Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Từ kinh nghiệm phát triển đặc khu kinh tế tới sự đe dọa toàn cầu của Bắc Kinh

LTS - Việc Quốc hội đang chuẩn bị thông qua Luật về các Đặc khu kinh tế (ĐKKT) trong đó có quy định cho nhà đầu tư thuê đất tới 99 năm đã khiến dưu luận xã hội vô cùng lo lắng về những nguy cơ về an ninh quốc phòng liên quan đến các nhà đầu tư Trung Quốc. Những lo lắng đó là có cơ sở trong thực tế, vì Trung Quốc đã và đang đe doạ an ninh kinh tế của các châu lục trên thế giới khi triển khai các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng trên phạm vi toàn cầu. Để độc giả có thêm tư liệu về Đặc khu kinh tế (ĐKKT) và những hoạt động đầu tư phát triển toàn cầu của Trung Quốc – hai  vấn đề có liên quan trực tiếp với nhau - VHNA xin giới thiệu bài tổng thuật của tác giả Đỗ Minh Tuấn về hai vấn đề này.

Những kết quả trái chiều của ĐKKT ở nhiều nơi trên thế giới.

Từ những năm 1970, các ĐKKTđã phát triển nhanh chóng ở trên toàn thế giới. Tăng trưởng kinh tế do các khu kinh tế tự do tạo ra là một thành phần chính trong tiến trình của Trung Quốc kể từ giai đoạn “mở cửa và cải cách”, và các quốc gia đang phát triển đang ngày càng quan tâm đến việc Trung Quốc xây dựng thành công các ĐKKT.

Tang Xiaoyang (Phó giáo sư tại Đại học Thanh Hoa)đã tổ chức một cuộc trò chuyện với các học giả Douglas Zeng (nhà kinh tế cấp cao tại Ngân hàng Thế giới) và Xu Jiajun(Trợ lý giáo sư tại trường quốc gia phát triển) về các mẫu được quan sát từ ba mươi năm dữ liệu về các ĐKKT trên toàn thế giới. Họ xác định các đặc điểm chung của các khu kinh tế thành công, các chiến lược thu lợi ích kinh tế cho các nền kinh tế địa phương và các bài học mà các nước đang phát triển khác có thể thu được từ kinh nghiệm của Trung Quốc. Cụ thể, ba nhà học giả đã thống nhất ý kiến về thực trạng các ĐKKT trên thế giới như sau:

   i.Các tính năng phổ biếncủa các ĐKKT thành công

  • Hỗ trợ của Chính phủ: Hỗ trợ mạnh mẽ, nhất quán và lâu dài từ các cấp cao nhất của chính phủ cung cấp cho các ĐKKT các công cụ để ban hành các chương trình mới và cung cấp một không gian ít quy định hơn cho các doanh nghiệp phát triển.
  • Hỗ trợ thể chế: Các hệ thống thể chế - chẳng hạn như các khung pháp lý hiệu quả, các ưu đãi hiệu suất được chế tác tốt và các tổ chức có thẩm quyền giám sát phát triển có vai trò quan trọng trong việc phát triển các ĐKKT
  • Vị trí và cơ sở hạ tầng vật chất: Các hệ thống thể chế và hỗ trợ của chính phủ củng cố các nền tảng quan trọng như vị trí địa lý chiến lược, cơ sở hạ tầng giao thông và năng lượng đủ để đáp ứng nhu cầu của người dân địa phương.

ii.Lợi ích của các khu kinh tế thành công:Các nhà nghiên cứu tham gia trao đổi đã ghi nhận một số lợi ích trực tiếp được chứng minh rõ ràng của ĐKKT, chẳng hạn như thúc đẩy việc làm, tăng thu nhập ngoại hối và đầu tư trực tiếp nước ngoài, và thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Đối với các nước chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, các khu kinh tế tự do ĐKKT cũng có thể giúp các nền kinh tế đa dạng hóa bằng cách mở ra cơ hội cho các ngành công nghiệp mới. Ngoài ra, nếu được quản lý cẩn thận và tích hợp các doanh nghiệp địa phương, các ĐKKT có thể tạo ra lợi thế phụ như nâng cao kỹ năng của người lao động, tạo điều kiện chuyển giao công nghệ và thúc đẩy thực hành quản lý hiện đại.

Các nhà học giả tham gia đối thoại đã so sánh các điều kiện kinh tế và hiệu suất ĐKKT ở các vùng địa lý khác nhau, tập trung vào châu Á nơi có gần 500 khu công nghiệp cấp quốc gia. Những khu kinh tế tự do của Trung Quốc đã trực tiếp tạo ra hơn 30 triệu việc làm kể từ khi thời kỳ cải cách bắt đầu. Khu thương mại tự do Penang của Malaysia đã có vai trò làm giảm tỷ lệ đói nghèo của tiểu bang từ 30,2% năm 1972 xuống còn 0,3% năm 2010. Khu thương mại tự do Masan của Hàn Quốc cũng đã tạo ra 13 đến 15% giá trị gia tăng từ sản xuất của đất nước mặc dù chỉ chiếm 0,2% diện tích đất trong quy hoạch cho các hoạt động công nghiệp toàn quốc.

iii.Những thách thức được đưa ra bởi các khu kinh tế tự do: Các học giả thừa nhận rằng các khu kinh tế tự do không phải là thuốc chữa bách bệnh cho sự phát triển,  thậm chí nhiều ĐKKT đã không thành công. Họ cho rằng cơ sở hạ tầng hạn chế, bất ổn chính trị và thiếu khung pháp lý có thể thực thi có thể dẫn đến những tiến bộ hiếm hoi như đã thấy ở  nhiều ĐKKT châu Phi. Ngoài ra, các tham luận viên đã cảnh báo việc phát triển quá nhiều ĐKKT quá nhanh, có thể mở rộng năng lực sản xuất vượt xa nhu cầu, như đã xảy ra ở Trung Quốc vào đầu những năm 2000. Cuộc đấu tranh của Trung Quốc với suy thoái môi trường cũng được coi là một câu chuyện cảnh báo cho các quốc gia đang phát triển khác.

iv.Các mô hình mới nổi: Các diễn giả khẳng định trong tương lai các ĐKKT sẽ thành công dựa trên quan hệ đối tác công-tư . Thực tế này có thể thuyết phục các tổ chức tài chính mạo hiểm đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo cơ hội cho các đối tác chính phủ có nhiều khả năng phục hồi từ các liên doanh thất bại. Tham luận viên cũng lưu ý rằng các tổ chức tài chính lớn như Ngân hàng Thế giới đang dần dần chấp nhận các khu kinh tế tự do, bắt đầu phân bổ kinh phí và thực hiện các chương trình hỗ trợ các khu kinh tế tự do cho các nước đang phát triển.

Chương trình đầu tư phát triển toàn cầu của Bắc Kinh đe dọa phương Tây

Bắc Kinh đang lan rộng tầm ảnh hưởng của mình trên khắp khu vực với các khoản đầu tư lớn - nhiều đến nỗi làm cho Ấn Độ phải lo lắng. Trong khi phần lớn sự chú ý của quốc tế tập trung vào Biển Đông, thì ở biên giới phía tây, Trung Quốc đã mở rộng sự hiện diện của mình tại Maldives, Nepal, Sri Lanka và Bangladesh. Trung Quốc được mệnh danh là "Người thay đổi trò chơi lớn nhất trong 100 năm" khi lan rộng tầm ảnh hưởng của mình trên khắp khu vực với các khoản đầu tư lớn - nhiều đến nỗi làm cho Ấn Độ và các nước Tây Á lo lắng.

Hậu quả hãi hùng

Sân bay Mattala Rajapaksa ở miền nam Sri Lanka do Trung Quốc đầu tư xây dựng để xử lý một triệu hành khách mỗi năm, nhưng rốt cục Mattala Rajapaksa chỉ nhìn thấy hơn 50.000 người vào năm 2017. Sau bốn năm khánh thành, sân bay này đã trở thành sân bay quốc tế trống nhất trên thế giới. Đây là một biểu tượng của lời hứa và sự nguy hiểm của một cuộc đua khốc liệt đang diễn ra ở vùng Nam Á. "Sự xâm nhập của Trung Quốc ở Nam Á là sự thay đổi lớn nhất trong 100 năm qua. Người Nga đã thử, người Mỹ đã cố gắng. Ít nhất, đây là lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới hai ta thấy một sức mạnh lớn chống lại nhà nước Ấn Độ.”- Constantino Xavierđã khẳng định tại hội thảo Carnegie Ấn Độ”[1].

Đầu năm 2017, chuyến tàu chở hàng trực tiếp đầu tiên từ Trung Quốc đến Vương quốc Anh đã đến một kho hàng ở Barking, phía đông London, mang theo các container chứa hàng tiêu dùng. Vài tháng sau, đoàn tàu đã thực hiện hành trình trở về đầu tiên, cung cấp rượu whisky Scotch, dược phẩm và sản phẩm em bé cho các chợ bán buôn khổng lồ trên bờ biển phía đông Trung Quốc. Năm 2016, 1.702 tàu có tên là Gió Đông vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc đến châu Âu, tăng gấp đôi tổng số trong năm 2015.Phải mất 16 ngày để đi 7.500 dặm vòng qua tám quốc gia. Nếu đi bằng đường biển có thể giảm một nửa thời gian. Nhưng theo Tom Miller(2017) Trung Quốc muốn con tàu là biểu tượng của sức mạnh “Gió đông thỏi bạt gió Tây” như Mao Trạch Đông đã nói. Các đoàn tàu chạy trên đường Eurasia là một phần trong nỗ lực xây dựng một con đường tơ lụa mới, lấy cảm hứng từ các tuyến đường cổ xưa, một lần lan tỏa khắp sa mạc xa xôi và thảo nguyên của Trung Á. Họ được thúc đẩy ngày hôm nay bởi các nhiệm vụ cho quyền lực kinh tế và vinh quang quốc gia. Bằng cách xây dựng và tài trợ các đường cao tốc, đường sắt và cảng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn tất cả các con đường dẫn đến Bắc Kinhtheo nghĩa đen.

Con đường tơ lụa mới

Con đường tơ lụatrở lại trong kinh doanh khi tàu Trung Quốc lăn bánh vào London. Con đường tơ lụa mới rộng hơn cả về phạm vi địa lý và kinh tế so với tên gọi cổ xưa của nó, chủ yếu dựa vào đất liền và tất cả về thương mại và thương mại. Trên đất liền, nó liên quan đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông mới và các hành lang công nghiệp trải dài trên khắp Trung Á đến Trung Đông và châu Âu. Trên mặt nước, nó bao gồm các cảng mới và các tuyến thương mại trên Biển Nam Trung Hoa vào Nam Thái Bình Dương, và qua Ấn Độ Dương đến tận Địa Trung Hải. Bắc Kinh nói về việc hơn 65 nước thuộc về sáng kiến này, nhưng chưa có chốt danh sách. Đó là thông điệp ngoại giao vắn tắt nhằm mô tả quy mô tài chính, đầu tư và xây dựng của Trung Quốc trên phần lớn các nước đang phát triển.

Theo Tom Miller (2017) tiền của Trung Quốc đã lan rộng vào Nam Á và đặc biệt là Pakistan trong thập kỷ qua, và hàng tỉ đô la đã được hứa hẹn như một phần của Sáng kiến ​​Vành đai và Đường bộ, một nỗ lực đầy tham vọng của Bắc Kinh nhằm tạo ra Con đường tơ lụa mới của các tuyến thương mại trên toàn thế giới nhằm cho thuê nhiều tài sản hơn trong tương lai. Vào ngày 9 tháng 12, một lá cờ Trung Quốc được nâng lên trên cảng Hambantota thay cho cờ Sri Lanka trong suốt bảy ngày. Việc này được người Strilanca coi như một cuộc xâm lược. Bergama Gnana Thilaka – một vị sư chủ trì ngôi chùa cạnh đó đến văn phòng quản lý cảng và nói với họ rằng ông sẵn sàng bắn hạ lá cờ này! “Thuê cảng  mà giống như một cuộc xâm lược thuộc địa!”Trong quá khứ, khi Sri Lanka bị người Anh xâm lược, có những nhà sư Phật giáo đã đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại họ. Sự hiện diện của các công nhân Trung Quốc ở Hambantota đã làm cho cư dân ở đây, đặc biệt là các nhà tín đồ Phật giáo, nổi giận dữ dội. Vị sư phàn nàn rằng ông biết ít nhất năm cuộc hôn nhân giữa công nhân Trung Quốc và phụ nữ địa phương.  Các nhà phân tích và các nhà ngoại giao phương Tây cảnh báo tiền của Trung Quốc đang ngày càng chuyển thành ảnh hưởng chính trị. Trước sức ép của dư luận xã hội nhà cầm quyền buộc phải cấm Hải quân Trung Quốc vào cảng Hambantota từ đó cho đến nay, nhưng nước này phải đối mặt với việc phải trả nợ cho Bắc Kinh kéo dài hàng thập kỷ[2]./.

 



[1]Tom Miller- The biggest game changer in 100 years’: Chinese money gushes into Sri Lanka– The Guardian - 26 - 3 - 2018.

[2]Tom Miller- Xi Jinping’s global infrastructure investment programme threatens the west with more than economic dominance. He’s playing a serious political game - The Guardian - Mon 4 Sep 2017 06.00 BST