Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Báo chí cách mạng Việt Nam thời hội nhập: Cần nhận thức mới và sáng tạo không ngừng

Đất nước đổi mới và hội nhập mở ra những cơ hội và thách thức trong rất nhiều lĩnh vực, trong đó có báo chí. Rõ ràng, khi đã hội nhập, chúng ta không thể không thừa nhận những giá trị phổ biến mà hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới đều công nhận. Báo chí thừa nhận những giá trị này để tiến xa hơn.

Những đòi hỏi của thời cuộc

Báo chí thế giới đã có hơn 400 năm tồn tại và phát triển.Trong khoảng thời gian đó đã có nhiều biến đổi, đặc biệt là trong kỷ nguyên “thế giới phẳng” – thế giới hội nhập. Báo chí cách mạng Việt Nam có lịch sử 93 năm, đã lập nên nhiều thành tựu to lớn trong đấu tranh cách mạnh và chiến tranh giữ nước, phát triển kinh tế - xã hội. Đã có những thời kỳ (trong chiến trong chống Mỹ cứu nước), báo chí cách mạng Việt Nam được công nhận hoạt động có hiệu quả vào loại nhất trên thế giới. Lúc đấy bạn và thù rất rõ ràng, dễ nhận diện và chúng ta gần như chỉ có một nhiệm vụ: Động viên sức người, sức của cho cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tan rã, việc nhận diện bạn – thù đã trở nên phức tạp. Vấn đề an ninh chính trị - tư tưởng cũng có những đòi hỏi mới, tinh tế và sâu sắc hơn. Đặc biệt, sau khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, trở thành thành viên của hiệp hội ASEAN, vị thế của nước ta đã  khác. Chúng ta xác định Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước. Nghĩa là chúng ta quyết tâm hội nhập với thế giới đang phát triển nhanh về tốc độ; đa dạng về các mô hình kinh tế - xã hội; phong phú về các giá trị văn hóa.Trong một thế giới như vậy, nhiều cơ hội mới và thách thức mới đã đặt ra đối với nền báo chí cách mạng của chúng ta. Càng ngày, những thách thức đó càng trở nên rõ ràng, đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp để vượt qua.

Hiện nay, chúng ta thấy các nhà báo Việt Nam phải đối đầu với những thay đổi chóng mặt, thay đổi gây sốc, kể cả với những vấn đề trong nước và trên thế giới. Điều này được kiểm nghiệm trong thời gian vừa qua.

Ví dụ: Những thay đổi lớn ở trong nước liên quan đến cuộc chiến chống tham nhũng. Trường hợp ông Đinh La Thăng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Ở chức vụ và cương vị này, không những quyền lực của ông ấy rất lớn, mà ở một khía cạnh nào đấy, ông ấy còn đại diện cho sức mạnh của Đảng, của đất nước ta. Vì vậy, không ít nhà báo đã ra sức ca ngợi tài đức của con người này. Sau khi ông ấy bị bắt và bị buộc phạm rất nhiều sai lầm, bị kết án hàng chục năm tù thì báo chí lại xem ông ấy như một tội đồ lớn; xem ông ấy gần như đại diện cho một thế lực đen tối, làm nghèo đất nước, làm xấu hình ảnh người Việt Nam. Những thay đổi như vậy đặt ra cho chúng ta những vấn đề liên quan đến tri thức và đạo đức nghề báo. Ở đây nhà báo cần sự nhạy bén để không bị quá lố trong những bài viết của mình, cách thể hiện quan điểm của mình. Rõ ràng, những người đã từng viết bài ca ngợi ông Đinh La Thăng sẽ không cảm thấy thoái mái, khó nghĩ, thậm chí có thể là mặc cảm trước các diễn biến liên quan. Những thay đổi kiểu này chắc còn diễn ra.

Trên bình diện quốc tế: cách đây chưa lâu, không ai nghĩ Tổng thống Hàn Quốc có thể ôm Chủ tịch Triều Tiên. Tổng thống Mỹ R. Trump với ông Kim Jong Un cũng đã từng chỉ trích nhau tới mức “cạn tàu, ráo máng” nhưng rồi họ sẽ lại bắt tay nhau, ca ngợi nhau. Thế giới ngày nay thay đổi như vậy, báo chí cần làm gì để thích nghi?

Điều các nhà báo có thể làm là nhắc nhở nhau tỉnh táo để có thể lường trước được mọi biến đổi, tìm cho mình một góc nhìn khách quan, trung thực để phản ánh cuộc sống.Điều này tuy rất khó nhưng nếu các nhà báo được trang bị lý luận, kiến thức và hành nghề trung thực thì vẫn có thể làm được.Báo chí có chức năng dự báo, dự đoán, nghĩa là ở một mức độ nào đó, các nhà báo tinh thông nghiệp vụ, có thể đoán trước được tình hình. Đây không phải là sự đoán mò, mà phán đoán dựa trên cơ sở những thông tin chính xác, thông tin đáng tin cậy. Ấy vậy mà hiện nay lại đầy rẫy những tin giả, tin chưa đúng sự thật!

Tin giả và tin chưa đúng sự thật là một thách thức lớn đối với các nhà báo.Tin giả là tin bịa đặt, hoàn toàn không có trong cuộc sống. Thật là rắc rối vì hiện nay có những vụ việc cơ quan có trách nhiệm tung tin giả. Đó là vụ việc nhà báo Nga Arkady Babchenko “chết đi sống lại” do chính cơ quan đặc vụ của Nhà nước Ukraine dàn dựng. Những vụ việc như thế này đặt nhà báo vào tình thế rất khó xử. Trước mắt, các chính khách và các nhà báo, trong đó có những người đứng đầu các tổ chức báo chí quốc tế kịch liệt phê phán hành động của cơ quan đặc vụ Ukraine. Song, vấn đề đặt ra là các nhà báo phải hành động thế nào khi có những vụ việc tương tự tiếp tục xẩy ra?! Đây là lựa chọn không mấy dễ dàng.

Còn tin chưa đúng sự thật là thông tin về sự kiện, sự việc có thật nhưng lại phản ánh không đúng bản chất sự việc, sự kiện. Về nguyên tắc, đây vẫn là việc đưa tin sai vì “một nửa chiếc bánh mỳ vẫn là bánh mỹ, còn một nửa sự thật không phải là sự thật”.Điều này các nhà báo nên ghi nhớ.

Về năng giám sát và phản biện của báo chí

Báo chí có nhiều chức năng, từ thông tin đến tuyên truyền giáo dục, trong đó chức năng giám sát và phản biện là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất. Sở dĩ phải nhần mạnh là cần hiểu rõ hơn chức năng này vì ngày xưa khi nói vềcác chức năng của báo chí, chúng ta không thường xuyên đề cập và nhấn mạnh chức năng này. Do đó, một số người (kể cả nhà báo chuyên nghiệp, độc giả, quan chức…) gần như không biết tới nó. Đây là một thiệt thòi của những người làm báo.Để khắc phục tình trạng này, những nhà lý luận trong lĩnh vực báo chí đã nỗ lực bù đắp bằng những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học. Một trong những quyển sách chuyên khảo trong lĩnh vực báo chí do tập thể các nhà khoa học (chủ yếu là các nhà giáo của Học viện Báo chí và Tuyên truyền) soạn thảo đã ra đời. Quyển sách có tên “Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam” do PGS-TS Nguyễn Văn Dững chủ biên.

Trong “Lời nói đầu” của cuốn sách này nhấn mạnh: “Báo chí đổi mới vì sự nghiệp đổi mới đất nước và đổi mới báo chí để từng bước xây dựng nền báo chí Việt Nam cách mạng và chuyên nghiệp hơn” (1). Đây là sự lý giải, đồng thời cũng là lời kêu gọi thay đổi nhận thức và phát huy trí sáng tạo trong lĩnh vực báo chí.

Căn cứ vào tình hình thực tế trong những năm gần đây, chúng ta thấy rằng, báo chí Việt Nam rất cần phải thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện. Nói một cách ngắn gọn: Giám sát là theo dõi và phản ánh trung thực những gì đang diễn ra trong cuộc sống; phản biện là phân tích, đánh giá cái hay, cái dở - cái đúng – cái sai trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt trong từng chủ trương, chính sách, việc làm của các cơ quan Nhà nước, từ trung ương đến địa phương trên cơ sở khoa học. Phản biện khác với phê phán, chỉ trích ở chỗ người ta làm việc này hoàn toàn khách quan với mong muốn các cấp chính quyền phát huy cái hay, cái đúng; hạn chế và loại trừ cái dở, cái sai.

Trong thời gian gần đây, báo chí đã làm khá tốt chức năng giám sát và phản biện. Điều này thể hiện rõ nhất, gần đây, là trong lĩnh vực giao thông, nhất là với BOT. Hàng trăm bài báo đã khẳng định: Chủ trương làm BOT là hay, là đúng nhưng ở một số dự án, việc thực hiện không tốt dẫn đến xung đột với nhân dân. Hơn nữa, việc thực hiện quá nhiều dự án BOT trong cùng một thời điểm sẽ không có lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội.

Báo chí không chỉ đơn thuần là phản ánh, mà còn tranh luận với những người có trách nhiệm trong vấn đề này. Thông qua việc tranh luận, những người có trách nhiệm khi tỏ ra đuối lý đã nói, đại ý: Báo chí cũng chỉ là một số những phóng viên, trình độ và hiểu biết chuyên môn cũng có hạn, vậy sao vấn đề nào cũng phán như thánh, như tướng ấy? Đúng là trình độ phóng viên có thể hạn chế nhưng báo chí còn sử dụng các chuyên gia trong mọi lĩnh vực để phản biện. Do vậy, việc báo chí lý giải rõ ràng những vấn đề kỹ thuật phức tạp cũng không có gì đáng ngạc nhiên, vì báo chí dựa vào kiến thức của các chuyên gia đầu ngành.

Cuộc chiến chống tham nhũng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, một phần cũng nhờ báo chí, dựa vào báo chí. Báo chí là “tai, mắt” của cơ quan chống tham nhũng. Báo chí phản ánh, chỉ ra những dự án, những tập thể, cá nhân có vấn đề. Căn cứ vào đây, các cơ quan chức năng vào cuộc và đưa ra ánh sáng những sai phạm cụ thể. Nhiều người đứng đầu bộ, ngành, địa phương từng phải thốt lên: “Tôi biết được sự việc này là nhờ báo chí!”, mặc dù sự việc đó xẩy ra trong lĩnh vực, trên địa bàn do họ quản lý.

Một điều quan trọng nữa là chính báo chí luôn luôn cổ vũ lực lượng kiên quyết chống tham nhũng để họ cảm thấy có sức mạnh, sự tự tin trong cuộc chiến khó khăn, khốc liệt này.

Về  quan hệ báo chí và chính quyền

Báo chí được xem là quyền lực thứ tư. “Được xem” thôi vì theo nguyên tắc tổ chức nhà nước, báo chí không thuộc các cơ quan quyền lực. “Được xem” vì trên thực tế, báo chí có quyền lực gián tiếp. Đó là bằng năng lực thông tin, báo chí góp phần tạo nên dư luận xã hội, phản ánh dư luận xã hội để chính quyền xem xét và giải quyết những vấn đề của cộng đồng, của đất nước.

Như vậy, báo chí và chính quyền có mối liên hệ chặt chẽ với nhau dù chức năng của chính quyền và của báo chí là khác nhau. Chính quyền sẽ hài lòng, sẽ được hưởng lợi nếu được báo chí có thiện cảm, được báo chí ủng hộ. Tuy nhiên, báo chí sinh ra không phải để phục vụ chính quyền nếu chính quyền đó không phục vụ lợi ích của cộng đồng của đất nước, mà là để thông tin một cách trung thực, khách quan về những gì đang diễn ra trong cuộc sống. Bằng cách này, báo chí thực hiện chức năng cao cả của mình là thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Lịch sử xã hội loài người đã có hàng vạn năm nhưng trong vòng hơn 400 năm nay, đồng thời với sự xuất hiện của báo chí, loài người đạt được những tiến bộ nhanh nhất, nhiều nhất. Không ai nghi ngờ sức mạnh của báo chí, đóng góp lớn lao của báo chí trong tiến trình phát triển của xã hội.

Về nguyên tắc, báo chí phải phản ánh khách quan dù sự việc đó có lợi cho chính quyền hay không. Vì thế giữa báo chí và chính quyền vẫn có thể xuất hiện các bất đồng thuận khi báo chí phản ánh những sự việc không có lợi cho chính quyền. Điều nay xẩy ra khi chính quyền có những chủ trương, chính sách thiếu sáng suốt, không mang lại lợi ích cho người dân. Nếu những người đứng đầu chính quyền hiểu được điều này, bắt tay vào sửa sai, mọi việc sẽ tốt đẹp. Ngược lại, chính quyền bảo thủ, không sửa sai, mà cho rằng, báo chí cố ý gây khó khăn cho chính quyền, lúc đấy bất đồng thuận có thể ngày càng lớn và tình hình có thể xấu hơn.

Xin được nhắc lại cách nhìn nhận và giải quyết mối quan hệ giữa báo chí và chính quyền của ông Thomas Jefferson (1743-1826) – Tác giả của Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Ông đã nói rõ quan điểm của mình: “Nền tảng chính phủ của chúng tôi là quan điểm của nhân dân - đối tượng đầu tiên nắm giữ quyền lực; và nếu để cho tôi quyết định liệu chúng ta nên có một chính phủ không có báo chí, hoặc có một nền báo chí mà không có chính phủ, tôi không ngần ngại một tích tắc nào, tôi chọn phương án hai…”. (Thomas Jefferson gửi tới Edward Carrington, 1787.ME) (2).

Đây chỉ là một giả thuyết do ông Jefferson đặt ra để nhấn mạnh vai trò của báo chí mà thôi vì trong thực tế không có người đứng đầu chính phủ nào phải lựa chọn như thế. Tuy nhiên, cách nói này chỉ rõ một thực tế là bất cứ chính quyền nào cũng cần tôn trọng báo chí, tạo điều kiện để báo chí hoạt động hiệu quả. Làm được như vậy, cả chính quyền lẫn báo chí đều ở vào vị trí thuận lợi, thực hiện tốt được chức năng, nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, đây là cách tư duy của một người Mỹ xuất sắc trên cơ sở là bối cảnh kinh tế - xã hội của nước Mỹ thế kỷ XVIII. Báo chí của Mỹ là báo chí tư nhân, hoạt động tự do và tự chịu trách nhiệm trước xã hội. Còn với Việt Nam chúng ta, tình hình có khác nên cách nhìn nhận, giải quyết các vấn đề cũng cần phù hợp. Ở nước ta hiện nay, chính quyền là cơ quan chủ quản của báo chí, cung cấp trụ sở, kinh phí cho báo chí hoạt động. Đây là khác biệt so với nhiều nước trên thế giới. Vậy khi báo chí phát hiện ra những sai phạm của chính quyền, báo chí có dám nói không?

Luật định là hoàn toàn có thể và thực tế, báo chí Việt Nam cũng đã phản ánh, chỉ rõ, phanh phui nhiều sai phạm của các cá nhân, tập thể thuộc chính quyền. Song, người ta vẫn có cảm giác nhiều khi báo chí chưa dám nói hết những yếu kém của các cá nhân, tập thể có quyền. Điều cần thiết là chính quyền không nên ứng xử và điều hành báo chí như các lĩnh vực khác. Thiết nghĩ,  chính quyền nên nhận thức rằng, việc báo chí phản ánh những yếu kém của chính quyền là báo chí đang thực hiện chức năng giám sát và phản biện của mình. Báo chí luôn mong chính quyền chấn chỉnh, sửa sai (nếu có) để hoạt động tốt hơn. Ở đây thực sự cần nhận thức mới và sâu sắc hơn từ phía chính quyền. Phải hiểu được rằng, báo chí cách mạng Việt Nam đã lĩnh hội được những giá trị chung nhân loại, kết hợp với truyền thống của dân tộc thể hiện trong câu thành ngữ “Thương cho roi, cho vọt…”, chỉ ra những khiếm khuyết để chính quyền khắc phục, để tốt lên.

Về đạo đức nghề báo

Trong cuộc sống bình thường hàng ngày, ít khi người ta nhắc đến phạm trù đạo đức.Còn khi đã nhắc đến đạo đức thì phải hiểu là đã có một điều gì nghiêm trọng xẩy ra.Trong hoạt động báo chí cũng thế, khi nhắc đến đạo đức nghề báo chính là lúc xã hội muốn chấn chỉnh lại cách tác nghiệp, cách hành nghề của một số nhà báo.

Bộ Thông tin và Truyền thông mỗi năm xử phạt hàng chục cơ quan báo chí, trong đó có việc phạt tiền (hàng tỷ đồng), tạm đình chỉ hoạt động của một số cơ quan báo chí, thu hồi Thẻ Nhà báo của nhiều phóng viên… Điều này nói lên rằng, bản thân các cơ quan báo chí và các nhà báo cũng thường xuyên vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề nghiêm trọng hơn nằm ở chỗ các nhà báo vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo được hình thành trên cơ sở kết hợp đạo đức chung và những chuẩn mực nghề nghiệp về báo chí. Đạo đức mách bảo cho nhà báo lựa chọn các giá trị tinh thần và hành vi thích hợp trong hoạt động nghề nghiệp một cách chính xác bởi vì nó dựa vào lương tâm. Một khi nhà báo có lương tâm, anh ta tự đánh giá được hành động của mình phù hợp các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội. Nếu nhà báo không có lương tâm, thì anh ta cũng không có nhân cách, thiếu tính nhân văn, và đánh mất luôn vai trò và ý nghĩa xã hội của mình. Nghề nghiệp ủy thác cho nhà báo quyền hạn và nghĩa vụ thay mặt xã hội đưa ra nhận xét, nhận định công khai về các sự việc, các vấn đề xẩy ra trong xã hội. Như vậy, đạo đức báo chí có thể được xem là ý thức cộng đồng và nhận thức của cá nhân.

Cốt lõi của đạo đức nhà báo là tính trung thực, tôn trọng sự thật, dũng cảm bảo vệ sự thật đến cùng; nhà báo có đạo đức là người đặt quyền lợi của cộng đồng lên trên hết, chứ không phải quyền lợi của bất cứ người nào, nhóm người nào. Đây là điều đơn giản về nhận thức nhưng phức tạp trong vấn đề thực hiện.

Việt Nam đã và đang trên con đường hội nhập với thế giới, báo chí cách mạng Việt Nam đang đổi mới để phát huy sức mạnh của mình.Trong quá trình này, vấn đề đạo đức nghề nghiệp phải được nhắc đến thường xuyên.

Tháng 6/2018

 

Chú thích:

  1. Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017, trang 12.
  2. Nguyên văn tiếng Anh: “The basis of our governments being the opinion of the people, the very first object should be to keep that right; and were it left to me to decide whether we should have a government without newspapers or newspapers without a government, I should not hesitate a moment to prefer the latter…”. (Thomas Jefferson to Edward Carrington, 1787. ME).