàng đề xuất sáng kiến xây dựng các diễn đàn mới, như tăng cường tiếp xúc chặt chẽ hơn nữa giữa ASEAN với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Hai bên có đủ các điều kiện cần thiết, gồm ý chí chính trị, truyền thống hữu nghị lâu đời, nền tảng hợp tác bền vững và sự quan tâm về lợi ích của nhau. Diễn đàn Nga - ASEAN năm 2010 là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử quan hệ giữa Nga và ASEAN. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Nga kỷ niệm 20 năm quan hệ đối tác đối thoại được tổ chức tại Xô-chi (Nga) tháng 5/2016, hai bên đã đề ra khuôn khổ hợp tác mới để đưa mối quan hệ đi vào chiều sâu, hướng tới quan hệ đối tác chiến lược trong tương lai[17].

2.3. Sự điều chỉnh chiến lược của Nhật Bản

Ngày 1/7/2014 là dấu mốc quan trọng trong quá trình điều chỉnh chính sách quốc phòng của Nhật Bản để trở thành một “quốc gia bình thường”, thể hiện qua việc nội các nước này đưa ra lời giải thích mới về nội dung Điều 9 của Hiến pháp, theo đó Lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ tham gia sứ mệnh phòng thủ tập thể bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Trong một tuyên bố được đưa ra ngày 2/7/2014, Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-bê giải thích rõ, theo quyết định của Chính phủ Nhật Bản diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp, Nhật Bản có 4 phương án hành động để thực hiện quyền phòng vệ tập thể. Phương án 1 là sử dụng hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia để đánh chặn các tên lửa đang bay nhằm vào các mục tiêu của Mỹ. Phương án 2 là triển khai lực lượng phòng vệ trên biển JMSDF (Japan Maritime Self-Defense Force) của Nhật Bản một khi các tàu của Mỹ bị tấn công ở các vùng biển xa. Phương án 3 là sử dụng các lực lượng phòng vệ Nhật Bản JSF để thực hiện một cuộc phản công nếu một bộ chỉ huy liên quân có sự tham gia của Nhật Bản bị một quốc gia nào đó tấn công trên lãnh thổ nước ngoài. Phương án 4 là sử dụng lực lượng quân sự để loại bỏ những trở ngại trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Bốn phương án trên được đưa ra trong bối cảnh Nhật Bản luôn ở trong trạng thái sẵn sàng bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của Liên minh Nhật Bản - Mỹ cũng như bảo đảm lợi ích an ninh của Nhật Bản. Như vậy, theo cách giải thích này, Nhật Bản vẫn tuân thủ chủ trương phòng vệ chứ không phải tiến công, kể cả khi phải đối phó với Trung Quốc trong các cuộc tranh chấp liên quan tới quần đảo Xen-ca-cư/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.

Trên cơ sở diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp, Nhật Bản đã xây dựng Đạo luật an ninh mới có hiệu lực từ ngày 28/3/2016. Theo Đạo luật này, lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản được phép tham gia các hoạt động quân sự ở nước ngoài. Sự điều chỉnh này sẽ có tác động tới cục diện chính trị - quân sự khu vực và thế giới[18].

2.4. Sự điều chỉnh chiến lược của Ấn Độ

Sự điều chỉnh chiến lược của Ấn Độ đối với châu Á - Thái Bình Dương được thể hiện rõ nhất ở “chính sách hướng Đông” được công bố chính thức vào năm 1992 nhằm tăng cường quan hệ với các nước ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nói chung. Đây là một trong những điều chỉnh chính sách đối ngoại quan trọng của Ấn Độ thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh. Năm 2000, Bộ Quốc phòng Ấn Độ đề cập đến Biển Đông như là điểm cực đông trong hành trình chiến lược của Hải quân Ấn Độ tại Ấn Độ Dương và cho biết Biển Đông thuộc phạm vi khái niệm “láng giềng mở rộng” về phía đông trong “chính sách hướng Đông”. Năm 2014, trong bản tuyên bố chung sau cuộc gặp cấp cao giữa Thủ tướng Ấn Độ N. Mô-đi và Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma, chính sách “Hành động phía Đông” đã được đưa ra thay cho “Chính sách hướng Đông”.

Hiện nay, Ấn Độ công khai khẳng định lợi ích của mình ở Biển Đông thể hiện trên cả khía cạnh kinh tế và an ninh.

Về kinh tế, khoảng 77% giá trị thương mại và hơn 90% khối lượng thương mại của Ấn Độ được vận chuyển bằng đường biển, trong đó, 55% được vận chuyển qua eo biển Ma-lắc-ca tới các thị trường ở châu Á - Thái Bình Dương. Lợi ích về thương mại của Ấn Độ ở Biển Đông càng tăng khi Ấn Độ và ASEAN đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD vào năm 2015 - 2016. Ngoài ra, Ấn Độ còn có lợi ích về năng lượng trong các dự án hợp tác dầu khí giữa Công ty Dầu khí quốc gia của Ấn Độ (OVL) và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

Về an ninh, sự an toàn của tuyến đường vận tải biển qua Biển Đông có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Ấn Độ. Các thách thức an ninh truyền thống (xung đột leo thang giữa các bên yêu sách) và an ninh phi truyền thống (tội phạm xuyên quốc gia trên biển, cướp biển) ở khu vực này cản trở đường vận tải hàng hóa trên biển của Ấn Độ. Do đó, việc Ấn Độ tăng cường hiện diện hải quân và “quyền tiếp cận” ở Biển Đông là một phần quan trọng trong lợi ích của Ấn Độ. Theo chiều hướng đó, Ấn Độ đã thiết lập quan hệ hợp tác an ninh với Nhật Bản và Ôxtrây-li-a.

Mối quan tâm của các cường quốc khu vực và thế giới khiến khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng “nóng” lên. Cùng với cơ hội phát triển, thách thức đang gia tăng đối với nhiều quốc gia trong khu vực. Việc nắm bắt, khai thác cơ hội, thời cơ và vượt qua thách thức từ sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chiến lược của mỗi quốc gia trong khu vực[19].

3.                  Quan niệm của Trung Quốc về khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Đặc điểm địa lý, quy mô kinh tế và tương lai phát triển không hạn chế là những nhân tố quyết định để khu vực châu Á-Thái Bình Dương thay thế khu vực châu Âu-Đại Tây Dương thành trọng tâm địa chính trị toàn cầu. Trong bối cảnh mới này, bước đi chiến lược của Trung Quốc sẽ như thế nào?

Môi trường chiến lược địa chính trị và sự lựa chọn chiến lược địa chính trị của Trung Quốc là chủ đề chiến lược lớn thường được nói tới và luôn luôn mới. Chiến lược địa chính trị của Trung Quốc trong tương lai chắc chắn phải lấy châu Á-Thái Bình Dương làm địa bàn trọng điểm cơ bản do Trung Quốc có vị trí địa lý đặc thù nằm ở rìa phía Đông đại lục Âu - Á và trung tâm châu Á-Thái Bình Dương, có nguồn gốc “chế độ thiên tử - chư hầu”, truyền thống chiến lược đặc thù lấy xung quanh làm trọng điểm, có nhu cầu chiến lược trỗi dậy hòa bình và thực tế châu Á-Thái Bình Dương đang trở thành trung tâm địa chính trị của thế giới. Do đó, nghiên cứu môi trường và lựa chọn địa chiến lược của Trung Quốc không thể không lấy sự thay đổi cục diện và dạng thức địa chính trị khu vực châu Á-Thái Bình Dương và sự ứng phó chiến lược làm điểm khởi đầu[20].

3.1.  Sách trắng của Trung Quốc về “chiến lược về hợp tác, an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”

Ngày 11/01/2017, Quốc vụ viện Trung Quốc đã công bố cuốn “Sách trắng” giới thiệu “chiến lược về hợp tác, an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”. Cuốn sách trắng gồm 6 phần như sau: 1) Chủ trương chính sách chủ trương của Trung Quốc đối với sự hợp tác an ninh trong khu vực CA-TBD. 2) Ý tưởng an ninh ở khu vực CA-TBD của Trung Quốc. 3) Mối quan hệ giữa Trung Quốc với những nước chủ yếu trong khu vực CA-TBD . 4) Lập trường và chủ trương của Trung Quốc về các vấn đề nóng trong khu vực. 5) Trung Quốc tham gia cơ chế đa biên trong khu vực. 6) Trung Quốc tham gia hợp tác an ninh phi truyền thống khu vực Châu Á – TBD. Có thể khái quát những nội dung chính về chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương trong cuốn Sách Trắng của Trung Quốc như sau[21]:

3.1.1. Chủ trương chính sách đối với sự hợp tác an ninh trong khu vực CA-TBD

Trước mắt về tổng thể tình hình khu vực CA-TBD vẫn ổn định tốt, hòa bình và phát triển vẫn duy trì mạnh mẽ, nó vẫn là tấm gương ổn định trên toàn cầu. Thúc đẩy sự phát triển hòa bình và ổn định đó là xu hướng chiến lược và nhu cầu chung của mọi quốc gia. Khu vực CA-TBD sẽ không ngừng tăng cường xây dựng lòng tin chính trị giữa các quốc gia. Các nước lớn cùng nhau thúc đẩy, bảo vệ tình trạng hợp tác. Thông qua đối thoại hiệp thương, xử lý những bất đồng và cạnh tranh là xu hướng chính sách chủ yếu của các nước. Những điểm nóng và các vấn đề tranh chấp, về cơ bản đã được khống chế. Nền kinh tế khu vực CA-TBD vẫn duy trì được sự bình ổn và tăng trưởng tương đối nhanh, ở vào “điểm cao” của tăng trưởng kinh tế thế giới. Nhất thể hóa khu vực đã không ngừng được đẩy mạnh, tiếp đến là sự hợp tác trong khu vực đã phát triển mạnh mẽ. Các loại hình mậu dịch tự do cũng không ngừng được đẩy mạnh, cùng nhau xây dựng để bước vào thời kỳ năng động mới. Nhưng, đồng thời khu vực CA-TBD vẫn phải đối mặt với những bất ổn định, với những nhân tố không xác định. Những phức tạp, nhạy cảm ở bán đảo Triều Tiên, tiến trình hòa giải ở Apganistan vẫn diễn ra chậm chạp, tranh chấp chủ quyền trên đất liền và sự tranh chấp quyền lợi trên biển vẫn tiếp tục diễn ra ác liệt. Một số nước lớn trong khu vực đã tăng cường đẩy mạnh bố trí quân sự ở khu vực CA-TBD. Cá biệt có những quốc gia đã đẩy mạnh lực lượng quân sự. Có những quốc gia chuyển qua những loại hình xã hội chính trị phức tạp, chủ nghĩa khủng bố, thảm họa thiên tai, tội phạm xuyên quốc gia…an ninh phi truyền thống ngày càng tăng. Do ảnh hưởng của những vấn đề có tính cơ cấu và những khủng hoảng kinh tế tiền tệ, nền kinh tế Châu Á vẫn đang đối mặt với những áp lực to lớn. Là một thành viên quan trọng trong đại gia đình CA-TBD, TQ đã hiểu sâu sắc về nền hòa bình tự thân và những tương quan dần dần xuất hiện trong tương lai của khu vực CA-TBD. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ thúc đẩy sự ổn định phồn vinh của khu vực CA-TBD. TQ sẽ nguyện cùng với các quốc gia trong khu vực duy trì quan niệm cùng thắng, thực hiện đẩy mạnh hợp tác đối thoại an ninh, cùng nhau bảo vệ hòa bình ở khu vực CA-TBD và bảo vệ cục diện tốt đẹp ở đây.

- Thúc đẩy cùng phát triển:

Thực hiện trên cơ sở kinh tế ổn định, thúc đẩy hòa bình trong khu vực CA-TBD. Mở rộng hài hòa lợi ích kinh tế là cơ sở quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia, thực hiện cùng phát triển là sự bảo đảm căn bản cho việc duy trì hòa bình ổn định, là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề an ninh. Sự hợp tác kinh tế trong khu vực CA-TBD đã giành được những thành tựu to lớn, nên cần phải trên nền tảng đó thúc đẩy nhanh tiến trình nhất thể hóa kinh tế, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng khu vực mậu dịch tự do, cùng nhau đàm phán, hợp tác mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế - xã hội. Thực hiện nghị quyết đẩy mạnh phát triển của LHQ đến năm 2030, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia trong khu vực, làm cho mọi tầng lớp người dân giữa các nước trong khu vực cùng nhau hưởng lợi từ sự phát triển đó, giữ vững lợi ích căn bản của các nước.

Nhìn vào sự cùng nhau phát triển, TQ đã đề xuất sáng kiến xây dựng “Một vành đai, một con đường”, đề xuất xây dựng ngân hàng cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) và con đường tơ lụa. TQ hoan nghênh các quốc gia tiếp tục tích cực tham gia, thực hiện cùng thắng.

- Thúc đẩy xây dựng quan hệ bạn bè, củng cố cơ sở chính trị hòa bình ổn định khu vực Châu Á - Thái Bình Dương:

Các nước trong khu vực CA-TBD vốn có những đặc điểm đa dạng, đặc thù.Nhưng lại cùng chí hướng giữ tình bạn bè. Cầu đồng, tồn dị, đồng dạng cũng có thể trở thành bạn bè, điểm mấu chốt là đối xử với nhau bình đẳng, hợp tác cùng thắng. Đối với các nước lớn trong khu vực CA-TBD, trong công cuộc bảo vệ hòa bình và phát triển, cần phải bình tĩnh khách quan, nhìn nhận khách quan ý đồ chiến lược của đối phương, cần từ bỏ tư duy chiến tranh lạnh, cùng tôn trọng những lợi ích hợp lý chính đáng, tăng cường hành động vì lương tri, cùng hợp tác ứng phó với những thách thức của khu vực.

Đối với những quốc gia vừa và nhỏ, không nắm giữ vai trò tất yếu (lớn), thì cũng không nên thiên vị, nghiêng hẳn sang một bên nước lớn nào. Các quốc gia trong khu vực cùng phải cố gắng, tìm kiếm đối thoại, tránh đối đầu, làm bạn bè, chứ không kết nối đồng minh, cùng nhau xây dựng mối quan hệ bạn bè trong khu vực CA-TBD: cùng tin tưởng, cùng bao dung, cùng hợp tác, cùng thắng…

TQ đưa ra ý tưởng xây dựng mối quan hệ quốc tế mới lấy hợp tác, cùng thắng làm hạt nhân, dốc sức cùng các nước, các tổ chức trong khu vực, xây dựng mối quan hệ bạn bè với những hình thức khác nhau. TQ cũng ra sức cùng với nước Mỹ xây dựng mối quan hệ “nước lớn kiểu mới”, không xung đột, không đối kháng, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng có lợi.

TQ ra sức xây dựng mối quan hệ bạn bè hợp tác chiến lược với Nga. Tích cực xây dựng mối quan hệ bạn bè phát triển ngày càng nồng ấm với Ấn Độ. Thúc đẩy mối quan hệ Trung - Nhật tiếp tục được cải thiện.

Những người lãnh đạo TQ đã nhiều lần, trong những trường hợp khác nhau đưa ra những lý luận về “cộng đồng vận mệnh chung”, tích cực thúc đẩy cộng đồng vận mệnh chung giữa các quốc gia sông Lan Thương (TQ) với các nước tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (Các nước ASEAN), và cộng đồng vận mệnh khu vực CA-TBD với các nước châu Á…

- Hoàn thiện cơ chế đa biên hiện có ở khu vực:

Củng cố sự ủng hộ trong khuôn khổ hòa bình ổn định trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Các nước trong khu vực CA-TBD kiên trì chủ nghĩa đa biên, phản đối chủ nghĩa đơn cực, tiếp tục ủng hộ sự phát triển của cơ chế an ninh đa biên trong khu vực. Đẩy mạnh sự phối hợp, điều tiết mật thiết cơ chế cùng quan tâm. Vì sự tăng cường hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau, mở rộng giao lưu, đối thoại an ninh và hợp tác đã phát huy tác dụng ngày càng lớn.

TQ ra sức đẩy mạnh xây dựng cơ chế an ninh trong khu vực, cùng với những nước hữu quan khác cùng nhau xây dựng tổ chức hợp tác Thượng Hải và Hội đàm 6 bên, xây dựng diễn đàn Hương Sơn, thành lập cơ chế đối thoại cấp Bộ trưởng hợp tác an ninh, chấp pháp giữa TQ và ASEAN, xây dựng trung tâm hợp tác an ninh chấp pháp tổng hợp sông Lan Thương - Tiểu vùng sông Mê Công. Tích cực ủng hộ châu Á cùng nhau hợp tác và tin tưởng thực thi hội nghị nâng cao năng lực và xây dựng thể chế. Tham gia cơ chế hợp tác đối thoại an ninh nhiều bên do ASEAN làm chủ đạo. Trong các cơ chế của khu vực, TQ đã đưa ra hàng loạt các đề xuất hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Đã thúc đẩy hiệu quả về giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực liên quan. TQ còn gánh vác các trách nhiệm an ninh khu vực và quốc tế. TQ đã đưa ra nhiều thành phần an ninh công cộng cho khu vực và trên thế giới.

- Đẩy mạnh xây dựng qui hoạch, hoàn thiện bảo đảm chế độ hòa bình, ổn định ở khu vực CA-TBD:

Hòa bình giữa các nước đòi hỏi duy trì tinh thần pháp trị, tuân thủ lấy “Hiến chương của Liên Hợp quốc” làm tôn chỉ và là nguyên tắc, là chuẩn tắc của quan hệ quốc tế, được bảo đảm trên nguyên tắc tiếp nhận phổ biến, công bằng hợp lý. Quy tắc của Quốc tế và khu vực là tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, cùng kinh doanh, buôn bán, cùng xây dựng, cùng hưởng lợi.

Không thể lấy qui tắc của một quốc gia cá biệt làm “qui tắc quốc tế”, càng không thể cho phép một quốc gia cá biệt đội cái mũ “pháp trị” để xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của nước khác.

TQ là nước tích cực xây dựng và ủng hộ kiên định pháp luật quốc tế và trật tự quy tắc của khu vực. TQ là quốc gia thực hiện tinh thần pháp trị trong mối quan hệ quốc tế hiện nay. TQ cùng với các nước như Ấn Độ, Myanmar, từ năm 1954 đã cùng nhau đề xướng và chỉ đạo 5 nguyên tắc chung sống hòa bình. Cho đến nay, TQ đã bước vào thực thi hiệp ước có hơn 400 hạng mục quốc tế đa biên và các tổ chức quốc tế giữa các chính phủ trên thế giới. TQ đã dốc sức ủng hộ trật tự an ninh trên biển của khu vực, tăng cường xây dựng cơ chế quy tắc. Năm 2014, TQ thúc đẩy tổ chức “Năm diễn đàn hải quân Tây Thái Bình Dương”, thông qua “qui tắc tương ngộ xảy ra trên biển”. TQ cùng với các nước ASEAN tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả “Tuyên bố ứng xử trên biển Đông”, giành sự nhất trí trong đàm phán trên cơ sở sớm đạt được “Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông”. Ngoài ra, TQ còn tích cực tham dự không gian mạng, hiệp thương quy tắc cương vực (biên giới) quốc tế. Thúc đẩy xây dựng nguyên tắc quốc tế tiếp thu phổ biến, công bằng hợp lý.

- Hợp tác chặt chẽ giao lưu quân sự, tăng cường sức mạnh bảo vệ hòa bình và ổn định ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương:

TQ đứng trước sự uy hiếp và thách thức an ninh đa nguyên, phức tạp, đã bảo vệ nhiệm vụ nặng nề, giản khổ là thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ. Xây dựng quân đội mạnh mẽ, củng cố quốc phòng, thích ứng với an ninh quốc gia và lợi ích phát triển, xây dựng địa vị quốc tế của TQ là nhiệm vụ chiến lược xây dựng hiện đại hóa TQ, đó cũng là thực hiện xây dựng thành trì kiên cường phát triển hòa bình. Lực lượng vũ trang của TQ vì sự phát triển đất nước đã dám đương đầu bảo vệ an ninh và bảo đảm an toàn đất nước, đã cống hiến tích cực cho sự nghiệp bảo vệ hòa bình thế giới và ổn định trong khu vực CA - TBD.

Lực lượng vũ trang TQ là người khởi xướng sự hợp tác an ninh quốc tế, là người thúc đẩy và người tham gia kiên trì 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, triển khai toàn diện trao đổi quân sự trong, ngoài nước, phát triển không kết đồng minh, không đối ứng, không tính toán (không phản đối) quan hệ hợp tác quân sự đối với bên thứ ba. Thúc đẩy xây dựng cơ chế an ninh tập thể công bằng có hiệu quả và cơ chế cùng tin tưởng lẫn nhau về quân sự. TQ kiên trì trên cơ sở cùng tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng cùng có lợi, hợp tác cùng thắng. Đi sâu giao lưu, hợp tác với quân đội các nước, tăng cường thực thi hợp tác tín nhiệm khu vực biên giới, thúc đẩy đối thoại và hợp tác an ninh trên biển, tham gia LHQ, duy trì hòa bình, hợp tác chống khủng bố quốc tế, cứu nạn trên biển, mở các lớp bồi dưỡng huấn luyện giữa TQ với các nước.

- Xử lý thỏa đáng những mâu thuẫn, khác biệt, duy trì hoàn cảnh tốt đẹp hòa bình và ổn định trong khu vực CA – TBD:

Vấn đề điểm nóng trong khu vực CA-TBD, phần lớn do lịch sử để lại. Các nước trong khu vực cần duy trì truyền thống tôn trọng lẫn nhau, cầu đồng tồn dị, cùng chung sống hòa bình... Thông qua trực tiếp đàm phán và hiệp thương xử lý thỏa đáng, giải quyết hòa bình các vấn đề còn tranh cãi, không nên để những vấn đề cũ, làm tổn hại đến sự phát triển, hợp tác trong khu vực, làm phá hoại sự tin tưởng lẫn nhau giữa các nước. Đối với những tranh cãi quyền lợi lãnh thổ và lãnh hải, nên dựa trên cơ sở tôn trọng thực tế lịch sử, căn cứ vào luật pháp quốc tế và luật biển hiện đại, bao gồm “Công ước luật biển của Liên Hợp quốc”, thông qua đàm phán đối thoại giữa các nước có chủ quyền trực tiếp liên quan. Trước khi giải quyết các vấn đề hữu quan, các bên cần tiến hành đối thoại, tìm tòi hợp tác, quản lý tốt tình hình, ngăn chặn mâu thuẫn, xung đột đẩy lên cao, cùng nhau bảo vệ hòa bình và ổn định trong khu vực.

TQ ra sức bảo vệ phương hướng cơ bản, không thay đổi giải quyết hòa bình và ổn định các tranh chấp ở Nam Hải (biển đông), ra sức cùng với các bên đương sự, trực tiếp thông qua đàm phán hiệp thương hữu nghị, giải quyết hòa bình những lợi ích trên bộ và trên biển. TQ tích cực đẩy mạnh giải quyết hòa bình, cố gắng phát huy tác dụng nước lớn, giải quyết hòa bình các vấn đề điểm nóng trong khu vực, như vấn đề hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên, vấn đề Apganixtan[22].

3.1.2.      Ý tưởng an ninh ở khu vực CA-TBD

Ý tưởng là sợi chỉ đỏ dẫn đường của hành động. Giải quyết vấn đề mới đòi hỏi phải có ý tưởng mới. Đứng trước khu vực CA-TBD đang phát triển năng động, như tiến trình nhất thể hóa, những tư duy kiểu cũ, không còn phù hợp như trong thời kỳ chiến tranh lạnh, như: đặt sử dụng vũ lực lên trên hết…Trong tình hình mới, các nước cần tiến bước cùng thời đại, cần lấy tinh thần mở cửa bao dung, để tăng cường đoàn kết hợp tác, tìm tòi ý tưởng an ninh mới, đẩy mạnh hoàn thiện khung khổ an ninh khu vực, tìm con đường mới để bảo vệ an ninh khu vực CA-TBD.

- An ninh chung, tổng hợp, hợp tác, cùng duy trì tiếp tục:

Chủ tịch Tập Cận Bình, tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư châu Á bàn về cùng nhau hợp tác, xây dựng lòng tin tháng 5/2014 đã nêu lên quan điểm: an ninh chung, tổng hợp, hợp tác, cùng duy trì tiếp tục, nỗ lực đi theo con đường an ninh Châu Á - Thái Bình Dương cùng xây dựng, cùng hưởng, cùng thắng (win - win).

+ “An ninh chung” chính là tôn trọng và bảo đảm an ninh cho mỗi quốc gia, không thể để một bộ phận quốc gia này có an ninh, mà một bộ phận quốc gia khác lại không có an ninh. Càng không thể hy sinh an ninh của quốc gia này, để mưu cầu an ninh tuyệt đối cho an ninh của quốc gia khác. Cần phải tôn trọng và đảm bảo an ninh hợp lý cho các bên. Cưỡng bức ép buộc  vào liên minh quân sự của bên thứ 3 sẽ gây ra những bất lợi cho bảo vệ an ninh chung của khu vực CA-TBD.

+ “An ninh tổng hợp” chính là sự tính toán bảo vệ trong lĩnh vực an ninh truyền thống và phi truyền thống, suy xét lịch sử và hiện trạng của vấn đề an ninh khu vực, đề cao quản lý, yên trị trên dưới, thực thi chính sách tổng hợp, thúc đẩy nhịp nhàng quản trị an ninh khu vực. Giải quyết vấn đề an ninh nổi bật trước mắt và trù liệu (tính toán) sẵn sàng ứng phó với những nguy cơ an ninh tiềm ẩn.

+ “Duy trì tiếp tục an ninh” chính là cần sự phát triển và an ninh, thực hiện an ninh lâu dài. Các bên cần phải tập trung vào chủ đề phát triển, tích cực cải thiện dân sinh, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, không ngừng vun đắp cho cái gốc của an ninh. Đẩy mạnh cùng phát triển, và tiến trình nhất thể hóa khu vực, đẩy mạnh hợp tác kinh tế trong khu vực và hợp tác an ninh khu vực, duy trì phát triển xúc tiến an ninh lâu dài.

An ninh cần dựa vào quá trình toàn cầu hóa và trào lưu của thời đại đó là sự hòa bình, phát triển, hợp tác, cùng thắng. Đẩy mạnh quá trình nhất thể hóa kinh tế khu vực, tập trung trí tuệ và tri thức chung của các quốc gia trong khu vực. Thể hiện nhu cầu bức thiết của sự hợp tác. Nhiều bên nhằm ứng phó với những thách thức của an ninh, để mở ra viễn cảnh rộng lớn của sự hợp tác an ninh trong khu vực CA-TBD.

- Hoàn thiện khung khổ an ninh khu vực:

Bảo vệ an ninh lâu dài trong khu vực CA-TBD, mấu chốt là hoàn thiện trong tương lai, phù hợp với thực tiễn trong khu vực, đáp ứng được khung khổ an ninh do các bên đã đặt ra.

Thứ nhất: Khung khổ an ninh khu vực trong tương lai là đa tầng, cấp, vừa mang tính phối hợp, vừa phải đa dạng hóa. Truyền thống lịch sử của các nước trong khu vực như: thể chế chính trị, trình độ phát triển, và những vấn đề an ninh đều có những khác biệt. Khu vực CA-TBD vốn đã có nhiều cơ chế hợp tác an ninh và các tổ chức hợp tác trên biển do các nước ASEAN làm chủ đạo, nhiều diễn đàn trong khu vực châu Á bàn bạc thảo luận việc hợp tác cùng nhau và thực thi xây dựng lòng tin với nhau, cũng có đồng minh quân sự được hình thành trong lịch sử. Những hình thức đa dạng đó đã quyết định trong ngắn hạn, nhưng khó hình thành nên khung khổ an ninh thống nhất trong khu vực. Nhiều cơ chế hoàn chỉnh là “trạng thái bình thường” của quá trình ủng hộ hòa bình ổn định khu vực. TQ đẩy mạnh xây dựng khung khổ an ninh CA-TBD, không thể để CA-TBD là lò lửa chiến tranh, không thể để đạp đổ tương lai, mà là phải hoàn thiện và nâng cấp cơ chế hòa bình ổn định an ninh trong khu vực.

Thứ hai, khung khổ an ninh trong khu vực trong tương lai là sự nghiệp chung của các nước trong khu vực. Đa phương hóa là xu hướng lớn của toàn cầu, sự nghiệp an ninh khu vực là do các nước trong khu vực tham gia bình đẳng, cùng quyết định. Khung khổ an ninh khu vực xây dựng lợi ích chung cho các nước có liên quan trong khu vực, đòi hỏi tất cả các nước cùng tích cực tham gia, đóng góp những khả năng sẵn có của nước mình. CA-TBD là khu vực tập trung lợi ích của những nước lớn, là khu vực cùng nhau thúc đẩy sự phồn vinh chung, các nước lớn cần cùng nhau thúc đẩy hoàn thiện khung khổ an ninh khu vực, phát huy hiệu quả trong việc ứng phó với thách thức ngày càng phức tạp cho an ninh khu vực. Các đồng minh quân sự hữu quan, hai bên cần tăng cường tính minh bạch, tránh đối đầu, phát huy tác dụng xây dựng hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ ba, khung khổ an ninh khu vực trong tương lai, cần được xây dựng trên cơ sở nhận thức chung, những cấu trúc khung khổ an ninh khu vực là quá trình tiệm tiến (dần dần) lâu dài không thể chỉ ngày một, ngày hai mà hình thành được. Các nước cần phải tiếp tục tăng cường hợp tác đối thoại, không ngừng tích lũy, trên cơ sở nhận thức chung, đẩy mạnh xây dựng khung khổ an ninh khu vực. Trước mắt, cần tiếp tục lấy việc hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống làm trọng, làm từ dễ đến khó, từ nông đến sâu, tạo dựng niềm tin, từng bước xây dựng cơ sở vững chắc cho khung khổ an ninh khu vực.

Thứ tư, khung khổ an ninh khu vực trong tương lai, cần được xây dựng đồng bộ, hài hòa với khung khổ kinh tế trong khu vực. An ninh và phát triển có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, bổ sung lẫn nhau. Khung khổ an ninh và khung khổ kinh tế là những bộ phận hợp thành chủ yếu của toàn bộ khung khổ khu vực, cần được nghiên cứu sâu sắc, hệ thống, cùng được thúc đẩy, phát triển song hành. Một mặt, thông qua sự hoàn thiện không ngừng khung khổ an ninh, xác lập hoàn cảnh môi trường hòa bình ổn định cho nhu cầu phát triển kinh tế. Mặt khác, thông qua đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa kinh tế khu vực, xây dựng khung khổ an ninh đề ra sự ủng hộ kinh tế xã hội vững chắc[23].

3.1.3.  Mối quan hệ giữa TQ với những quốc gia chủ yếu trong khu vực CA-TBD

Ngoài mối quan hệ giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Ấn Độ , Sách Trắng đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa Trung Quốc với Mỹ và Trung Quốc với Nga như sau:

Mối quan hệ Trung - Mỹ: Từ năm 2015 đến nay, mối quan hệ Trung - Mỹ về tổng thể vẫn duy trì được tiến triển ổn định và giành được những thành tựu mới. Hai nước có giao lưu mật thiết giữa lãnh đạo cấp cao và các cấp khác nhau. Sự hợp tác đi vào chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. Hai bên đã có những bước tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực, như chống biến đổi khí hậu, vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên, vấn đề hạt nhân ở Iran, vấn đề Xiri, Apganixtan...

Hai nước tiếp tục thông qua các bên đàm phán các cấp của hai bên, giao lưu trao đổi đàm phán khu vực CA-TBD, đồng ý cố gắng xây dựng mối quan hệ hợp tác cùng hành động, bao dung hai bên về các vấn đề trong khu vực CA-TBD. Hai bên trong khung khổ các diễn đàn đa phương, như tại Tổ chức hợp tác kinh tế CA-TBD (APEC), trong các hội nghị thượng đỉnh Đông Á, các diễn đàn ASEAN... trong hội nghị chống biến đổi khí hậu, chống khủng bố, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ động vật hoang dã, chống thảm họa thiên tai...hai bên đã có sự hợp tác chặt chẽ. Hai bên đã đạt được những bước tiến mới, thuận lợi hơn về các vấn đề, như vấn đề Apganixtan, vấn đề bồi dưỡng hợp tác 3 bên về nông nghiệp...

Quan hệ quân sự hai bên về tổng thể vẫn duy trì được sự phát triển ổn định. Từ năm 2015 đến nay, hợp tác quân sự 2 bên đã tiếp tục phát triển chặt chẽ. Hai bên đã xây dựng được cơ chế hai niềm tin lớn là “Cơ chế thông báo lẫn nhau các hành động quân sự lớn” và “Chuẩn tắc hành vi an ninh trên biển, trên không”.

Năm 2015, quân đội 2 bên đã tiến hành diễn tập chung và giao lưu nghiên cứu, thảo luận hợp tác cứu nạn, thực hành chủ nghĩa nhân đạo ở hai nước. Hai bên còn cùng nhau tham gia cùng nhau diễn tập đa phương lục quân Trung, Mỹ, Úc, như  “Tìm tòi Khả  Hãn - 2015”, và “ Khoa Ngõa Lý - 2015”. Tháng 1/2016, cuộc gặp gỡ giữa Bộ Quốc phòng Trung - Mỹ được tổ chức tại Bắc Kinh, TQ. Tháng 5/2016, cuộc gặp gỡ trao đổi giữa Tổng tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Liên hợp Quân giải phóng TQ với Chủ tịch Hội đồng tham mưu quân đội Hoa Kỳ tại Bắc Kinh. Từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 8/2016, quân đội TQ cử 153 biên đội đến Mỹ tham gia cuộc diễn tập liên hợp “Vòng tròn Thái Bình Dương - 2016”. Tháng 7, tháng 8/2016, Hải quân Mỹ, Bộ trưởng tác chiến Hải quân và Bộ trưởng tham mưu Lục quân Mỹ đã đến thăm TQ. Phía TQ nguyện tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ Trung - Mỹ, đẩy mạnh sự phát triển ổn định bền vững, và nỗ lực, kiên trì cùng với chính quyền mới của Tổng thống D.Trump, loại bỏ những xung đột, đối kháng, tôn trọng lẫn nhau, giữ vững nguyên tắc hợp tác cùng thắng, khai thác sự hợp tác đa lĩnh vực của hai nước, trên các cấp độ song phương, khu vực, toàn cầu, lấy hợp tác xây dựng để giảm bớt các hạn chế, bất đồng, thúc đẩy mối quan hệ Trung - Mỹ giành được những tiến triển to lớn, mới mẻ, tạo ra những hạnh phúc to lớn, tốt đẹp hơn cho nhân dân hai nước và nhân dân các nước trong khu vực CA-TBD[24].

Mối quan hệ Trung - Nga

TQ và Liên bang Nga là quốc gia láng giềng lớn nhất. Hai nước là người bạn chiến lược, có ưu tiên ngoại giao. Nhiều năm qua, do sự nỗ lực giữa hai nước, mối quan hệ Trung - Nga đã phát triển với tốc độ nhanh chóng, ổn định, hữu hảo, và không ngừng thu được những kết quả mới. Hiệp ước ký năm 2001 giữa hai nước “Hiệp ước hợp tác hữu hảo láng giềng Trung - Nga” đã lấy hình thức pháp luật để xác lập ý tưởng hữu hảo muôn đời. Năm 2011, mối quan hệ hai bên được nâng lên cấp cao hơn, trở thành mối quan hệ bạn bè hợp tác chiến lược toàn diện: bình đẳng tin tưởng lẫn nhau, cùng ủng hộ lẫn nhau, cùng phồn vinh, hữu hảo muôn đời. Năm 2014, mối quan hệ hai nước bước vào giai đoạn mới, đó là, mối quan hệ bạn bè hợp tác chiến lược toàn diện.

Trước mắt, mối quan hệ bạn bè hợp tác chiến lược toàn diện Trung - Nga ở một trình độ cao, phát triển tích cực. Chủ tịch Tập Cận Bình đã gặp gỡ nhiều lần với Tổng thống Nga V.Putin. Tháng 6/2016, trong thời gian Tổng thống Nga V.Putin thăm TQ, cả 2 vị lãnh đạo cao nhất đã ký kết: “Bản tuyên bố chung”, “Bản tuyên bố về tăng cường ổn định chiến lược toàn cầu”, “Bản tuyên bố về hợp tác đẩy mạnh phát triển không gian mạng”. Nguyên thủ hai nước đã gặp gỡ lần thứ 3 tại Hàng Châu nhân cuộc gặp G20, đã thảo luận việc tăng cường tham gia vào những vấn đề lợi ích cốt lõi của hai bên, ra sức đề cao ý tưởng hữu hảo thời đại, xây dựng “Hiệp ước hợp tác hữu nghị láng giềng Trung - Nga”, tích cực triển khai phát triển chiến lược đối tác trong việc xây dựng kết nối sáng kiến “một vành đai, một con đường” với hợp tác đối tác xây dựng “liên minh kinh tế Á – Âu”, làm tốt hoạt động “Năm giao lưu toàn diện Trung - Nga”, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng các công việc quốc tế và khu vực, tiếp thêm động lực mới, mạnh mẽ, cho sự phát triển quan hệ hai nước. Trung Quốc duy trì sự hợp tác tốt đẹp Trung - Nga trong các công việc quốc tế tại khu vực CA - TBD. Hai bên không ngừng tăng cường sự hợp tác trong khung khổ đa phương của khu vực, kiên định bảo vệ tôn chỉ của Hiến chương Liên Hợp quốc, những qui tắc trong quan hệ quốc tế, ủng hộ những thành quả thắng lợi của thế chiến thứ II, ủng hộ công bằng, chính nghĩa quốc tế, đẩy mạnh tiến trình giải quyết bằng chính trị những điểm nóng trong khu vực, cống hiến mới cho việc xây dựng hòa bình, ổn định và phát triển phồn vinh cho khu vực.

Phát triển từng bước mối quan hệ quân sự giữa hai nước Trung - Nga. Năm 2015, hai nước cùng nhau kỷ niệm 70 năm chiến thắng phát xít. Hai bên đã cử đoàn quân sự cấp cao tham gia lễ duyệt binh tại Quảng trường đỏ (Matxcơva). Lần đầu tiên trong một năm có 2 cuộc diễn tập liên hợp giữa 2 nước trên biển. Phía Trung Quốc tham gia tất cả các hạng mục thi đấu quân sự quốc tế do Nga là chủ nhà. Nga đã tổ chức thành công “Tuần quân sự văn hóa TQ” tại Nga. Từ năm 2016 đến nay, hai nước tiếp tục có các hoạt động chung như cùng nhau tổ chức các cuộc diễn tập. Trung Quốc đã sang Nga tham gia các cuộc thi đấu quân sự quốc tế. Hai nước đến tháng 9/2016 đã tổ chức thành công cuộc diễn tập quân sự “Liên hợp trên biển - 2016”. Quân đội 2 bên đã duy trì phối hợp chặt chẽ trong khung khổ hợp tác an ninh của “Tổ chức hợp tác Thượng Hải” (SCO)[25].

3.1.4. Lập trường và chủ trương của Trung Quốc về các vấn đề nóng trong khu vực.

Sách Trắng đã nói rõ lập trường của Trung Quốc về các điểm nóng như:

1. Vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên

2. Vấn đề chống tên lửa đạn đạo

3. Vấn đề Apganixtan

4. Vấn đề chống chủ nghĩa khủng bố

5. Vấn đề trên biển

Riêng lập trường của Trung Quốc ở điểm nóng trên biển đã được Trung Quốc trình bày như sau:

Về tổng thể tình hình an ninh trên biển khu vực CA - TBD vẫn được duy trì ổn định. Bảo vệ hòa bình an ninh trên biển và tự do bay lại trên không là lợi ích và nhận thức chung của các bên. Nhưng an ninh phi truyền thống trên biển đã uy hiếp mạnh mẽ và ngày càng leo thang. Không ít vấn đề môi trường sinh thái trên biển đã bị phá hoại, các thảm họa tự nhiên trên biển đã xảy ra liên tục, như tràn dầu, những sản phẩm hóa chất độc hại nguy hiểm đã làm ô nhiễm môi trường biển… trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống ở một số nước vẫn còn tồn tại những cách khai thác, sử dụng biển một cách lạc hậu, đã đem lại những hiểm họa khôn lường cho an ninh, an toàn trên biển.

Trung Quốc nhất quán đề cao hợp tác an ninh trên biển: bình đẳng, thực tiễn, cùng thắng, kiên quyết tuân theo tôn chỉ và nguyên tắc của “Hiến chương Liên Hợp quốc”, công nhận luật pháp quốc tế, luật biển hiện đại, bao gồm nguyên tắc cơ bản đã được xác định trong “Công ước luật biển năm 1982 của Liên hợp quốc”, “chế độ pháp luật” và “5 nguyên tắc chung sống hòa bình”. Lấy đó làm cơ sở để giải quyết các vấn đề trên biển. Trung Quốc kiên quyết hợp tác ứng phó với những uy hiếp an ninh truyền thống và phi truyền thống trên biển. Bảo vệ hòa bình an ninh trên biển là trách nhiệm chung của các quốc gia trong khu vực, phù hợp với lợi ích chung của các bên. Trung Quốc dốc sức tăng cường hợp tác với các bên, cùng nhau ứng phó với những thách thức, bảo vệ sự ổn định hòa bình trên biển.

Trung Quốc vốn có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và biển phụ cận. Trung Quốc trước sau kiên trì thông qua đàm phán hiệp thương hòa bình để giải quyết các tranh chấp, kiên quyết thông qua xây dựng các qui tắc và xây dựng các cơ chế để kiềm chế những tranh cãi, kiên quyết thông qua hợp tác cùng có lợi, để thực hiện “cùng thắng”, kiên quyết ủng hộ Nam Hải (biển Đông) hòa bình ổn định và tự do lưu thông trên biển, trên không.

Trung Quốc cùng với nước ASEAN duy trì đối thoại mật thiết vấn đề Nam hải (biển Đông), đang thực hiện toàn diện, có hiệu quả sự hợp tác hiện thực trên biển, trong khung khổ “Tuyên bố ứng xử giữa các bên trên biển Đông” (Doc), và từng bước tiến hành đàm phán, ký kết “Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên trên biển Đông) (COC), cho đến nay vẫn đang có những bước tiến triển tích cực. Trung Quốc kiên quyết phản đối một quốc gia đơn lẻ, vì lợi ích riêng lẻ của mình, đã làm rối loạn trắng đen, phải trái tình hình trong khu vực. Đối với những hành động gây hấn xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, đến lợi ích biển của Trung Quốc, dã tâm khiêu khích phá hoại đến hòa bình ổn định trên Nam hải (biển Đông), thì Trung Quốc không thể không có những hành động phản ứng kịp thời. Bất cứ những cách làm, hòng “quốc tế hóa”, “tư pháp hóa” các vấn đề ở Nam hải (biển Đông) đều không giúp ích gì cho việc giải quyết những tranh chấp, mà nó còn làm gia tăng thêm những khó khăn, thách thức để giải quyết vấn đề, gây nguy hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực.

Mối quan hệ Trung - Nhật ở Đông hải vẫn còn tồn tại các vấn đề như đảo Điếu Ngư và vấn đề cắm mốc phân chia biên giới biển giữa hai nước. Đảo Điếu Ngư và các đảo phụ cận đều là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc, chủ quyền đảo Điếu Ngư của Trung Quốc vốn có căn cứ pháp lý và lịch sử đầy đủ. Mối quan hệ Trung - Nhật về vấn đề Đông hải vẫn được duy trì các cuộc đối thoại hai bên, đã tiến hành điều nhiều chuyến tàu biển cấp cao đến thăm dò, thương lượng, nhằm khai thông các nguy cơ còn tiềm ẩn xung quanh vùng biển, vùng trời Đông hải như: chấp hành pháp luật trên biển, thăm dò dầu khí, khảo sát khoa học, tổ chức đánh bắt cá v.v. và đã đạt được những nhận thức chung. Phía Trung Quốc tiếp tục thông qua đối thoại, thương lượng giữ vững thiện ý, nhằm giải quyết các vấn đề hữu quan.

Các vấn đề phân chia biên giới lãnh hải giữa Trung Quốc và Hàn Quốc đã đi sâu trao đổi ý kiến và từ tháng 12/2015 hai bên đã tiến hành đàm phán hoạch định phân chia biên giới trên biển giữa hai nước[26].

3.1.5. Trung Quốc tham gia cơ chế đa biên trong khu vực

a) Hợp tác Trung Quốc - ASEAN

Trung Quốc trước sau vẫn coi hợp tác ngoại giao chu biên (với các nước láng giềng xung quanh) như ASEAN là hướng hợp tác ưu tiên. Trung Quốc kiên trì ủng hộ nhất thể hóa ASEAN, ủng hộ xây dựng cộng đồng ASEAN, ủng hộ vai trò trung tâm trong hợp tác khu vực của ASEAN. Hai bên Trung Quốc và ASEAN cùng tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng, láng giềng hữu nghị, dựa trên nguyên tắc hợp tác cùng thắng (win - win), không ngừng tăng cường đối thoại chiến lược, gia tăng lòng tin chiến lược, đi sâu hợp tác kinh tế thương mại, cùng hợp tác cùng hỗ trợ lẫn nhau trên các lĩnh vực như tiền tệ, an ninh, trên biển, xã hội nhân văn v.v…Đẩy mạnh sự phát triển mới trong quan hệ hợp tác hai bên. Năm 2013, chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm các nước ASEAN, đã chỉ rõ Trung Quốc nguyện xây dựng cộng đồng vận mệnh Trung Quốc - ASEAN ngày càng phát triển mạnh mẽ, chặt chẽ.

Năm 2015, Trung Quốc và ASEAN đã có cuộc gặp gỡ lần thứ nhất, không chính thức giữa Bộ trưởng Quốc phòng hai bên tại Bắc Kinh. Hai bên còn tổ chức hội nghị Bộ trưởng Thông tin truyền thông, kinh tế, thương mại, giao thông và Hội nghị Tổng kiểm toán hai bên. Tháng 11/2015, Trung Quốc và ASEAN đã ký kết nghị định thư hiệp định khung khổ hợp tác toàn diện kinh tế Trung Quốc và ASEAN, đánh dấu kết thúc đàm phán toàn diện nâng cấp khu vực mậu dịch tự do (FTA) Trung Quốc - ASEAN.

Năm 2016, là năm kỷ niệm 25 năm xây dựng quan hệ đối thoại và giao lưu giáo dục giữa hai bên Trung Quốc và ASEAN. Ngày 7/9/2016, trong Hội nghị các nhà lãnh đạo lần thứ 19 Trung Quốc - ASEAN và kỷ niệm lần thứ 25 xây dựng quan hệ đối thoại 2 bên được tổ chức tại Viêng Chăn, Lào. Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Khắc Cường đã cùng với thủ tướng các nước ASEAN đã phát biểu về những thành tựu phát triển mối quan hệ đối thoại Trung Quốc - ASEAN trong thời gian qua, đã tổng kết kinh nghiệm đã qua, đưa ra những gợi mở và phương hướng kế hoạch phát triển quan hệ 2 bên trong tương lai. Hai bên còn tổ chức các hội nghị Bộ trưởng về ngoại giao, kinh tế thương mại…Cả năm 2016, hai bên đã tiến hành hàng loạt các hoạt động kỷ niệm khác như Hội nghị giao lưu giáo dục Trung Quốc - ASEAN lần thứ 9, đối thoại các Thị trưởng Trung Quốc - ASEAN khóa 2, Hội thảo khoa học nghiên cứu 25 năm xây dựng quan hệ đối thoại Trung Quốc - ASEAN v.v…[27]

b) Hợp tác ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (10 + 3)

Hợp tác ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc (10 + 3) là dòng chảy chính của hợp tác Đông Á. Phía Trung Quốc đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng hợp tác các bên, thực hiện tốt “báo cáo EAVGII - Tổ chức triển vọng Đông Á lần thứ 2” và “Kế hoạch công tác hợp tác 10+3 năm 2013 - 2017”. Phía Trung Quốc đã tích cực tiến hành đa phương hóa kiến nghị Chiềng Mai (CMIM), ủng hộ thúc đẩy tiến trình tăng cường một bước tính thực tiễn và sự hiệu quả của kiến nghị Chiềng Mai (CMIM), ủng hộ văn phòng nghiên cứu vĩ mô 10+3 (AMRO) nâng cấp trở thành tổ chức quốc tế, tiếp tục được xây dựng tăng cường năng lực, nhằm giúp chosự phát triển của nền kinh tế Đông Á và sự ổn định tiền tệ Đông Á. Phía Trung Quốc còn thúc đẩy buôn bán hàng hóa trong “Hiệp định quan hệ bạn bè kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), bàn về mô hình chuẩn về thương mại dịch vụ và thị trường đầu tư, thúc đẩy xây dựng “Bản tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo RCEP”.

Ngày 9/7/2016, tại Hội nghị các nhà lãnh đạo 10+3 họp tại Viêng Chăn (Lào), Thủ tướng Lý Khắc Cường đã đưa kiến nghị 6 điểm: (1) Tăng cường hợp tác an ninh tiền tệ (2) Đi sâu hợp tác thương mại, đầu tư (3) Đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp và giảm nghèo (4) Xúc tiến xây dựng cùng hợp tác, cùng phát triển (5) Xây dựng mô hình hợp tác ngành nghề mới (6) Tăng cường giao lưu trong lĩnh vực xã hội nhân văn.

Từ năm 2015 đến nay, phía Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy sự hợp tác trong khuôn khổ 10+3, tổ chức diễn đàn thương mại Đông Á lần thứ 7, chương trình “Tìm hiểu về Trung Quốc”, lớp nghiên cứu khai thác hợp tác nguồn nhân lực văn hóa khóa 9, 10, diễn đàn cao cấp đầu tư Đông Á, Hội nghị chiến lược hợp tác an ninh lương thực khóa 6, lớp nghiên cứu nông nghiệp hiện đại Đông Á, hoạt động giao lưu các nhà khoa học trẻ, chương trình hàng trăm nhân tài Hán ngữ cao cấp đến Trung Quốc, Hội thảo khoa học Quốc tế nghiên cứu quan hệ bạn bè 10+3 khóa 4, chương trình giao lưu các lãnh đạo thôn, bản 10+3 khóa 3, 4 và chương trình nghệ thuật Á châu khóa 14 v.v…[28]

c) Hợp tác Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc

Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc là những quốc gia quan trọng ở Đông Á, là lực lượng chủ yếu của nhất thể hóa kinh tế Đông Á. Tăng cường sự hợp tác của 3 nước sẽ có lợi cho sự phát triển cho cả 3 nước đó, cũng có lợi cho sự ổn định và phồn vinh trong khu vực.

Năm 2015, do sự cải thiện trong mối quan hệ song phương Trung Quốc - Nhật Bản, Hàn Quốc - Nhật Bản, sự hợp tác Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc đã được nâng cao, sự hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực đã được phát triển hơn. Ngày 01/1/2015, Hội nghị lãnh đạo Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc lần thứ 6 đã được tổ chức tại Hàn Quốc. Lãnh đạo 3 nước đã tiến hành trao đổi các ý kiến về các vấn đề hợp tác 3 nước, vấn đề quốc tế, khu vực mà các bên cùng quan tâm. Hội nghị đã coi trọng cao sự hợp tác giữa 3 nước, đồng ý nhất trí đề cao tinh thần hợp tác “Coi trọng lịch sử, hướng tới tương lai”. Ba nước cùng nhau thỏa thuận xử lý các vấn đề có liên quan, đi sâu vào các mặt chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính, và các vấn đề về phát triển và nhân văn…Hội nghị đã đưa ra bản tuyên bố chung “về hòa bình, hợp tác Đông Bắc Á” trong các vấn đề như nông nghiệp, giáo dục, kinh tế thương mại, v.v…đã từng bước làm phong phú thêm nội hàm hợp tác 3 nước, chỉ ra phương hướng phát triển hợp tác 3 nước trong tương lai.

Từ năm 2015 đến nay, 3 nước còn tổ chức các Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, Du lịch, Thủy lợi, Môi trường, Tài chính, Kinh tế thương mại, Nông nghiệp, Văn hóa, Y tế. Tổ chức Hội nghị lãnh đạo các ngành như: hội nghị cấp Bộ trưởng môi trường, quản lý thiên tai, các vấn đề tổ chức nhân sự, hội nghị về công tác cảnh báo sớm, hội nghị về chống khủng bố, hội nghị các Tổng cục Lâm nghiệp, hội nghị hợp tác giao lưu giữa các trường Đại học 3 nước, Hội nghị những người nổi tiếng Đông Bắc Á, những luyện tập phòng chống thiên tai, địch họa, những hoạt động trong các diễn đàn quốc tế nhằm thảo luận khoa học về hải dương học giữa 3 nước, tổ chức các cuộc đàm phán về thương mại tự do giữa 3 nước Trung - Nhật - Hàn[29].

d) Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á

Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á là “Diễn đàn chiến lược do các nhà lãnh đạo các nước Đông Á” (tổ chức). Từ năm 2015 đến nay, sự hợp tác trong các cuộc họp thượng đỉnh Đông Á ngày càng có sự phát triển rất rõ ràng. Dưới sự thúc đẩy của phía Trung Quốc, Hội nghị Ngoại trưởng các nước Đông Á lần thứ 5 đã ra các quyết định về  “Kế hoạch hành động”, “Tuyên ngôn phát triển Kim Biên” và đã được kéo dài tới năm 2017.

Ngày 8/9/2016, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, khóa 11, đã được khai mạc tại Viêng Chăn (Lào). Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã phát biểu: “Hợp tác phát triển kinh tế và hợp tác an ninh chính trị là hai bánh xe, đã vượt qua những chặng đường dài gập ghềnh ở Đông Á”. Các nước Đông Á cần dựa vào nhau để phát triển. Trong phát triển kinh tế, cần ra sức ủng hộ sự giúp đỡ lẫn nhau, nhanh chóng đẩy mạnh xây dựng khu vực tự do thương mại (FTA), tăng cường hợp tác lĩnh vực an sinh xã hội. Về an ninh chính trị, cần đưa ra khái niệm “an ninh mới” như: cùng nhau, tổng hợp, hợp tác, giúp đỡ nhau, tăng cường hợp tác an ninh phi truyền thống, tìm tòi xây dựng khung khổ an ninh khu vực, xử lý thỏa đáng các  điểm nóng nhạy cảm v.v. ..

Phía Trung Quốc tích cực thúc đẩy các hợp tác trong nhiều lĩnh vực tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Từ năm 2015 đến nay, phía Trung Quốc đã chủ trì đăng cai diễn đàn thảo luận về vấn đề hạt nhân nguyên tử lần thứ 2, diễn đàn lần thứ 2 làm trong sạch môi trường hạt nhân nguyên tử, Hội thảo khoa học về bảo vệ động vật hoang dã, Hội thảo khoa học lần thứ 2 về hợp tác an ninh biển Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Hội thảo khoa học về khung khổ an ninh khu vực khóa 5, diễn tập phòng chống thiên tai động đất 3 nước Đông Á lần thứ 5[30]

e) Diễn đàn khu vực Đông Á

Diễn đàn khu vực Đông Á là nơi bàn bạc, thảo luận, đối thoại về hợp tác an ninh đa phương, có tầm ảnh hưởng lớn lao, mạnh mẽ. Các bên kiên trì lấy xây dựng lòng tin làm hạt nhân, trên cơ sở nhận thức chung, thúc đẩy từng bước tiến trình ngoại giao, tích cực đẩy mạnh hợp tác an ninh phi truyền thống.

Ngày 26/7/2016, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN khóa 23 tại Viêng Chăn (Lào), phía Trung Quốc đã chỉ rõ: các bên cần xây dựng lòng tin, thực thi xuyên suốt tiến trình của diễn đàn, trên cơ sở nhận thức chung, cùng xây dựng  mô hình ngoại giao phù hợp, với dự báo thực tiễn của khu vực, đồng thời, tăng cường hợp tác đối ngoại, tăng cường lý giải và cùng tin tưởng hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực, cùng nhau ứng phó với những thách thức đang uy hiếp an ninh phi truyền thống, thúc đẩy các hoạt động sôi nổi của diễn đàn, cống hiến to lớn cho sự nghiệp bảo vệ hòa bình, an ninh trong khu vực.

Phía Trung Quốc tích cực đẩy mạnh sự hợp tác về thực chất trong khung khổ chung của diễn đàn. Từ năm 2015 đến nay, phía Trung Quốc đã chủ trì hội thảo xây dựng năng lực an ninh mạng, Hội thảo an ninh trên bầu trời lần thứ 3, hội thảo hợp tác an toàn phòng chống nguy hiểm trên biển, Hội thảo khoa học hợp tác xử lý, quản lý các hiểm tràn dầu trên biển, Hội thảo khoa học về phòng chống tội phạm vượt biên, Hội thảo khoa học về vận chuyển đường biển màu xanh, Hội thảo khoa học về cứu hộ, cứu nạn khẩn cấp ở thành phố v.v…[31]

g) Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng mở rộng ở các nước ASEAN.

Hội nghị mở rộng Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN là cơ chế hợp tác đối thoại an ninh quốc phòng lớn nhất, cao cấp nhất của khu vực CA - TBD. Nó có tác dụng quan trọng nhằm xúc tiến hợp tác quốc phòng, xây dựng lòng tin giữa quân đội và các bộ môn quốc phòng của các nước thành viên ASEAN.

11/4/2015, Hội nghị mở rộng Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 3 đã được tổ chức tại CuluaLampua (Malaysia). Phía Trung Quốc đã chỉ rõ: các bên đã thúc đẩy xây dựng khung khổ hợp tác an ninh mở cửa, bao dung, minh bạch, bình đẳng. Đã không ngừng đi sâu hợp tác thực chất về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực Quốc phòng, đã xử lý thỏa đáng, đúng đắn các vấn đề, quản chặt chẽ những nguy cơ tác hại, cùng nhau ủng hộ hòa bình, ổn định trong khu vực.

Từ năm 2016 đến nay, quân đội Trung Quốc trong khung khổ của cơ chế hợp tác này trong khu vực, đã trước sau tham gia các cuộc diễn tập liên hợp được tổ chức ở Ấn Độ, và cuộc tập trận liên hợp nhiều bên chống khủng bố, an ninh trên biển ở Singgapore. Từ năm 2017 đến 2020, Trung Quốc và Thái Lan sẽ là các nước đăng cai làm chủ tịch tổ chức chống khủng bố tại khu vực[32].

h. Hợp tác sông Lan Thương - Mê Công

Xây dựng cơ chế hợp tác kết nối sông Lan Thương - Mê Công là sáng kiến quan trọng của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã đề xuất trong Hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc- ASEAN được tổ chức lần thứ 17, tháng 11/2014. Chỉ có thông qua hợp tác, thì mới có thể làm cho mối quan hệ hợp tác 6 nước kết nối sông Lan Thương - Mê Công đi vào thực chất. Và mới có thể thúc đẩy được sự phát triển kinh tế xã hội của các nước trong khu vực. Và mới xây dựng được cộng đồng vận mệnh chung giữa 6 nước Lan Thương - Mê Công đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, bình đẳng hiệp thương, cùng có lợi, hợp tác cùng thắng. Các thành viên trong cơ chế này bao gồm 6 nước là Trung Quốc, Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam.

Hợp tác Lan Thương - Mê Công đã thu được những sự tiến triển tích cực, cho đến tháng 11/2016 đã tổ chức được hội nghị lần thứ nhất nguyên thủ quốc gia 6 nước, 1 lần hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, 3 lần Hội nghị quan chức cấp cao. Tháng 11/2015, Hội nghị Ngoại trưởng lần đầu tiên đã được tổ chức tại Cảnh Hồng, Vân Nam, Trung Quốc. Ngoại trưởng 6 nước đã ra tuyên bố chung khởi động tiến trình hợp tác Lan Thương - Mê Công, đã đạt được nhận thức chung về  khuôn khổ cơ chế và phương hướng phát triển hợp tác Lan Thương - Mê Công trong tương lai, đã đề xuất hàng loạt các kiến nghị hợp tác 2 bên.

Ngày 23/3/2016, Hội nghị các nhà lãnh đạo hợp tác Lan Thương - Mê Công lần 1 đã được tổ chức tại Tam Á, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, cơ chế hợp tác Lan Thương - Mê Công chính thức được khởi động. Các nhà lãnh đạo 6 nước đã cùng nhau đánh giá lại tiến trình hợp tác Lan Thương - Mê Công và xem xét phương hướng phát triển trong tương lai. 6 nước đã nhất trí đồng ý chiến lược phát triển tiếp theo, vạch ra nguồn lực hợp tác, nhân rộng thành quả phát triển, cùng xây dựng cộng đồng vận mệnh chung Lan Thương - Mê Kông. Hội nghị đã xác nhận khung khổ hợp tác “ 3+5”, kiên trì an ninh chính trị, tiếp tục phát triển kinh tế, hợp tác 3 nhánh xã hội nhân văn, xác định rõ 5 hướng ưu tiên là cùng hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao năng suất sản lượng, nâng mức tăng trưởng kinh tế, bảo vệ giữ gì nguồn nước, giảm nghèo trong nông nghiệp. Hội nghị đã ra thông cáo chung “Tuyên bố TAM Á, hội nghị các nhà lãnh đạo lần thứ nhất hợp tác Lan Thương - Mê Kông”, “Tuyên bố liên hợp hợp tác nâng cao năng suất sản lượng các quốc gia Lan Thương - Mê Kông”. Thông qua thu hoạch sớm những hạng mục hợp tác trên sáu lĩnh vực hợp tác hỗ trợ lẫn nhau, nâng cao năng lực sản xuất, năng suất sản lượng, nâng mức tăng trưởng kinh tế , bảo vệ giữ gìn nguồn nước, giảm nghèo trong nông nghiệp v.v…[33]

i) Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO)

Từ năm 2015 đến nay, Tổ chức hợp tác Thượng Hải vẫn duy trì sự phát triển mạnh mẽ, ổn định, hợp tác trên các lĩnh vực về chính trị, an ninh, kinh tế, nhân văn vẫn không ngừng thu được những thành quả mới mẻ. Vai trò và sức ảnh hưởng của nó vẫn không ngừng được nâng cao.

Từ 9-10/7/2015, lãnh đạo các nước thành viên của tổ chức này đã tổ chức Hội nghị lần thứ 15 tại Upha, Liên bang Nga. Chủ tịch Tập Cận Bình đã tham gia hội nghị. Lãnh đạo các nước thành viên đã ký kết “Tuyên bố Upha” và ký kết “Hiệp định hợp tác biên phòng các nước thành viên của tổ chức Hợp tác Thượng Hải” đã phê chuẩn: “chiến lược phát triển tổ chức Hợp tác Thượng Hải đến năm 2025” và “Đề cương hợp tác của thành viên tổ chức hợp tác Thượng Hải chống chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa cực đoan năm 2016 đến năm 2018”.

Từ 14-15/12/2015, phía Trung Quốc, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã chủ trì Hội nghị lần thứ 14với sự tham gia  Thủ tướng các nước thành viên tổ chức Hợp tác Thượng Hải.

Hội nghị đã trình ra bản quy hoạch hợp tác phát triển các lĩnh vực trong giai đoạn sau, đã thông qua “bản tuyên bố hợp tác kinh tế khu vực của Thủ tướng các nước thành viên tổ chức Hợp tác Thượng Hải” đã phê chuẩn quyết nghị “về việc thành lập Ngân hàng và Quỹ phát triển giai đoạn sau của tổ chức hợp tác Thượng Hải”. Đã chứng kiến lễ ký kết “Đề cương hợp tác hải quan các nước thành viên tổ chức Hợp tác Thượng Hải giai đoạn 2016 - 2021” và “Bi vong lục giữa Tổng thư ký tổ chức Hợp tác Thượng Hải với Thư ký phụ trách kinh tế - xã hội CÁ - TBD của Liên Hợp quốc”.

Từ 23-24/6/2016, Hội nghị lần thứ 16 các nhà lãnh đạo các nước thành viên tổ chức Hợp tác Thượng Hải đã tổ chức tại Tasken, Uzobekistan. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tham dự, Hội nghị lãnh đạo các nước thành viên đã ký kết “Bản tuyên bố chung Tasken” nhân 15 năm kỷ niệm thành lập “tổ chức Hợp tác Thượng Hải”, đã phê chuẩn “Bản kế hoạch hành động năm 2016 - 2020, trong chiến lược phát triển tổ chức Hợp tác Thượng Hải đến năm 2025” đã phê chuẩn bị bị vong lục về nghĩa vụ của Ấn Độ, Pakistan tham gia tổ chức Hợp tác Thượng Hải.

Từ năm 2015 đến nay, đã xây dựng và tổ chức thể chế hóa các Hội nghị những Thư ký Hội nghị an ninh với những người phụ trách các lĩnh vực về ngoại giao, quốc phòng, kinh tế thương mại, văn hóa, cứu hộ cứu nạn v.v., đã đi sâu từng bước và triển khai hợp tác trên các lĩnh vực, mở rộng tầm ảnh hưởng quốc tế của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy và tham gia vào các lĩnh vực hợp tác của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Trung Quốc đã duy trì sự phát triển mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc với các nước thành viên khác, với các nước quan sát viên và các nước bạn bè đối thoại[34].

k) Hội nghị cùng hợp tác và xây dựng lòng tin

Ngày 27-28/4/2016 đã tổ chức Hội nghị ngoại trưởng lần thứ 5 “Niềm tin châu Á” tại Bắc Kinh. Chủ tịch Tập Cận Bình đã có bài phát biểu quan trọng, khai mạc Hội nghị. Hội nghị đã thông qua “Bản tuyên bố về thông qua đối thoại, xúc tiến hòa bình, an ninh, ổn định và tiếp tục phát triển của châu Á”, đã thông qua “Kế hoạch hành động hợp tác, loại trừ những nguy cơ xấu của các nước thành viên nhằm xây dựng niềm tin châu Á giai đoạn 2016 - 2018” và “Kế hoạch hành động xây dựng lòng tin, thực thi lĩnh vực phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2016 - 2018 các nước thành viên niềm tin châu Á”.

Trung Quốc đã tích cực thực hiện xây dựng lòng tin trên các lĩnh vực khác nhau, đã sáng kiến thành lập diễn đàn hợp tác bình đẳng xây dựng lòng tin châu Á. Từ năm 2015 đến nay, Trung Quốc đã chủ trì các đại hội thành lập phi chính phủ niềm tin châu Á, và Hội nghị những tài năng trí tuệ niềm tin châu Á, xúc tiến thực hiện xây dựng lòng tin trên các lĩnh vực nhân văn, kinh tế…Thúc đẩy giao lưu đối thoại những tài năng trí tuệ, những tổ chức dân gian, thanh niên các nước thành viên[35].

3.1.6. Trung Quốc tham gia hợp tác an ninh phi truyền thống khu vực CA - TBD[36]

a) Hợp tác cứu nạn. Từ năm 2015 đến nay, Trung Quốc đã tích cực tiếp tục tham gia và thúc đẩy giao lưu hợp tác cứu nạn trong khu vực CA - TBD. Trung Quốc đã chủ trì Hội nghị những nhà lãnh đạo của tổ chức hợp tác lần thứ 8 trong việc tích cực cứu nạn  giữa 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã tổ chức hợp tác công tác quản lý và diễn tập cứu nạn. Trung Quốc đã cùng với Malaysia cùng nhau chủ trì diễn tập cứu nạn lần thứ 4 trong diễn đàn khu vực ASEAN. Trung Quốc còn tham gia Đại hội phòng chống hiểm họa tai nạn của thế giới lần thứ 3. Trung Quốc đã tham gia cuộc họp cấp Bộ trưởng châu Á thảo luận vấn đề cứu nạn. Thành viên các nước thuộc Tổ chức Hợp tác Thượng Hải đã gấp rút diễn tập quốc tế bộ môn cứu nạn. Trung Quốc còn tham gia diễn đàn quan chức cao cấp quản lý cứu nạn lần thứ 9 của tổ chức Hợp tác kinh tế CA - TBD (APEC).

Các hội nghị và hoạt động quốc tế diễn tập cứu nạn động đất khu vực CA - TBD, các đoàn cứu trợ quốc tế của Liên Hợp quốc.

Ngày 7/01/2015 và tháng 5/2016, Malaixia, Myanmar, Sirylanka bị trận lụt lớn, Trung Quốc đã kịp thời viện trợ, cứu nạn cho 3 nước. Tháng 4/2015, Nêpan sau trận động đất lớn, Trung Quốc đã cử đội cứu nạn đến giúp đỡ, đội y tế cứu nạn và đội vận chuyển hàng hóa đã kịp thời đến cứu nạn, cứu trợ Nêpan, đã đưa các bệnh viện dã chiến đến trợ giúp Nêpan.

Chính phủ Trung Quốc còn giúp đỡ các nước hoàn thiện bồi dưỡng cán bộ, cung cấp thông tin, giao lưu học thuật, thực hiện diễn tập, hợp tác nghiên cứu, cung cấp thiết bị, xây dựng cơ chế cứu nạn nhanh chóng. Trung Quốc còn tăng cường hợp tác nghiệp vụ cứu nạn đa phương, song phương cho các nước trong khu vực CA - TBD, cùng nâng cao năng lực cứu nạn, giảm thiểu tai nạn cho các nước trong khu vực.

b) Hợp tác chống khủng bố. Từ năm 2015 đến nay, Trung Quốc trước sau đã triển khai hợp tác chống khủng bố với các nước láng giềng. Đã thành công trong việc vây bắt tội phạm khủng bố và những hành vi khung bố trong khu vực như tổ chức “đầu rắn”, “Đông Y vận”, những tổ chức phá hoại an ninh mạng…

Trung Quốc cùng với các nước như Mỹ, Nga, Canađa, Anh, Ấn Độ, Pakistan, Hàn Quốc, Indonexia...tổ chức hội nghị chống khủng bố, đã chủ trì thành công hội nghị chống khủng bố, hoạt động vượt biên giới lần thứ 13 diễn đàn các nước ASEAN. Đồng thời, Trung Quốc còn tích cực tham gia tổ công tác chống khủng bố, tổ chức hợp tác kinh tế CÁ - TBD. Diễn đàn “chống khủng bố toàn cầu”, Trung Quốc đã cùng tổ chức với các nước ASEAN hội nghị cấp Bộ trưởng chống khủng bố, tiến hành tăng cường giao lưu hợp tác chống khủng bố.

Apganixtan, Trung Quốc, Pakistan, Tatjinistan cùng xây dựng cơ chế điều phối hợp tác các lực lượng quân đội 4 nước chống khủng bố, tham gia bồi dưỡng, huấn luyện các nghiệp vụ, kỹ thuật phòng chống khủng bố, thực hiện diễn tập phòng chống khủng bố, đã thu được những kết quả rất khả quan.

c) Hợp tác chống tội phạm xuyên biên giới.

Chính phủ Trung Quốc luôn coi trọng chống tội phạm xuyên biên giới. Trung Quốc đã dốc sức, thực thi “Công ước của Liên hợp quốc chống tội phạm có tổ chức xuyên biên giới”. Trung Quốc cũng đã cùng với 70 nước tiến hành hợp tác, giúp đỡ nhau, hỗ trợ tư pháp, đã dẫn độ nhiều tội phạm xuyên biên giới, cùng thông qua bản điều ước dài 123 trang, Trung Quốc đã tích cực cùng với Mỹ, Canađa, xây dựng cơ chế hợp tác tư pháp, chấp pháp song phương, đã cùng với các nước hữu quan chống lại các loại tội phạm xuyên biên giới, đã đưa ra cơ chế hiệu quả có cơ sở pháp lý rõ ràng.

Trung Quốc tích cực tham gia hợp tác quốc tế chống tội phạm quóc tế có tổ chức xuyên biên giới, đã ủng hộ hợp tác thiết thực cho các tổ chức trong khu vực, trên quốc tế, của Liên hợp quốc. Thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác an ninh chấp pháp khu vực Lan Thương - Mê Kông. Trung Quốc còn triển khai hành động chung chống tội phạm xuyên biên giới với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Chống lại có hiệu quả các hành vi buôn bán người qua biên giới, lừa đảo ua thông tin truyền thông, tội phạm kinh tế, tội phạm ma túy v.v…

Tháng 10/2015, Trung Quốc đã tổ chức Hội nghị cấp Bộ trưởng hợp tác an ninh chấp pháp khu vực sông Lan Thương - Mê Kông với chủ đề “An ninh thúc đẩy phát triển”. Trong hoạt động cùng nhau phòng chống ma túy “con đường bình an” hợp tác sông Lan Thương - Mê Kông lần thứ 2, các nước Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan đã hợp tác chặt chẽ, đã vây bắt được hơn 1 vạn tội phạm, thu được hơn 9000 bánh Heroin…

Trung Quốc nguyện cùng tăng cường hợp tác tư pháp và chấp pháp với các nước có liên quan, cùng nhau tấn công bọn tội phạm xuyên biên giới, cùng hy vọng nâng cao một bước ý chí chính trị trong hợp tác quốc tế, ra sức khắc phục những khác biệt trong chế độ pháp luật, tích cực thúc đẩy hợp tác trong khung khổ “Công ước của Liên hợp quốc chống tội phạm có tổ chức xuyên biên giới”. Trong đó bao gồm hợp tác dẫn độ dựa trên cơ sở pháp luật của công ước, đề cao sự trợ giúp tư pháp rộng rãi…

d) An ninh mạng: Trước mắt, tính quan trọng của vấn đề an ninh mạng được đề cao hơn bao giờ hết. Các nước trong khu vực CA - TBD luôn coi trọng các vấn đề an ninh mạng, đã không ngừng đề cao và đi sâu vào chủ đề này. Đã tích cực triển khai sự hợp tác, đối thoại trong khu vực. Trung Quốc là nước luôn kiên định ủng hộ an ninh mạng, luôn ủng hộ và tích cực tham gia tăng cường năng lực an ninh mạng với các tổ chức quốc tế. Trung Quốc chủ trương ứng dụng không gian mạng là thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bảo đảm hòa bình, ổn định quốc tế, là quả phúc của nhân loại. Trung Quốc kêu gọi các nước cần tôn trọng lẫn nhau, trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tăng cường hợp tác đối thoại, cùng nhau xây dựng không gian mạng hòa bình, an ninh, mở cửa, hợp tác, xây dựng hệ thống quản trị mạng quốc tế liên thông đa biên, dân chủ, minh bạch. Trung Quốc cho rằng nhiệm vụ cấp bách là chế định quy chuẩn không gian mạng, mà quốc tế đang thực hiện trong khung khổ của Liên hợp quốc.

Từ năm 2015 đến nay, Trung Quốc tích cực tiếp tục thúc đẩy tiến trình đi sâu vào an ninh mạng trong khung khổ của Liên hợp quốc. Trung Quốc và các nước thành viên khác trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải đã cùng nhau trình lên Liên hợp quốc đề án mới về “Qui chuẩn hành vi quốc tế an ninh tin tức”. Trung Quốc tham dự và thúc đẩy xây dựng bản báo cáo cuối cùng của tổ chuyên gia chính phủ về an ninh tin tức của Liên hợp quốc. Trung Quốc xác nhận không gian mạng ứng dụng nguyên tắc: chủ quyền bình đẳng, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, không sử dụng vũ lực trong “Hiến chương của Liên hợp quốc”. Trung Quốc đã có cống hiến trong việc chế định quy tắc quốc tế về không gian mạng. Trung Quốc với thái độ xây dựng đã tham gia hội nghị cao cấp nguyên thủ các nước về xã hội thông tin và diễn đàn quản trị mạng của Liên hợp quốc.

Trung Quốc còn không ngừng tăng cường hợp tác nghiệp vụ, đối thoại mạng song phương giữa các nước trong khu vực. Trung Quốc và Liên bang Nga đã ký kết hiệp định hợp tác an ninh mạng và tổ chức hàng loạt các buổi hiệp thương về an ninh mạng. Trung Quốc đã tổ chức các buổi đối thoại Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc, Trung Quốc - Hàn Quốc, Trung Quốc - EU về liên kết mạng.

Trung Quốc đã cùng với Mỹ tổ chức các hội nghị đối thoại cấp cao về chống tội phạm an ninh mạng…Trung Quốc cũng đã coi trọng và tích cực tham gia vào các diễn đàn trong khu vực ASEAN và Tổ chức Hợp tác Thượng Hải… thúc đẩy sự phát triển, bao dung, bình đẳng trong hợp tác an ninh mạng ở khu vực. Trung Quốc còn tich cực tham gia tổ công tác an ninh mạng của các nước BRICS và Tổ chuyên gia an ninh thông tin của Tổ chức hợp tác Thượng Hải, thúc đẩy pháp lệnh Á - Phi xây dựng tổ công tác “Luật quốc tế không gian mạng”, tổ chức thành công hội nghị quan trọng về Đại hội nối mạng của thế giới

e) Hợp tác an ninh trên biển. Năm 2015 là “Năm hợp tác biển giữa Trung Quốc và ASEAN”. Hợp tác biển là lĩnh vực quan trọng xây dựng “con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI”. Trung Quốc và các nước ASEAN đã triển khai hàng loạt các hoạt động hợp tác giao lưu trên các lĩnh vực an toàn trên biển, nghiên cứu khoa học bảo vệ môi trường biển v.v…Trung Quốc và Thái Lan đã cùng nhau thực hiện khảo sát khoa học trên biển, đã tổ chức thành công Hội nghị lần thứ 4 Ủy ban hợp tác hải dương Trung Quốc - Thái Lan. Trung Quốc đã cùng với Malaysia ký kết “Bi vong lục xây dựng trung tâm nghiên cứu hải dương liên hiệp Trung Quốc- Malaysia”. Trung Quốc cùng với trung tâm hải dương và khí hậu Inđônêxia đã triển khai công tác xây dựng trạm quan trắc hải dương liên hợp

Trung Quốc đã tổ chức thành công diễn đàn hợp tác bảo vệ môi trường biển và nghiên cứu khoa học hải dương với các nước Đông Nam Á.

Trung Quốc tích cực tham gia và đẩy mạnh hợp tác đối thoại an ninh trên biển. Từ năm 2015 đến nay, Trung Quốc đã tổ chức hội nghị cục trưởng cục biển khu vực CÁ - TBD, tổ chức diễn đàn chấp pháp (thực hành pháp luật) tuần tra bờ biển khu vực Bắc Thái Bình dương: “Hợp tác chấp pháp 2015” có nhiều nhiệm vụ: diễn tập, huấn luyện, bồi dưỡng nhân viên quản lý tầu biển khu vực CA - TBD, cứu nạn con người trên biển với quy mô lớn khu vực CA - TBD (MRO), bồi dưỡng và thực hành diễn tập v.v. Trung Quốc tiếp tục điều tàu biển cùng với các nước Australia, Malaysia tổ chức công tác tìm kiếm máy bay MH370. Trung Quốc đã chi đến 2000 vạn đô la Úc trong việc tìm kiếm này. Trung Quốc còn tích cực ủng hộ “Hiệp định hợp tác vũ trang tàu biển chống hải tặc (cướp biển) khu vực châu Á (Re CAAP)”. Trung Quốc còn xây dựng và phát triển năng lực của “Trung tâm chia sẻ thông tin” v.v.

Tháng 6/2016, đáp theo lời đề nghị của phía Việt Nam, Trung Quốc đã điều tàu biển và máy bay đến tìm máy kiếm bay và phi công Việt Nam bị rơi và mất tích trên biển.

g) Hợp tác thu hẹp quốc phòng và giải trừ quân bị

Trung Quốc nhất quán tích cực ủng hộ và nỗi lực tham gia vào việc giải trừ quân bị, khống chế, chi phối quân sự toàn cầu. Trung Quốc chủ trương cấm toàn diện và triệt để loại bỏ vũ khí hạt nhân tiêu diệt hàng loạt. Trung Quốc tích cực đẩy mạnh thực hiện toàn diện thành quả đại hội về thực thi “Không mở rộng vũ khí hạt nhân”. Trung Quốc đã kiến nghị tham gia vào hội nghị “Hiệp ước” của 5 nước có vũ khí hạt nhân lần thứ 9. Trung Quốc nguyện dốc sức cùng với các bên, thúc đẩy toàn diện, công bằng 3 trụ cột về giải trừ vũ khí hạt nhân: không mở rộng, giải trừ vũ khí hạt nhân, giải quyết hòa bình năng lượng hạt nhân. Trung Quốc cho rằng xây dựng khu vực không có vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á là công việc có ý nghĩa to lớn trong việc đẩy mạnh hòa bình, an ninh của khu vực và trên thế giới. Trung Quốc trước sau kiên định ủng hộ các nước ASEAN xây dựng khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân, ủng hộ nghị định thư “Hiệp ước Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân” sớm ký kết và có hiệu lực. Các vấn đề về nghị định thư mà Trung Quốc và ASEAN đã giải quyết, Trung Quốc sẽ sớm phê duyệt. Trung Quốc sẽ tiếp tục xây dựng tiến trình thương thảo của 5 nước có vũ khí hạt nhân với các nước Đông Nam Á… thúc đẩy giải quyết tận gốc hiệp thương giữa 4 nước khác có vũ khí hạt nhân với các nước ASEAN v.v…

Cuối cùng, Sách Trắng của Trung Quốc đã đưa ra, những kết luận về chiến lược hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như sau: “Nhân dân Trung Quốc đang phấn đấu thực hiện “giấc mộng Trung Quốc”, phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. Trong quá trình này, Trung Quốc sẽ đem lại cơ hội hợp tác và thành tựu phát triển mới cho khu vực CÁ - TBD.

Sự phát triển của Trung Quốc là sự phát triển của lực lượng hòa bình trên thế giới. Trung Quốc sẽ kiên định con đường phát triển hòa bình, kiên trì ý tưởng đối xử tốt, là bạn bè thân thiện với các nước láng giềng. Trung Quốc sẽ kiên trì hòa mục, yên ổn, cùng giàu có thịnh vượng với các nước láng giềng, giữ vững quan niệm Thân, Thành, Huệ, Dung. Trung Quốc trước sau đều ra sức duy trì, xúc tiến ổn định, phồn vinh với các nước trong khu vực CA - TBD. Trung Quốc cùng với các nước trong khu vực kiên trì hợp tác cùng thắng, ra sức đẩy mạnh đối thoại hợp tác an ninh trong khu vực, xây dựng quan hệ quốc tế mới, cùng nhau mở ra triển vọng phát triển tươi sáng trong tương lai”.[37]

3.2. Phân tích chiến lược cường quốc của Trung Quốc trên thế giới và ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương[38]

3.2.1. Chiến lược cường quốc của Trung Quốc trên thế giới

Hơn 90 năm qua kể từ khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) vào năm 1921, hơn 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) vào năm 1949, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc không hề thay đổi, đó là xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc số một lãnh đạo thế giới. Từ sau Đại hội 18 ĐCSTQ (2012), Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh xây dựng “CHXH đặc sắc Trung Quốc”, với nền tảng lý luận là kiên trì phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng “ba đại diện” của Giang Trạch Dân, quan điểm phát triển khoa học, hài hòa XHCN của Hồ Cẩm Đào. Và hiện nay, Trung Quốc đã bổ sung lý luận về việc “phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại”, thực hiện “giấc mộng Trung Hoa” với hai mục tiêu có tính tiêu chí của Tập Cận Bình (hai mục tiêu 100 năm: một là kỷ niệm 100 năm thành lập ĐCSTQ (1921-2021) nhằm xây dựng xã hội khá giả toàn diện, và hai là kỷ niệm 100 năm thành lập nước CHNDTH (1949-2049) xây dựng thành công nước Trung Quốc hiện đại hóa, XHCN, văn minh, dân chủ, giàu mạnh, hài hòa).

Trong cuốn sách “Cuộc đua marathon 100 năm: chiến lược bí mật của Trung Quốc thay thế Mỹ làm bá chủ toàn cầu” của tác giả Michael Pillsbury có nhấn mạnh rằng Trung Quốc sẽ vượt lên trên tất cả các biện pháp của quyền lực quốc gia, hướng tới Mỹ, một đất nước đáng gờm, ảnh hưởng tiêu cực đến Mỹ và các lợi ích của Mỹ. Trung Quốc đang có phương pháp thực hiện chiến lược “marathon 100 năm” để thay thế Mỹ làm bá chủ toàn cầu, đồng thời áp đặt một trật tự thế giới mới lấy Trung Quốc làm trung tâm.

Để thực hiện chiến lược toàn cầu của mình, Trung Quốc hiện nay đã điều chỉnh chiến lược đối ngoại mới như sau: Thứ nhất, Chiến lược đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi theo từng giai đoạn của đất nước:(i) Sau khi nước CHNDTH ra đời (1949), thập kỷ 50 của thế kỷ XX, Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại “nhất biên đảo” (ngả về Liên Xô); (ii) Đến thập niên 60 (thế kỷ XX) Trung Quốc điều chỉnh thành “Lưỡng biên phản” (chống cả hai bên: Liên Xô, Mỹ); (iii) Bước vào thập niên 70 (thế kỷ XX), Trung Quốc chuyển sang chính sách “Nhất điều tuyến” (một tuyến);  (iv) Thập kỷ 80, Trung Quốc thực hiện chính sách “Độc lập cán” (thực hiện chính sách độc lập tự chủ); (v) Sau Chiến tranh Lạnh thập kỷ 90, Trung Quốc thực hiện chính sách đối ngoại mới “tăng cường kết bạn”. Cho đến nay, đường lối đối ngoại “tăng cường kết bạn” ngoại giao bạn bè vẫn tiếp tục được Trung Quốc duy trì.

Thứ hai, những điều chỉnh mới trong chiến lược “Ngoại giao bạn bè”của Trung Quốc là: i) Thực dụng, cùng có lợi; ii) Trên cơ sở tự nguyện đôi bên; iii) Công khai, không chống nước thứ ba; iv) Được thiết lập bằng con đường ngoại giao chính thống; v) Cơ chế vận hành là đối thoại nhiều tầng nấc, xây dựng mô hình hợp tác song phương (nước với nước, bộ ngành địa phương với nhau, các lĩnh với nhau theo hình thức: gặp gỡ cấp cao thường kỳ, đường dây nóng, trao đổi…).

 Khung quan hệ được xác định gồm bốn tầng nấc: (i) Tầng thứ nhất: “Mô hình ổn định” chỉ quan hệ hai nước đạt đến trình độ mật thiết, ổn định. Ví dụ: quan hệ Trung Quốcvới Liên bang Nga; (ii) Tầng thứ hai: “Mô hình thông thường” chỉ quan hệ mới bắt đầu khởi sắc, chưa có biểu hiện gì đặc sắc. Ví dụ: quan hệ Trung Quốc- Ca-naa; Tầng thứ ba: “Mô hình có triển vọng”, chỉ mối quan hệ đã được xác lập, nhưng phát triển chưa toàn diện, có nhiều vấn đề cọ xát gay cấn. Ví dụ: quan hệ Trung Quốc- Mỹ; Tầng thứ tư: “Mô hình tiềm năng”, chỉ mối quan hệ tương lai có thể xây dựng và phát triển quan hệ tốt trên nhiều lĩnh vực.

Cơ cấu chủ thể trong chiến lược “Ngoại giao bạn bè” của Trung Quốcbao gồm ba bộ phận chủ yếu: (i) “Điểm”, là nói đến quan hệ của Trung Quốc với các nước lớn trên thế giới, bao gồm bốn nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, những nước có ảnh hưởng lớn đến các công việc quốc tế. Trung Quốcđặc biệt chú ý phát triển quan hệ toàn diện với các nước lớn, nước trở thành “điểm” cực kỳ quan trọng trong chiến lược “ngoại giao bạn bè” của Trung Quốc; (ii) “Tuyến”, thực chất chỉ “cương tuyến” (đường biên giới quốc gia). Trung Quốcchú trọng quan hệ với các nước láng giềng, coi đây là “tuyến” sống còn, an nguy quốc gia; (iii) “Diện” chỉ Trung Quốcxây dựng với tất cả các quốc gia trên thế giới với tinh thần hữu nghị, hợp tác, cùng có lợi.

Thứ ba, những điều chỉnh mới trong chính sách ngoại giao hiện nay, thời Tổng bí thư (TBT) Tập Cận Bình lãnh đạo đất nước như sau: Một là, sau khi lên nắm quyền, Tập Cận Bình đã tiến hành điều chỉnh rất nhiều về chính sách đối nội và đối ngoại, đáng chú ý nhất là chiến lược, chính sách ngoại giao. Trong kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa 12 ngày 5/3/2015, Trung Quốcđã đưa ra tiêu đề điều chỉnh ngoại giao mới: “Đẩy mạnh điều chỉnh chính sách ngoại giao láng giềng, thúc đẩy triển khai chiến lược “một vành đai, một con đường”. Nội dung đã nêu rõ: “Đi sâu đối thoại chiến lược và hợp tác thực chất với các nước lớn, xây dựng khung quan hệ nước lớn lành mạnh, ổn định. Thúc đẩy toàn diện ngoại giao chu biên (láng giềng mở rộng), xây dựng “cộng đồng vận mệnh chu biên”. Theo đó, Trung Quốcsắp xếp thứ tự ưu tiên: (i) “Ngoại giao nước lớn” được đặt ở vị trí đầu tiên; (ii) “Ngoại giao láng giềng” được đặt ở vị trí thứ hai.

Hai là, Trung Quốc đang tính toán xây dựng “chiến lược ngoại giao đại chu biên” cho 10 năm tới, với các nội dung sau: (i) Xác lập điểm ngoại giao “đại chu biên”, (ii) Xây dựng nước lớn kiểu mới với Mỹ và ba nước lớn xung quanh là Nhật, Nga, Ấn Độ, (iii) Thống nhất đồng bộ, liên thông ngoại giao láng giềng của sáu địa bàn: Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á, Tây Á và Nam Thái Bình Dương, (iv) Kết hợp điều phối bốn mặt tư duy ngoại giao láng giềng giữa “đột phá trên biển” với “tích cực Tây tiến”, “đứng vững trong nước” và “triển khai ra ngoài”. Với bốn phương châm: “chân thành, thân thiện, cùng có lợi và “dung” (hài hòa, chi phối, thôn tính).

Ba là, các hướng điều chỉnh ngoại giao mới của Trung Quốc như sau: (i) Ở phía Đông Bắc, cạnh tranh mãnh liệt với Nhật Bản với chính sách “nhận diện phòng không”, tranh chấp chủ quyền biển đảo; (ii) Ở phía Đông Nam, đưa cơ sở lý luận đường biên giới lịch sử về “đường lưỡi bò, 9 đoạn”, đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam, xây dựng 7 đảo nhân tạo trên vùng biển của Việt Nam, thách thức an ninh chủ quyền và an ninh hàng hải của các nước láng giềng như Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây; (iii)Ở phía Bắc, tạm thời hòa hoãn với Nga, nhưng vẫn thực hiện âm mưu thôn tính vùng đất Viễn Đông rộng lớn của Nga khi có điều kiện, thực hiện âm mưu mở rộng bành trướng biên giới với Mông Cổ; (iv) Ở phía Nam, ấp ủ âm mưu chia rẽ, mua chuộc, thôn tính các vùng đất của Mi-an-ma, Lào, Cam-pu-chia; (v) Ở phía Tây, lôi kéo các nước Pa-ki-xtan, Nê-pan, các nước Trung Á (SNG) nhằm chia rẽ với Ấn Độ và Nga.

            Bốn là, Trung Quốc đưa ra sáng kiến mới kết nối Đông - Tây, Á - Âu - Phi bằng chiến lược “Một vành đai, một con đường” (OBAOR), xây dựng Ngân hàng phát triển cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), xây dựng khu vực mậu dịch tự do châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP). Ý tưởng đầu tiên được TBT Tập Cận Bình đề ra chiến lược cùng nhau xây dựng “vành đai kinh tế, con đường tơ lụa” (NSR) được phát biểu tại trường Đại học Natrapaep, Ca-dắc-xtan ngày 7/9/2013. Sau đó đến ngày 3/10/2013, TBT Tập Cận Bình đề xuất trước Quốc hội In-đô-nê-xi-a rằng Trung Quốc sẵn sàng cùng các nước ASEAN xây dựng “con đường tơ lụa trên biển thế kỉ 21” (MSR).[39] OBAOR chính thức trở thành chính sách quốc gia từ tháng 11/2013 bằng Nghị quyết trung ương 3 khóa 18: “Phải xây dựng cơ cấu tài chính tiền tệ mở, đẩy nhanh xây dựng hỗ liên, hỗ thông cơ sở hạ tầng với các quốc gia và khu vực xung quanh, thúc đẩy xây dựng “vành đai kinh tế con đường tơ lụa” và “con đường tơ lụa trên biển” hình thành một cục diện mới mở cửa toàn phương vị”.

            Quy mô của “1 vành đai, 1 con đường” (OBAOR): (i) Thế giới sẽ có một khu vực rộng lớn dưới sự khống chế của Trung Quốc: Một không gian nối liền ba châu lục Á - Âu - Phi; qua 26 quốc gia và vùng lãnh thổ với dân số 4,4 tỷ người, chiếm 63% dân số thế giới, GDP đạt 21.000 tỷ USD, chiếm 29% GDP toàn cầu, xuất khẩu hàng hóa dịch vụ đạt 23,9% giá trị toàn cầu; (ii) Hai con đường đều xuất phát từ Trung Quốc theo đường bộ và đường biển, hội tụ tại Venise (I-ta-li-a) tạo thành một vòng tròn khép kín lớn, một hành lang kinh tế dài nhất xuất phát từ Trung Quốc, thông qua Trung Á, Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á, qua một phần châu Âu, phía Đông nối với vành đai kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, phía Tây nối với vành đai kinh tế châu Âu; (iii) NSR và MSR chia làm ba tuyến: (1) Tuyến Bắc: xuất phát từ Bắc Kinh - Nga - Đức - Bắc Âu, (2) Tuyến giữa (Trung): xuất phát từ Bắc Kinh - Tây An - Urumsi - Áp-ga-ni-xtan - Ca-dắc-xtan - Hung-ga-ri- Paris, (3)  Tuyến Nam: Tuyền Châu - Phúc Châu - Quảng Châu - Hải Khẩu - Bắc Hải - Hà Nội - Kuala Lumpur - Jakarta - Colombo - Calcuta - Nairobi - Athens - Venise.

Những khó khăn thực thi “một vành đai, một con đường” của Trung Quốc: (i) Nội bộ Trung Quốc: Tiềm lực Trung Quốc còn hạn chế (kinh tế); Nội bộ phân tán, mâu thuẫn xã hội sâu sắc (chính trị); (ii) Bên ngoài: Mỹ và phương Tây gây cản trở; Trung Quốc không có đồng minh chiến lược, các nước láng giềng và trên thế giới đều nghi ngờ giữa nói và làm của Trung Quốc không đi đôi với nhau, nghi ngờ động cơ bành trướng, thôn tính lãnh thổ của Trung Quốc ẩn náu trong sáng kiến mới hiện nay; không có cơ sở pháp lý vững vàng để thực hiện, thiếu cơ chế đảm bảo. Các nước tham gia vì có lợi ích của đất nước họ, nhưng nếu kết quả không đạt được như mong đợi, nhất định các nước sẽ bỏ cuộc giữa đường[40].

3.2.2. Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương hiện nay[41]

Sự điều chỉnh chiến lược của Trung Quốc liên quan tới châu Á - Thái Bình Dương được thể hiện trong chính sách đối ngoại, chiến lược “một vành đai, một con đường” và sự điều chỉnh chiến lược quốc phòng của nước này.

Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Trung Quốc được thể hiện khá rõ ở quan điểm coi tất cả các nước trên thế giới đều là đối tác và phân thành 4 nhóm theo các tiêu chí chủ yếu là mức độ ưu tiên và tầm quan trọng của đối tác đối với Trung Quốc, xét cả về mặt kinh tế và chính trị. Nhóm 1 là quan hệ đối tác cao nhất, trong đó chỉ có Nga mà Trung Quốc đã thiết lập quan hệ đối tác và hợp tác chiến lược. Nhóm 2 là quan hệ đối tác hữu nghị, gồm Hàn Quốc, Bra-xin, Nam Phi, Ấn Độ, Ca-na-đa, U-crai-na, Bê-la-rút, Mê-hi-cô, Ác-hen-ti-na và nhiều nước khác. Nhóm nước này không có xung đột về những lợi ích căn bản nhưng có mâu thuẫn cục bộ với Trung Quốc. Nhóm 3 là quan hệ “đối tác dựa trên cơ sở đồng thuận” gồm có Liên minh châu Âu (EU) và các nước ASEAN. Đây là nhóm nước Trung Quốc có nhiều lợi ích kinh tế nhưng lại mâu thuẫn về chính trị trong nhiều vấn đề then chốt và tranh chấp lãnh thổ. Nhóm 4 là quan hệ “đối tác thực dụng” bao gồm Mỹ và Nhật Bản mà Trung Quốc coi là “đối thủ cạnh tranh chiến lược tiềm tàng”.

Trong các nước đối tác, Trung Quốc tập trung vào hai đối tượng là các nước láng giềng và các nước lớn. Với các nước láng giềng, Trung Quốc cho rằng đang tích tụ nhiều vấn đề cần giải quyết và là một trong những lý do chủ yếu dẫn đến sự điều chỉnh chính sách ngoại giao với các nước này. Trung Quốc chủ trương liên thông ngoại giao láng giềng tại sáu địa bàn gồm Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á, Trung Á, Tây Á và Nam Thái Bình Dương; kết hợp điều phối bốn mặt tư duy ngoại giao láng giềng giữa “đột phá trên biển” và “tích cực Tây tiến”, giữa “đứng vững trong nước” và “triển khai ra ngoài”. Phương châm điều chỉnh chính sách ngoại giao của Trung Quốc trong 5-10 năm tới là “kiên trì chủ động về chiến lược, không bị rối loạn bởi các sự kiện cục bộ”; chuyển từ “bị động đối phó, khắc phục tiêu cực” sang “chủ động phản công, tích cực đáp trả”, tăng cường yếu tố chiến lược và yếu tố an ninh trong điều chỉnh chính sách ngoại giao láng giềng, làm cho chính sách láng giềng phục vụ tốt hơn chiến lược đối ngoại tổng thể của Trung Quốc. Trong các mối quan hệ cụ thể, Trung Quốc áp dụng chiến thuật “khác biệt cự ly” với các quốc gia láng giềng, tùy theo “mức độ thân sơ”, “mức độ cống hiến” của từng quốc gia đối với lợi ích của Trung Quốc mà có những đối sách thích ứng.

Để bảo đảm môi trường bên ngoài, Trung Quốc tập trung ưu tiên xây dựng “quan hệ nước lớn kiểu mới”, trước hết là với Mỹ. Trung Quốc còn đề xuất xây dựng “quan hệ quân sự kiểu mới Trung Quốc - Mỹ” với nội hàm “tôn trọng lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau, hợp tác, ổn định”. Quan điểm về “quan hệ nước lớn kiểu mới” và “quan hệ quân sự kiểu mới” do Trung Quốc chủ động đề xướng đều xuất phát từ tư duy ổn định quan hệ với nước lớn, với quân đội nước lớn để bảo đảm an ninh quốc gia. Mục tiêu chủ yếu của “xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới” này là nhằm đối phó với chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ nhưng mục tiêu cụ thể chính là tạo môi trường thuận lợi xung quanh để bảo vệ các lợi ích được xem là cốt lõi của Trung Quốc, như chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển.

Đáng chú ý là năm 2014, Trung Quốc đưa ra “quan điểm an ninh châu Á mới” nhằm tìm kiếm vai trò chủ đạo của mình trong hệ thống an ninh khu vực. Đây là nội dung của sự điều chỉnh tư duy an ninh chiến lược của ban lãnh đạo mới của Trung Quốc. Quan điểm này được Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình chính thức đưa ra lần đầu tiên tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư về phối hợp hành động và các biện pháp xây dựng lòng tin châu Á (CICA) được tổ chức vào tháng 5-2014 tại Thượng Hải, với nội hàm xây dựng một nền an ninh cộng đồng, an ninh tổng hợp, an ninh hợp tác và an ninh bền vững ở châu Á. Theo đó, Trung Quốc chủ trương “công việc của châu Á cần dựa vào nhân dân châu Á để giải quyết”. Chủ trương này khác với những lần tuyên bố trước đây rằng “Thái Bình Dương đủ rộng để dung nạp cả Trung Quốc và Mỹ”.

Để tạo sự đột phá cho chiến lược phát triển tổng hợp quốc gia, tháng 9-2013, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất sáng kiến chiến lược “một vành đai, một con đường” (vành đai kinh tế “con đường tơ lụa trên bộ” và “con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI”). Sáng kiến này sau đó được chính thức ghi vào Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII (tháng 11-2013). Qua nghiên cứu những mục tiêu của chiến lược “một vành đai, một con đường” của Trung Quốc, giới phân tích chính trị quốc tế nhận định, Trung Quốc đang theo đuổi tham vọng xây dựng một trật tự thế giới mới do Bắc Kinh “viết luật chơi”, được thể hiện ở nhiều mục tiêu lớn của chiến lược này. Đó là: 1- Mở rộng không gian chiến lược và tạo ra một dạng “khu vực sân sau” của Trung Quốc để kiểm soát lục địa Á - Âu; 2- Tạo đối trọng với chiến lược “tái cân bằng” của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương; 3- Chi phối khu vực Ấn Độ Dương và khu vực nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương; 4- Kiểm soát các đường vận tải biển liên quan và hệ thống cảng biển khu vực, chi phối các nguồn cung cấp dầu khí, tạo lập các căn cứ quân sự tại những khu vực mà những con đường này đi qua; 5- Tạo môi trường kinh tế - xã hội cho việc mở rộng “sức mạnh mềm” của Trung Quốc; 6- Xây dựng vành đai an ninh xung quanh Trung Quốc để ngăn chặn Mỹ và đồng minh tiếp cận và thâm nhập vào khu vực mà Bắc Kinh coi là “sân sau” của mình; 7- Dựa vào hợp tác kinh tế để thúc đẩy quan hệ chính trị, tạo chất xúc tác để giải quyết các tồn tại trong quan hệ của Trung Quốc với các nước khu vực, ngăn chặn sự “co cụm” của các quốc gia trong khu vực có tranh chấp với Trung Quốc, kể cả vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo; 8- Thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực; 9- Tăng cường vai trò bàn đạp của kinh tế khu vực xung quanh Trung Quốc; 10- Hậu thuẫn cho Trung Quốc “đi ra thế giới”; 11- Thông qua “5 thông” (thông chính sách, thông tuyến (trên bộ và trên biển), thông thương, thông tiền tệ và thông lòng người) để tiếp cận, thâm nhập và kiểm soát kinh tế khu vực “láng giềng mở rộng” nhằm tiến tới nắm quyền chủ đạo mậu dịch quốc tế, quyền định giá và quyền phân phối tài nguyên quốc tế; 12- Giải quyết vấn đề dư thừa năng lực sản xuất, tìm kiếm thị trường cho hàng hóa ứ đọng; 13- Tìm thị trường đầu tư, sử dụng hiệu quả dự trữ ngoại hối khổng lồ của Trung Quốc, tìm thị trường cho đồng nhân dân tệ, đẩy mạnh tiến trình quốc tế hóa đồng nhân dân tệ; 14- Tiếp cận các nguồn tài nguyên, năng lượng, nhất là dầu khí; 15- Tận dụng môi trường xung quanh để tạo điều kiện phát triển đồng đều hơn giữa các vùng, miền trong nước, đặc biệt là khu vực biên cương, miền Tây Trung Quốc.

Trung Quốc cũng tiến hành điều chỉnh chiến lược quốc phòng. Theo đó, ngày 26-5-2015, Trung Quốc chính thức công bố Sách trắng quốc phòng, thể hiện rõ nhất chiến lược quốc phòng của quốc gia này trong một giai đoạn lịch sử mới, chuyển từ thời kỳ “giấu mình chờ thời” sang thực hiện ”giấc mộng Trung Hoa”, trở thành cường quốc thế giới.

Kể từ năm 2009 khi trình lên Liên hợp quốc yêu sách phi lý “Đường lưỡi bò 9 đoạn” bao gồm một khu vực chiếm trên 80% diện tích Biển Đông, Trung Quốc từng bước đơn phương thực hiện nhiều hoạt động phi pháp hòng độc chiếm Biển Đông. Hành động này của Trung Quốc là thách thức lớn nhất đối với chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Mỹ, còn về lâu dài là nhằm làm phá sản chủ trương của Mỹ biến “Thế kỷ châu Á - Thái Bình Dương” thành “thế kỷ Mỹ”. Vì thế, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma đã chỉ trích hành động này của Trung Quốc là “dùng cơ bắp, sức mạnh thuần túy để bắt nước khác phục tùng mình”.

Đông Nam Á (cốt lõi của khu vực CA – TBD) trong lợi ích chiến lược của  Trung Quốc[42]

Về địa chính trị, chiến lược, mục tiêu chiến lược lâu dài của Trung Quốc là từng bước nâng cao vị thế, ảnh hưởng ở khu vực và quốc tế, vươn lên thành cường quốc cạnh tranh vai trò thống trị của Mỹ. Trung Quốc coi ĐNA là một mắt xích quan trọng cho chiến lược tiến ra thế giới và xuống châu Đại Dương, nhằm đẩy lùi an ninh và vai trò của Mỹ sang phía bên kia bờ Thái Bình Dương.

ĐNA là cửa ngõ duy nhất để Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, phá vỡ sự, bao vây, phong tỏa của Mỹ khi phía Bắc, Đông và Tây đã bị các cường quốc khu vực án ngữ. Phía Đông của Trung Quốc khối đồng minh chiến lược Mỹ - Nhật - Hàn vững chắc.Đài Loan được Mỹ, Nhật bảo trợ về an ninh - quốc phòng. Phía Tây Nam giáp Ấn Độ và Myanmar là hai nước mà Mỹ tăng cường cải thiện, mở rộng mối quan hệ. Phía Đông Nam nơi thuận lợi nhất cho Trung Quốc vươn ra biển do các nước chủ quyền ở Biển Đông đều là nước nhỏ với tiềm lực hải quân hạn chế. Từ năm 1963, ông Chu Ân Lai đã nói: Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông Nam châu Á[43] .

Còn Mao Trạch Đông đã khẳng định:Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore … Một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự cần thiết phải chiếm lấy… Sau khi giành được Đông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô - Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây[44] .

Biển Đông là trọng điểm trong chiến lược xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”. Chiến lược vùng biển gần của Trung Quốc được chia làm 2 khu vực là tuyến phòng thủ tuyệt đối (AD khu vực phủ định) và tuyến các khu vực đệm phía trước (A2 chống tiếp cận). Trung Quốc đang hướng tới mục tiêu về khả năng tác chiến toàn diện và khả năng răn đe và phản công chiến lược, khả năng A2/AD, khả năng tác chiến biển xa. Theo các chuyên gia nghiên cứu thuộc Trung tâm Đông - Tây (Mỹ) và Đại học Ai-chi (Nhật Bản) cho rằng quần đảo Trường Sa được xem như là một căn cứ chiến lược để phòng thủ, ngăn chặn, kiểm soát tuyến đường biển và có thể là căn cứ tấn công đất liền. Thêm vào đó, với chiến lược “xoay trục quay trở lại CA - TBD sự can dự mạnh mẽ của Mỹ vào ĐNA làm cho Trung Quốc càng gia tăng quyết tâm đưa ĐNA thành hướng ưu tiên chiến lược của mình.

Về an ninh – quân sự, khu vực ĐNA là khu đệm và lá chắn bên ngoài trực tiếp bảo vệ an ninh quốc gia phía Đông Nam của Trung Quốc. Nếu chiếm được Biển Đông cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc sẽ tạo cho mình “đồn biên phòng trên biển”, “chiến hào phòng vệ”, vành đai bảo vệ đất liền vững chắc, từ đó khống chế được Nhật Bản, Hàn Quốc, phá vỡ vòng cung bao vây chiến lược của Mỹ, đồng thời loại bỏ ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi khu vực. Ý đồ của Trung Quốc là muốn đặt Biển Đông trong vòng kiểm soát, ngăn chặn sự can thiệp chi viện của Mỹ cho Đài Loan và Nhật Bản từ hướng Nam, dễ dàng triển khai các hoạt động quân sự bao vây Đài Loan hoặc khi xảy ra xung đột đảo Điếu Ngư/Senkaku với Nhật Bản.

 Biển Đông còn là một trong những con đường để Trung Quốc tăng cường cố kết dân tộc. Tại khu vực ĐNA, hiện có hàng chục triệu người Hoa sinh sống (xem phụ lục 1) thông qua hoạt động giao thương qua Biển Đông, nhất là nếu khống chế được Biển Đông thì cộng đồng người Hoa ở nước ngoài sẽ hướng về Trung Quốc nhiều hơn, từ đó tăng cường sức hội tụ, cố kết dân tộc[45].

Về kinh tế - thương mại, ĐNA là đối tác quan trọng để Trung Quốc phát triển kinh tế; là nơi hấp dẫn để Trung Quốc thực hiện chiến lược “Đại khai phá miền Tây", dự án “một trục hai cánh” nhằm mở rộng thị trường phát triển kinh tế, nhất là hệ thống các trục giao thông cả đường bộ, đường thủy và đường sắt theo hướng Bắc Nam, qua đó mở rộng ảnh hưởng đối với khu vực. ĐNA là thị trường dễ tính trong việc tiêu thụ hàng hóa giá rẻ, là nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu, lực lượng lao động giá rẻ cho nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc. Hầu hết, ĐNA có nhu cầu cao về nguồn vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến, tạo cơ hội lớn cho các nhà đầu tư Trung Quốc thâm nhập[46]. Thông qua đầu tư và viện trợ các nước ĐNA bị lệ thuộc vào Trung Quốc từ đó Trung Quốc đạt được các nhóm lợi ích chính trị - an ninh trong quan hệ với các nước ĐNA, lẫn các đối tác, đối thủ khác, nhất là Mỹ và Nhật Bản.

Biển Đông là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới với trữ lượng ước tính khoảng 213 tỷ thùng dầu và 2000 tỷ m3 khí[47], giá trị hơn 1000 tỷ USD[48]. Chính vì vậy, Biển Đông còn được coi là “Vịnh Péc Xích thứ hai” về dầu khí, là nơi có thể cung cấp nguồn năng lượng quan trọng cho phát triển của kinh tế Trung Quốc. Nhiều học giả Trung Quốc đã cho rằng Biển Đông là “trục hai đại dương, là hòn đá tảng về sức mạnh biển, là đồng tiền sinh mệnh trên biển của Trung Quốc[49] .Trung Quốc đang thiếu năng lượng một cách trầm trọng, đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ) về tiêu thụ và nhập dầu mỏ. Hiện nay, do giá dầu giảm nên Trung Quốc mua dầu để tích trữ. Năm 2014, Trung Quốc nhập tới 5,69 triệu thùng/ngày, đến năm 2020, theo dự tính sẽ tăng lên khoảng 70% và đến 2035 là khoảng 75% với số 11,6 triệu thùng ngày[50]. Tháng 12/2015, Trung Quốc đã tiêu tốn cho việc nhập khẩu xăng dầu các loại lên tới 124.179.000 USD[51]. Nếu Trung Quốc chiếm được Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam sẽ đủ năng lượng dùng hàng trăm năm vì dưới đáy sâu của Biển Đông đang tồn tại “Băng cháy”, một dạng năng lượng của tương lai mà hiện nay trình độ và công nghệ khai thác ở đáy sâu đại dương của thế giới chưa có. Ngoài ra Biển Đông còn là con đường ngắn nhất để Trung Quốc tiếp cận với thế giới Ả Rập và châu Phi nơi cung cấp nguồn dầu mỏ lớn nhất cho đất nước. Do đó, Biển Đông còn có vị trí quan trọng trong chiến lược an ninh năng lượng của Trung Quốc.

Biển Đông là đường hàng hải nhộn nhịp đứng thứ hai trên thế giới, có khoảng từ 74.000 tàu, thuyền thương mại đi qua khu vực này mỗi năm. ĐNA còn là cầu hàng không nối các chuyến bay từ Đông Bắc Á, Bắc Mỹ sang nhiều nước Tây Nam Á, Trung Đông - Bắc Phi và Trung - Đông Âu. Vì vậy, ĐNA chính là điểm tựa, là chỗ dựa quan trọng hàng đầu cho Trung Quốc vươn ra thế giới đồng thời cũng là địa bàn quan trọng để Trung Quốc tập hợp lực lượng, xác lập vị thế của một cường quốc thế giới và phát huy vai trò trong các vấn đề quốc tế, khu vực. Từ năm 2014, Biển Đông còn là nơi xuất phát điểm để Trung Quốc thực hiện đại chiến lược “một vành đai, một con đường”.

Ngoài ra, cộng đồng người Hoa đông đảo ở ĐNA cũng là một yếu tố mà Trung Quốc có thể tận dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước. ĐNA là khu vực tập trung người Hoa kiều đông nhất khoảng 35 triệu người, chiếm 80% tổng số người Hoa trên thế giới. Trên 80% người Hoa đã nhập quốc tịch nước sở tại và nắm giữ các khu vực quan trọng của nền kinh tế như: tài chính, ngân hàng, chứng khoán, thông tin…sở hữu số vốn lên tới 450 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng số vốn trong nền kinh tế của các nước ĐNA[52]. 

Về văn hóa - giáo dục, các nước ĐNA có nhiều điểm tương đồng và chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Quốc, có cùng mục tiêu chung là phát triển kinh tế, chung quan điểm về các giá trị dân chủ, nhân quyền và một số vấn đề quốc tế. Sự gần gũi về văn hóa là cơ sở vô cùng quan trọng để Trung Quốc truyền bá rộng rãi các giá trị của mình,xoa dịu lo sợ về “thuyết mối đe dọa Trung Quốc” đồng thời xây dựng và củng cố hơn nữa lòng tin của các nước trong khu vực về hình ảnh một Trung Quốc “ôn hòa”, sẵn sàng gánh vác và chia sẻ lợi ích cũng như trách nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề trong khu vực ĐNA trong lợi ích chiến lược của Mỹ. Văn hóa tương đồng là công cụ để Trung Quốc tập hợp lực lượng chống lại các giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây, đồng thời giúp Trung Quốc dễ dàng hợp tác với các nước trong khu vực[53].

Tóm lại, ĐNA có vị trí địa chiến lược rất quan trọng và luôn là nơi tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn. Thêm vào đó, ASEAN ngày càng lớn mạnh, ĐNA phát triển mạnh mẽ càng làm khu vực này trở nên cần thiết hơn trong chiến lược của các nước lớn, nhất là đối với Mỹ và Trung Quốc.

 

 



[1] Vũ Dương Huân, “Bàn về chiến lược và sách lược đối ngoại”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4 (103), 12/2015, tr.226-228.

[2] Quốc Trung (sưu tầm và giới thiệu),  “Sự thay đổi địa chính trị châu Á-Thái Bình Dương và lựa chọn chiến lược của Trung Quốc”, http://www.nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/3025-su-thay-doidia-chinh-tri-chau-a-thai-binh-duong-va-lua-chon-chien-luoc-cuatrung-quoc

 

[4]Đinh Công Tuấn, “Những thay đổi trong chiến lược “Xoay trục châu Á - Thái Bình Dương” của Mỹ trong thời gian tới và cách ứng phó của Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (108), 3/2017.

[5] Đồng Xuân Thọ, “Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, Tạp chí Cộng sản điện tử, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2016/41547/Su-dieu-chinh-chien-luoc-cua-cac-nuoc-lon-doi-voi-khu.aspx

[6] Đinh Công Tuấn, “Những thay đổi trong chiến lược “Xoay trục châu Á - Thái Bình Dương” của Mỹ trong thời gian tới và cách ứng phó của Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1 (108), 3/2017.

[7] Ông còn nói hai nước này nên tự túc về an ninh. Trong tình huống binh lính Mỹ đã rút khỏi hai nước, mà lại xảy ra chiến tranh giữa Nhật Bản, Hàn Quốc với Bắc Triều Tiên, thì theo ông D. Trump các nước Nhật Bản, Hàn Quốc phải tự phòng vệ. Vấn đề Bắc Triều Tiên, một quốc gia trong khu vực đang làm đau đầu cộng đồng quốc tế, Ông D.Trump không đưa ra một thông điệp nhất quán, có lúc ông nói ông sẵn sàng thương lượng với lãnh tụ Kim Jong Un của nước này, có lúc ông tỏ ý mong Trung Quốc ám sát ông Kim.

[8] Đinh Công Tuấn, “Xoay trục” dưới thời Donald Trump, Tạp chí Thế giới toàn cảnh, Chuyên đề của tạp chí Khoa học và Chiến lược – Bộ Công An, số 78 (01/2017).

[9] Phát biểu của ông Katsuguki Kawai, cố vấn Thủ tướng Nhật Bản.

[10] Phát biểu của Đại sứ Việt Nam Phạm Quang Vinh tại Hoa Kỳ:"Đại sứ Việt Nam lạc quan về chính sách châu Á của ông D.Trump”, tải tại: http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://www.voatiengviet.com/a/dai-su-vn-lac-quan-ve-chinh-sach-chau-a-cua-ong-trump/3602422.html

[11] Donald Trump làm Tổng thống, quan hệ Việt - Mỹ có thay đổi?”, tải tại: http://danviet.vn/the-gioi/donald-trump-lam-tong-thong-quan-he-viet-my-co-thay-doi-721890.html.

[12] “Đài Loan có thể là con bài chiến lược Trump ngăn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông”, tải tại: http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Dai-Loan-co-the-la-con-bai-chien-luoc-Trump-ngan-Trung-Quoc-doc-chiem-Bien-Dong-post172950.gd

[13]Đài Loan có thể là con bài chiến lược mà Trump ngăn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông”, tải tại: http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Dai-Loan-co-the-la-con-bai-chien-luoc-Trump-ngan-Trung-Quoc-doc-chiem-Bien-Dong-post172950.gd

[14]Điều gì xảy ra khi Mỹ áp lệnh trừng phạt Trung Quốc ở Biển Đông”, tải tại: http://www.nguoiduatin.vn/dieu-gi-xay-ra-khi-my-ap-lenh-trung-phat-trung-quoc-o-bien-dong-a308963.html

[15]Bốn cuộc điện thoại của ông D.Trump làm rung chuyển quan hệ ngoại giao hàng thập kỷ”, tải tại: http://baotintuc.vn/the-gioi/bon-cuoc-dien-thoai-cua-ong-trump-lam-rung-chuyen-quan-he-ngoai-giao-hang-thap-ky-20161212080327743.htm

[16] Đinh Công Tuấn, “Xoay trục” dưới thời Donald Trump, Tạp chí Thế giới toàn cảnh, Chuyên đề của tạp chí Khoa học và Chiến lược – Bộ Công An, số 78 (01/2017).

[17] Đồng Xuân Thọ, “Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=41547&print=true

 

[18] Đồng Xuân Thọ, “Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=41547&print=true

 

[19] Đồng Xuân Thọ, “Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=41547&print=true

[20] Quốc Trung (gt) Theo Tạp chí Quan hệ Quốc tế Hiện đại:“Sự thay đổi địa chính trị châu Á-Thái Bình Dương và lựa chọn chiến lược của Trung Quốc”, http://nghiencuubiendong.vn/quan-h-quc-t/3025-su-thay-doi-dia-chinh-tri-chau-a-thai-binh-duong-va-lua-chon-chien-luoc-cua-trung-quoc .

[21]  Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr.1.                                                 

 Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[22] Đinh Công Tuấn (dịch), “Chiến lược mới của Trung Quốc về hợp tác, an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, Tạp chí Báo cáo viên, số 09/2017, tr.39-42.

[23] Đinh Công Tuấn (dịch), “Chiến lược mới của Trung Quốc về hợp tác, an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”, Tạp chí Báo cáo viên, số 09/2017, tr. 42-43.

[24] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 8-10.                                               

   Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[25] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 10-11.                                              

  Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[26] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 11-13.                                                 

 Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[27] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt) tr 13-14.                                                 

Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[28] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 14 – 15.                                                

 Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

[29] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 15-16.                                                  

Nguồn: http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[30] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 16-17, http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[31] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 17, http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

[32] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 17-18,http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[33] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 18 -19, http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[34] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 19-20, http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

[35] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 20.                                                                                                                                                         http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

[36] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 20-25.                                                                                                                                                      http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm

 

[37] Sách Trắng của Văn phòng thông tin Quốc vụ Viện Trung Quốc ngày 11/01/2017 về “Chính sách hợp tác an ninh của Trung Quốc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” (Bản tiếng Trung văn, Đinh Công Tuấn đã dịch ra tiếng Việt), tr 25, http://www.scio.gov.cn/zxbd/wz/Document/1539488/1539488.htm .

                                                                                                                                                           

[38]Đinh Công Tuấn, “Quan hệ Mỹ - Nga – Trung Quốc trong trật tự thế giới mới và đối sách của Nga”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 (105), 6/2016.

 

[39] Tổng bí thư Tập Cận Bình lại nêu đề nghị này tại Hội nghị APEC 11/2014. Trung Quốc coi thời điểm ngày ra đời của NSR và MSR được gọi chung là chiến lược “một vành đài, một con đường” (OBAOR). Mục tiêu Trung Quốc xây dựng chiến lược “một vành đai, một con đường” (OBAOR) là (i) chủ động đề xuất mới với tư duy nước lớn, vai trò nước lớn, khát khao thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, xây dựng Trung Quốc là trung tâm địa chính trị - kinh tế toàn cầu, độc chiếm Biển Đông, thực hiện đường lưỡi bò; (ii) chống lại “chiến lược xoay trục” của Mỹ, đối trọng với TPP và TTIP của Mỹ, do Mỹ chi phối, lấy lại vị trí lãnh đạo số một thế giới từ tay Mỹ; (iii) tận dụng yếu tố lịch sử (hơn 2100 năm trước), Trung Quốc khởi xướng con đường tơ lụa để khuếch trương thanh thế, mở rộng lợi ích của mình (ngày nay Trung Quốc cũng có điều kiện để sử dụng yếu tố lịch sử phục vụ cho chiến lược quốc gia) nhằm phá thế cô đơn, gia tăng ảnh hưởng ra khu vực, thế giới; (iv) nhu cầu thúc đẩy kinh tế, ngăn đà thiểu phát, phát triển cân bằng vùng - miền. Cụ thể, Trung Quốc sẽ sử dụng những nguyên liệu sản xuất dư thừa trong nước (sắt thép, xi măng, vật liêu xây dựng...) cùng lực lượng lao động dư thừa và đồng nhân dân tệ chuyển đổi, để xây dựng một vành đai, một con đường, thông qua ngân hàng AIIB.

[40] Hồ Sỹ Tuệ, Trung Quốc năm 2015: Những vấn đề nổi bật vào giai đoạn cuối cùng của thời kỳ “thời cơ chiến lược”, Kỷ yếu hội thảo Dự báo một số vấn đề về tình hình thế giới năm 2015 và những tác động đối với Việt Nam, Hà Nội, tháng 3/2015.

[41]  Đồng Xuân Thọ, “Sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, Tạp chí Cộng sản điện tử, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2016/41547/Su-dieu-chinh-chien-luoc-cua-cac-nuoc-lon-doi-voi-khu.aspx, và Hồ Sỹ Tuệ, Trung Quốc năm 2015: Những vấn đề nổi bật vào giai đoạn cuối cùng của thời kỳ “thời cơ chiến lược”, Kỷ yếu hội thảo Dự báo một số vấn đề về tình hình thế giới năm 2015 và những tác động đối với Việt Nam, Hà Nội, tháng 3/2015.

[42] Nguyễn Thị Hải Yến, “Ảnh hưởng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung tại Đông Nam Á đến độc lập dân tộc của các nước trong khu vực từ năm 2001 – 2015”, (Luận án Tiến sĩ), Hà Nội, 2016.

[43]Bộ Ngoại giao (2010),Quan hệ Trung - Mỹ giai đoạn 2006 - 2010: Triển vọng và tác động, đề tài trọng điểm cấp Bộ.

[44]Bộ Ngoại giao (2010),Quan hệ Trung - Mỹ giai đoạn 2006 - 2010: Triển vọng và tác động, đề tài trọng điểm cấp Bộ.

[45]Viện 70, tổng cục II, Bộ Quốc phòng (2014), "Nghiên cứu cơ bản về chủ quyền, an ninh biên giới trên đất liền, biển, đảo và vùng trời Việt Nam".

[46] Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên) (2013), Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI và tác động đến Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[47]Nguyễn Nhâm, “Vì sao các nước quan tâm hơn đến Biển Đông?”, Tạp chí Hải Quân, số 5/2015, tr.21-24.

[48]Đỗ Minh Cao (2010), “An ninh Biển Đông nhìn từ tranh chấp lợi ích kinh tế giữa các nước liên quan”, Tạp chí Quan hệ Quốc phòng, số 3/2010, tr.60-64.

[49]TrầnKhánh (chủ biên)(2014), Hợp tác và cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ở Đông Nam Á và tác động của chúng đối với khu vực và Việt Nam thời kỳ hậu chiến tranh lạnh (giai đoạn từ 1991 đến 2011), Hà Nội, đề tài khoa học cấp Bộ của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia.

[50]Lê Minh Trang vàTrần Khánh (2014), Đông Nam Á trong lợi ích chiến lược của Mỹ và Trung Quốc, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 3/2014, tr.3-9.

[51]Tổng cục thống kê (2015), Một số mặt hàng nhập khẩu phân theo nước và vùng lãnh thổ chủ yếu sơ bộ các tháng năm 2015Cổng thông tin điện tử Tổng cục Thống kê,www.gso.gov.vn của Tổng cục Thống kê.

[52]Kiều Tỉnh, "Người Hoa ở Đông Nam Á: Thế lực đáng gờm", http://www.tamnhin.net/tieu-diem/11038/Nguoi-Hoa-o-Dong-Nam-A-The-luc-dang-gom.html.  

[53]Lưu Việt Hà (2014), “Nhân tố ASEAN trong Chính sách đối ngoại của Trung Quốc đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1/2014, tr.199-214