Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Biến đổi ngữ âm lịch sử với việc tạo từ tiếng Việt

1.Dẫn nhập

Trong một số công trình nghiên cứu về tiếng Việt, sự hiện diện của những nhóm từ như: buồn - muốn, tròng - lòng, trồi - lồi, dơ - nhơ, quơ - vơ, bệt - phệt - trệt - sệt … đã từng được đề cập hoặc phân tích, miêu tả là những kết quả của hiện tượng “biến âm tạo từ”. Hiện tượng những biến đổi ngữ âm lịch sử dẫn đến hình thành những từ mới (coi như được “phái sinh” ra) vừa có quan hệ về nghĩa lại vừa có liên hệ về mặt lịch sử ngữ âm với từ có trước đó (được coi là từ gốc) là một thực tế, nhưng phân tích, giải thích cho được những mối quan hệ trong các nhóm từ đó, là công việc rất phức tạp. Nếu nói rằng có những biến đổi ngữ âm lịch sử của tiếng Việt đã làm hình thành những từ mới, thì điều này cần được phân tích và kiểm chứng. Trước hết chúng ta phân tích một vài ví dụ.

a) Xét quan hệ giữa hai từ buồn muốnta thấy:

Thứ nhất, Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh củaA. de Rhodes (1651) ghi ở hai mục từ riêng biệt: buần - muốn. Âm đầu của hai từ này phát sinh từ cùng một nguồn gốc. Các nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Nguyễn Tài Cẩn, 1995) cho biết:một trong số các nguồn gốc của âm đầu / m / trong tiếng Việt ngày nay là phụ âm */ ɓ / Proto Vietic. Âm */ ɓ/này (theo phục nguyên của Diffloth G., 1990, 1994; Ferlus M., 1991; Nguyễn Tài Cẩn, 1995; Nguyễn Văn Lợi, 2010)cũng còn được phục nguyên là */ mb / (theo Maspero H., 1912; Sokolovskaja K. N, 1978;  Barker M. E., 1963) hoặc  */ Ɂb / (theo Haudricourt A. G., 1950; K. Gregerson, 1969; Ferlus M., 1982). Nghiên cứu so sánh Việt - Mường cho thấy sự biến đổi của  */ ɓ/ Proto Vietic đã cho ta / m / trong tiếng Việt và / b / trong tiếng Mường ngày nay. Sự tồn tại song song của / b / và  / m / ở một cặp song thức muốn - buồn, là một trong những trường hợp hiếm hoi diễn ra: kết quả biến đổi */ ɓ/ (là / m /, / b /) cùng được lưu giữ ở cặp song thức này.

Thứ hai, khả năng */ ɓ/ biến đổi cho ta / b /, / m / và tạo nên (những) song thức như muốn - buồn có thể được củng cố thêm bằng những song thức có bl-, ml- được ghi nhận bằng chữ quốc

ngữ trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh, trong các văn bản viết bằng chữ quốc ngữ thế kỷ XVII, XVIII, XIX1  như:mlọ - blộ, mlầm - blàm, mlớn - blớn, mlở - blở2.

Thứ ba, ngoài các ngữ liệu trên đây, chúng tôi thấyTừ điển Annam - Lusitan - Latinhcòn ghi nhận 10 song thức có chứab-m của 5 từ: bù nhìn; bùi nhùi; bồ nâu; bồ hòn; bồ quân:

bồblanh - bồ din; mồ dìn - bồ (dìn);

bồnhin - mồ din; bồ blin - mồ din      

[bù nhìn]

[bù nhìn]

mồinhồi/mùi nhùi - i dùi;   

mùi dùi - bùi nhùi; bùi nhùi - mùi dùi 

→ →

[bùi nhùi]

[bùi nhùi]

mồnâu - bồ nâu

[(củ) nâu]

mồhòn - bồ hòn

[bồ hòn]

mồcuên (quân) - bồ cuên

[bồ quân]

            Thứ tư, về mặt nghĩa, hiện nay, buồn biểu thị nghĩa “Cảm thấy cần phải làm việc gì đó

(do cơ thể đòi hỏi, khó nén nhịn được)”, ví dụ: buồn ngủ, buồn nôn, buồn cười …; còn muốn biểu thị nghĩa “Cảm thấy có sự đòi hỏi (về tâm lý, tình cảm hay sinh lý) làm một việc gì hoặc có cái gì”, ví dụ: nhớ nhà buồn muốn khóc, chỉ muốn nghỉ ở nhà,cơm chẳng muốn ăn

Như vậy, có thể hình dung: từ một từ gốc có phụ âm đầu */ ɓ/, âm này đã biến đổi, đưa đến / b /, / m /, làm hình thành hai từ có vỏ ngữ âm khác nhau, có nghĩa tương tự nhau. Chúng có thể được xem như hai từ đồng nguyên. 

b) Hai từ tránh - lánh

Về mặt ngữ âm, hai từ này tương ứng với từ gốctlánh được ghi trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh.Tổ hợp âm đầu tl - của tlánh đã biến đổi theo hai hướng và cho hai kết quả. Hướng thứ nhất, tl - biến đổi “hòa đúc” thành / ƫ / (tr), dẫn đến kết quả tránh, giống như tlên → trên, tlong → trong, tlứng → trứng, tlèo → trèo, tlâu → trâu … Hướng thứ hai, tl - rụng yếu tố đứng trước (tiền tố) t, còn yếu tố l đượcgiữ lại, dẫn đến kết quả lánh, giống như tlộn  lộn;  tlíu tlo  líu lo, tlọn → lọnTrải qua thời gian, cả hai dạng, tránhlánh đều cùng tồn tại; và trong tiếng Việt ngay nay, chúng lập thành một nhóm gồm hai từ, có liên quan với nhau về nghĩa (tương tự nhau), có phần vần giống nhau và âm đầu của chúng có liên hệ về mặt lịch sử với nhau.

Về mặt nghĩa, Từ điển tiếng Việt(1994) ghi nhận: Tránh: “Tự rời chỗ sang một bên để khỏi làm vướng nhau, khỏi va vào nhau”; còn Lánh: “Rời xa đi để tránh người nào đó hoặc cái gì đó coi là không hay cho mình”.

Rõ ràng, tránhlánh có nét tương đồng với nhau về nghĩa"Tự làm cho (mình) không gặp phải - cái không hay/không tốt"; nhưng hai từ này khác nhau về số lượng nghĩa từ vựng, về khả năng kết hợp cú pháp. Ví dụ, ta nói: tránh bão, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, tránh bom, tránh địch khủng bố, phòng tránh bệnh sởi, lánh nạn …; nhưng không nói: * lánh bão, * lánh vỏ dưa gặp vỏ dừa, * lánh bom, * lánh địch khủng bố, phòng * lánh bệnh sởi,  * tránh nạn

Từ một từ gốc tlánhcòn được ghi nhận rõ ràng trong từ điển thế kỷ XVII, do sự biến đổi ngữ âm lịch sử ở âm đầu của nó, đã dẫn đến sự “phái sinh” ra hai từ đồng nguyên tránhlánh đang tồn tồn tại trong tiếng Việt ngày nay.

Những hiện tượng như vậy cho thấy, ta có thể nói, trong tiến trình phát triển của tiếng Việt, có những biến đổi ngữ âm lịch sử đã làm cho từ một từ gốc ban đầu, phái sinh ra (những) từ mới. Các từ ấy có quan hệ với nhau cả về mặt ngữ nghĩa lẫn mặt ngữ âm. Những biến đổi ngữ âm lịch sử như vậy có thể được xem như có giá trị tạo từ(“phái sinh” từ).

2. Kết quả khảo sát

2.1. Khi khảo sát các song thức, kết hợp phân tích quan hệ về nghĩa với các phân tích về mặt biến đổi ngữ âm lịch sử của chúng, chúng tôi thấy có thể tập hợp được nhiều nhóm từ và giải thích được quan hệ đồng nguyên của các từ trong các nhóm đó. Trước hết, chúng tôi thu thập và khảo sát những nhóm từ có thể đã hình thành từ một từ gốc có âm đầu là tổ hợp phụ âm còn được ghi chắc chắn trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh. Dưới đây là kết quả cụ thể.

blái

giái (tai), trái

blài (núi -)

lài, trài

blải

giải/rải, trải

blây

bây, giây, trây, lây

blan

trằn, lăn

blạt

bật, lật, trật, trật lất

blau

trau, lau

blẻ / tlẽ

trẽ, giẽ, tẽ

blẹo

trẹo, giẹo

blẹt

bệt, phệt, trệt, sệt

blốc blác

blúc blác

blúc blắc

tlúc tlác

lúc lắc, trúc trắc

lúc lắc, trúc trắc

lúc lắc, trúc trắc

lúc lắc, trúc trắc

blóc

bóc, lóc, tróc, gióc

blóũ (blóng)

gióng, lóng

blui

trui, lùi

mlát

lát, nhát

tlánh

tránh, lánh

tlàõ (tlòng)

 tròng, lòng (- đen)

tlên

trên

tlèo

trèo, leo

tlêu

trêu, lêu

tlọc

trọc, trọc lóc

tlộn tlạo

tlóũ ( tlống)

blốc

tlợt

trộn trạo, lộn lạo

trống, trống lổng

bốc, trốc

trượt, sượt, tượt, trợt lớt

Nguyên tắc thu thập để có được danh sách trên đây là:

a/ Chỉ xét riêng các từ gốc có tổ hợp âm đầu bl-, pl-, ml-, tl- được ghi nhận rõ ràng trong Từ điểnAnnam - Lusitan – Latinh.

b/ Không thu thập những cặp đôi mà ngày nay có một dạng chỉ được coi là biến thể ngữ âm trong phương ngữ, mặc dù các biến thể đó có thể đã có sự khác biệt ít nhiều về nghĩa và khả năng kết hợp, hoạt động ngữ pháp… ví dụ như: trầu -giầu, trồng - giồng, lầm - nhầm, lanh - nhanh, gà trống - gà sống…, trừ một vài trường hợp đặc biệt đã có những khác biệt khá nhiều, đã có cả những nghĩa phái sinh riêng, như lát - nhát).

2.2. Mở rộng quan sát sang các nguồn ngữ liệu khác, ngoài những từ có hình thái gốc được ghi chắc chắn trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh như nêu trên, chúng tôi tra ngẫu nhiên một vài từ điển (AJ.L. Taberd: Dictionarium Anamitico Latinum, 1838; Huình Tịnh Paulus Của:Đại Nam quấc âm tự vị, 1895-1896; J.F.M. Genibrel: Dictionnaire Vietnamien - Français, 1898;Khai Trí Tiến Đức: Việt Nam tự điển, 1931; Gustave Hue: Tự điển Việt - Hoa - Pháp, 1937; Thanh Nghị: Từ điển Việt nam, 1958; Hoàng Phê (chủ biên):Từ điển tiếng Việt, 1994),thì thu thập thêm được một số nhóm từ mà kết quả phân tích cho thấy chúng có thể đã được hình thành do sự biến đổi của tổ hợp âm đầu của những từ gốc tương ứng. Nếu khảo sát kỹ trên diện rộng thì chắc chắn những ngữ liệu thuộc loại như thế sẽ thu thập được không phải là ít. Ví dụ:

bết, trết

 

trật, trật lất

lanh, nhanh

 

trây, trây lầy

lem, lem nhem

 

tré, lé

mèm, lèm nhèm

 

trẹt, trẹt lét

mờ, lờ, nhờ

 

trệch (chệch), lệch

nhơ, dơ

 

trệt, trệt lết

tẽn, thẹn, (trơ) trẽn 

 

trịt, trịt lít

thè, lè, thè lè

 

trồi, lồi 

thiến, xén

 

trụi, trụi lủi

tòi, tròi, lòi, thòi, thòi lòi

 

trụt, rụt, sụt, tụt, thụt

tráng, láng 

 

…..

 

Nguyên tắc thu thập và kiểm tra các nhóm từ này là: trên cơ sở các hiện dạng và quan hệ ngữ nghĩa, ngữ âm của chúng, ta có thể so sánh, tái lập hình thái từ gốc của chúng có chứa tổ hợp âm đầu bl-, ml-, tl-  và hình dung, phân tích được sự hình thành của các từ trong nhóm.

2.3. Bên cạnh những nhóm từ có thể đã hình thành do biến đổi của các tổ hợp phụ âm đầu, còn có thể có cả những nhóm được giả định là đồng nguyên, hình thành do sự biến đổi của phụ âm đầu (đơn). Dựa trên các song thức thu thập được, chúng tôi giả định chúng là những từ đồng nguyên: trong mỗi song thức, từ này đã phát sinh từ từ kia, hoặc cả hai đã phát sinh từ một từ thứ ba. Để kiểm chứng và khẳng định giả thuyết này, chúng tôi kiểm tra qua các phân tích về quan hệ lịch sử giữa các âm đầu của chúng và kiểm chứng qua những biến đổi ngữ âm lịch sử đã được nghiên cứu và xác định (Nguyễn Tài Cẩn, 1995). Ví dụ:

a) buồn - muốn, bủn - mủn, bặm - mắm

            b) tịt - xịt, toài - xoài, toạc - xoạc, tòe - xòe

            c) băm - văm, bằm - vằm, bồng - vồng, bổng - vổng, bíu - víu, bốc - vốc, bụm - vụm, bùng -vùng

            d) phẩy- vẩy, phọt - vọt, phụt - vụt

e) tọp - dọp, tém - dém, tựa - dựa, tâng - dâng

f) chăng - giăng, chằng - giằng

            g) căng - găng, cóp - góp, ké - ghé, kìm (Đ)- ghìm (Đ), cài - gài, còng - gòng

2.4. Về quá trình biến đổi của các tổ hợp phụ âm cổ có âm lỏng r, l (như: bl -, pl -, kl -, kr -, ml -, tl - ...), trong lịch sử tiếng Việt, các khả năng biến đổi của chúng có thể là (H. Maspero, 1912):

- Rụng yếu tố trước, giữ yếu tố sau3

- Rụng yếu tố sau giữ yếu tố trước4

- “Hoà đúc” thành một âm khác ( bl → / j /, tl → / ƫ/, ml → / ɲ/ )5

- Âm tiết hoá, mỗi âm tiết giữ một yếu tố6

- Hai, ba tổ hợp có thể  trùng nhập  vào với nhau; nói cách khác, chúng biến đổi và đồng quy với nhau.

 

Thực ra, các hướng biến đổi nêu trên đây không phải chỉ đơn giản và luôn luôn có tính chất “đơn tuyến” như vậy. Mỗi tổ hợp có thể có những kết qủa biến đổi riêng, hình thành theo đường hướng riêng, nhưng cũng có khi, kết quả biến đổi của chúng trùng nhập vào với nhau. Ví dụ: bl- biến đổi cho ta / j / (blái [quả] → giái)7, nhưng / j / này đã trùng nhập với / ƫ/ (kết quả biến đổi từ / tl /) trên phạm vi toàn quốc (ví dụ: trăng - giăng, trầu -giầu, trồng - giồng …) , nên giái đã biến đổi hoàn toàn thành trái; ở một vài từ còn giữ lưu tích thì / j / đã biến chuyển thành / z / (dái tai, dái mít …).

Mặt khác, còn có một thực tế quan trọng nữa là: bản thân các tổ hợp phụ âm đó có thể biến đổi theo hướng đồng qui với nhau. Kiểm tra ngữ liệu được ghi trong một số từ điển, từ Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinhtrở xuôi cho đến nay và các ngữ liệu hữu quan trong cách ghi âm đọc của chữ Nôm, các ngữ liệu tiếng địa phương, chúng ta có thể thấy: đến thế kỷ XVII tiếng Việt còn các tổ hợp phụ âm pl-, kl-, bl-, ml-, tl-; trong đó pl-kl- chỉ còn tồn tại một cách rất mờ nhạt8 và vào thời gian đó, pl- đã đồng qui với bl-; bl- cũng có những biến đổi đồng qui với tl-, ml-; còn kl- thì đã biến đổi đồng qui với tl- (H. Maspero, 1912; N.K. Sokolovskaya, 1978;Hoàng Dũng, 1991; Vũ Đức Nghiệu, 2014).

Chính vì thế, một số trong các kết quả biến đổi của bl- và/hoặc pl-, tl-, ml-, kl-, ml- có thể cùng xuất hiện trong những chuỗi từ mà nhìn bề ngoài, tưởng như chúng không liên quan gì đến nhau. Ví dụ, Đại Nam quấc âm tự vị(Huình Tịnh Paulus Của; 1895-1896)ghi từtèm lem: (lem luốc, vấy vá, không sạch sẽ - tr. 966) và từbù lem (trong mục từ luốc; bù lem bù luốc - tr. 602); Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinhghi dạng blon ngót (nói blon ngót: nói xấu người khác khi vắng mặt, nói lén lút) thì Việt Nam tự điển(Khai trí Tiến đức; 1931)ghi nhận ton ngót (nói khéo léo để cho người ta đẹp lòng); hiện nay, từ này đã biến chuyển thành (?) ton hót.  

Kết quả của các biến đổi ngữ âm lịch sử như trình bày trên đây, trước hết, đã dẫn đến những từ ngữ âm khác nhau; và khi những từ ngữ âm ấy được sử dụng để biểuhiện (những) nghĩa khác nhau thì chúng trở thành những từ mới trong ngôn ngữ. Quá trình dẫn đến những từ mới như thế, mang tính chất của một quá trình phái sinh từ. Ví dụ:

bloc

bóc - lóc - tróc - gióc

blạt

bật, lật, trật, trật lất

blây

bây - giây -  trây - lây

tlóũ

trống, trống lổng

* tlụt

trụt, rụt, sụt, tụt, thụt 

* mlờ

mờ - lờ - nhờ

* tlòi

tòi - tròi - lòi - thòi

3. Phân tích

Để có thể làm rõ hơn vấn đề “phái sinh” từ theo cách được trình bày bên trên, chúng tôi phân tích sự hình thành (phái sinh) một số nhóm như sau:

3.1. Một số nhóm từ hình thành do biến đổi tổ hợp phụ âm đầu.

3.1.1.bóc, lóc, tróc, gióc

Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ghi nhậnmục từ “bloc.Sơn bloc ra ”. Ở đây, ta có thể thấy: bl- của blóc đã biến đổi, rụng l- cho ta bóc (ví dụ:sơn bị bóc ra), rụng b- cho ta lóc (ví dụ:tường vôi bị lóc từng mảng). bl- cũng biến đổi thành / j / theo quy luật chung (giống như blang → giăng, blanh → gianh, blầu →giầu …) để cho ta gióc (ví dụ: nồi cơm gióc cháy).

Hình thái tróc ở đây buộc chúng ta phải nghĩ tới hai khả năng. Thứ nhất, bl- đã biến đổi thành / j / (gióc) và / j / đã biến chuyển, trùng nhập vào / ƫ/ (biến đổi từ tl-) trong phạm vi toàn quốc (giống như các song thức blai → giai - trai, blo → gio - tro, blàu → giầu - trầu …)9 và cho ta tróc. Thứ hai, tróc hình thành từ một hình thái có âm đầu tl- (* tlóc); và do bl-, tl- biến đổi theo hướng đồng qui, nên tróc đã gia nhập vào chuỗi từ này, đồng thời / ƫ/ được phát âm với / j / trong phương ngữ Bắc, cho ta gióc. Tuy nhiên, với sự hiện diện đầy đủ của bóc, lóc, gióc, tức là có đầy đủ cả b-, l-, j-, chúng tôi thiên về giải thích theo khả năng thứ nhất: blóc bóc, lóc, gióc, tróc.

Mặt khác, chúng tôi nghiêng về khả năng thứ nhất còn vì ngay trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh cũng đã ghi nhận những song thức chứng tỏ sự biến đổi đồng quy giữa tl- với bl- lúc đó đang diễn ra, hoặc có cả những song thức chứa bl- và / ƫ/ (tr) như:

[người con trai]

blai - tlai

[(cái) bàn]

blan - tlan

[trát]    

blat - tlat

[trát]    

blét - tlét / tlát, / trát

[(cá) trích]

blích - tlích

[ton hót]

blon ngót - tlon ngót10

[cùm]

blang - tlang

[trỏ]    

tlỏ - blỏ

[trọn]

tlọn - blọn

[trớt (môi)]

tlớt - blớt

[lúc lắc]

blúc blác / blốc

blác - tlúc tlác

[ma trơi]

ma blơi - ma trơi         

[(dối) trá]

blá - trá

[ trở (về) ]

blở - trở

                                                                                   

Lại có những trường hợp, Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ghi bl-, hoặc bl- song song với tl- nhưng ngày nay lại chỉ tồn tại dạng / ƫ/ (tr). Ví dụ, từ điển này ghi các từblớt môi, tlớt (môi), blon (đun vào), blót ngày, blọn, ma blơi - ma trơi… Theo thông lệ thìbl-sẽ đi đến/ j / (gi) nhưng các hình thái gốc blớt, blon, blót, blọn, blơi đã không đi đến dạng chúng ta chờ đợi, có / j /, mà đi đến dạng có / ƫ/:

Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh  đã ghi nhậnma trơi.

Đại Nam quấc âm tự vị(1895- 1896) ghi: tron (xen vào, đút vào, xỏ vào); trọn (vẹn toàn, nguyên vẹn, không có ti tích, chung cùng); trót (trọn vẹn, chung cùng, cả thảy); trớt (trề ra); ma

trơi

Việt Nam tự điển(1931) ghi: tron (xen vào, đút vào); trọn (lọn, vẹn, toàn); trót (trọn vẹn); trớt (trề ra như miệng lon); ma trơi

Từ điển tiếng Việt(1994) không ghi tron; trớt (môi); nhưng cũng ghi trọn; trót; ma trơi.

3.1.2.bây, trây, giây, lây

Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ghi nhận “blây lấm áo: Áo thấm bùn”. Có thể thấy rằng: bl- của blây rụng l- cho ta bây, rụng b- cho ta lây. Từ giây hình thành do biến đổi âm đầu bl- (của blây) / j /.

Sự hiện diện củatrây khiến ta nghĩ tới hai khả năng: một là, trây hình thành từ * tlây tl - biến đổi cho ta / ƫ/, hai là, trây hình thành từ blây do kết quả biến đổi của bl - thành / j / trong phương ngữ Bắc đã trùng nhập với / ƫ/ biến đổi từ tl - trong phạm vi toàn quốc (giống như các song thức blang blối → giăng giối - trăng trối, blai → giai - trai, blo → gio - tro, blàu → giầu - trầu …). Tuy nhiên, vì ở đây có dạng bây nên chúng tôi nghiêng về khả năng thứ hai: blây → giây - trây. Mặt khác, sự hình thành của trây ở đây, có thể được giải thích tương tự như giải thích về tróc trong nhóm bóc, lóc, tróc, gióc bên trên.

3.1.3.trượt, sượt, tượt

Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ghi nhận “tlợt: Trượt. Tlợt chin: Chân bị trượt trong chỗ trơn nhẫy. Trợt: cùng một nghĩa”. Có thể cho rằng: tl- của tlợt rụng l- cho ta tượt. tl- đó cũng biến đổi thành / ƫ/ để cho ta trượt. Biến đổi tương ứng / ƫ/ - / ȿ / như: (gà) trống - (gà) sống, (con) tráo - (con) sáo, (cái) trẹo - (cái) sẹo … cho ta quan hệ đồng nguyên giữa từ sượtvới từ trượt ..

3.1.4.mờ, lờ, nhờ

Trong tiếng Việt thế kỷ XVII, tổ hợp ml-, mnh- còn tồn tại như hai biến thể, được ghi nhận trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh (mnhầm - mlầm, mnhẽ - mlẽ). Thực tế cho thấy: ml- có thể rụng âm lỏng để lại m-. Chính Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh đã ghi điều này qua hai cặp từ mác nồi - mlác nồi; mạc ngựa ( nhạc ngựa), có người nói mlạc; và từ hèn mlạt được ghi trong từ điển đó thì nay đã thành hèn mạt. Ngữ liệu tiếng Việt hiện đại và các phương ngữ cũng cho thấy: ml- có thể rụng m- cho ta l- như trong các trường hợp ở phương ngữ Trung và Nam: mlạt lạt , mlãilãi ...; ml-, mnh- có thể biến chuyển thành nh- như trong các trường hợp ở phương ngữ Bắc: mlat nhát, mlot nhót …

Như vậy, từ các dạng mờ, lờ, nhờ, ta có thể khôi phục dạng gốc của chúng là * mlờ và hình dung quá trình hình thành các từ này như sau:

* ml- của * mlờ rụng m- cho ta lờ, rụng l- cho ta mờ.

* ml- biến đổi thành / ɲ / (nh) cho ta nhờ.

3.1.5.trệch (chệch), lệch

Trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh không ghi nhận hình thái * tlệch, nhưng các hình thái trệch /chệch, lệchgợi ý cho chúng ta khôi phục hình thái gốc* tlệch. Có thể hình dung quá trình biến đổi ngữ âm làm hình thành các từ ở đây như sau: * tl- của * tlệch rụng t- cho ta lệch. * tl- biến đổi thành / ƫ/ cho ta trệch. / ƫ/ của trệch có thể được phát âm thành / c / cho ta chệch trong rất nhiều phương ngữ. 

3.1.6.trụt, rụt, sụt, tụt, thụt

Trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh không ghi nhận hình thái * tlụt, nhưng các hình thái trụt, rụt, sụt, tụt, thụtgợi ý cho chúng ta khôi phục hình thái gốc* tlụt và hình dung sự biến đổi ngữ âm dẫn đến hình thành nên chúng như sau.

 * tl- của * tlụt biến đổi thành/ ƫ/ cho ta trụt. * tl- cũng có thể rụng l- cho ta hình tháitụt. Âm đầu t- ở tụt có thể bật hơi hóa thành / tʻ/ và cho ta thụt. Âm đầu / ƫ/ của trụt có thể biến chuyển sang / ȿ / theo kiểu của (gà) trống - (gà) sống, (con) tráo - (con) sáo, (cái) trẹo - (cái) sẹo, trượt - sượt … cho ta hình thái sụt. Đến lượt mình, / ȿ / của sụt có thể biến chuyển sang / r / theo kiểu của sờ - rờ, sầu - rầu … và cho ta hình thái rụt.

3.2. Những nhóm từ hình thành do biến đổi của phụ âm đầu (đơn)

3.2.1.buồn - muốn, bủn - mủn, bặm - mắm 

Sự hình thành các nhóm từ này có thể được giải thích là do biến đổi của âm đầu */ ɓ / cho ta âm đầu / b / và / m / hiện nay, như chúng tôi đã phân tích tại điểm 1. bên trên.

            3.2.2.tịt - xịt, toài - xoài, toạc - xoạc, tòe - xòe

Sự hình thành các nhóm từ này có thể được giải thích là do biến đổi của âm đầu * / s / / t /.

            3.2.3. băm - văm, bằm - vằm, bồng - vồng, bổng - vổng, bíu - víu, bốc - vốc, bụm - vụm, bùng -vùng

Sự hình thành các nhóm từ này có thể có nguyên do ở quá trình xát hóa, biến đổi / b / → / v /. Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh còn ghi rõ dạng xát hóa chưa hoàn thành của từ vốc bvóc (bvóc11  lếy. Có người nóibvuóc. Một bvóc) cùng với hàng loạt từ khác mà ở đó, âm đầu b- của chúng cũng còn đang trên đường xát hóa:bạt bvờ12 (vật vờ), bvá (vá áo), bvã (vả, tát), bvạch (vạch ra) … (Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh  ghi 94 mục từ có âm bv- này).

Ngược lại, có những từ trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ghi nhận có âm đầu là bv-, nhưng về sau này, bv- trong các từ đó đã không đi hết quá trình xát hóa của mình, mà vẫn giữ nguyên / b /. Ví dụ: ruầi bvâu (ruồi bâu), bvấm nhau (bấm nhau), bvồi hồ (bồi hồ) …

            3.2.4.phẩy - vẩy, phọt - vọt, phụt - vụt

Sự hình thành các nhóm từ này có thể có nguyên do ở quá trình xát hóa, và có thể  phẩy, phọt, phụtđã được xát hóa theo biệt lệ của (ăn) phúng, phổ (tay) … cùng với vẩy, vọt, vụttạo thành các song thức.

Kiểm tra trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh chúng ta sẽ thấy những hình thức “xát hóa chưa xong” bvãi  (vẩy/vẫy), (ăn)bvụ (ăn vụng), bật  bvờ (vật vờ), bvỗ tay (vỗ tay) … Chính (ăn)bvụ  cho ta ăn vụng / ăn phúng; và đặc biệt là bật bvờ cho ta phật phờ, vật vờ ngày nay…

3.2.5. tọp - dọp, tựa - dựa, tâng - dâng

Sự hình thành các nhóm từ này có thể có nguyên do ở quá trình xát hóa, biến đổi / t / → / z /. 

3.2.6. chăng - giăng, chằng - giằng

Sự hình thành các nhóm từ này có thể có nguyên do ở quá trình xát hóa, biến đổi / c / → / j /. 

            3.2.7.  căng - găng, cóp - góp, ké - ghé, kìm (Đ)- ghìm (Đ), cài - gài, còng - gòng

Sự hình thành các nhóm từ này có thể có nguyên do ở quá trình xát hóa, biến đổi / k / → / γ /. 

            4. Thảo luận và nhận xét

4.1. Các biến đổi lịch sử của phụ âm đầu tiếng Việt đã đưa lại nhiều kết quả, cả về mặt ngữ âm, âm vị học lẫn mặt từ vựng và ngữ pháp.Nhìn vào toàn bộ hệ thống, ta thấy hàng loạt song thức, trong đó, một thành tố được coi là hình thái của từ chuẩn, có tính phổ biến, còn hình thái kia được coi là hình thái mang tính phương ngữ, chỉ phổ biến trong phương ngữ hoặc phương ngữ xã hội. Ví dụ: nhanh - lanh, lời - nhời, trăng - giăng, trời - giời, trọn - lọn, nhịp - dịp, nhúng - giúng/dúng, nhổ - giổ/dổ … Những hình thái mang tính phương ngữ như thế, về căn bản, chỉ là những chứng tích của các biến đổi về mặt lịch sử của ngữ âm tiếng Việt. Ngược lại, những nhóm / song thức như: lát - nhát, nhơ - dơ, buồn - muốn, bủn - mủn, bặm - mắm… hoặc trọc - trọc lóc,bật - lật - trật - trật lất,mờ - lờ - nhờ, trượt - sượt - tượt…đã thực sự gồm những từ riêng biệt, khác nhau, mặc dù chúng vừa có liên hệ về mặt ngữ âm, lại vừa có liên hệ về mặt ý nghĩa với nhau.

4.2. Trong số các kết quả biến đổi ngữ âm có ý nghĩa về mặt “tạo sinh” từ, có những trường hợp diễn biến rất phức tạp. Vì vậy, những nhóm từ được coi là đã hình thành từ một từ gốc,có thể gồm hai, ba, bốn từ hoặc nhiều hơn. Hệ quả là, có những nhóm từ, quan hệ tạo sinh trong nội bộ của chúng có thể được giải thích, phân tích theo hơn một cách, nhất là ở những nhóm mà có nhiều kết quả biến đổi lịch sử đã diễn ra theo hướng đồng quy vào với nhau.

Ví dụ, phân tích nhóm các từ bệt, phệt, trệt, sệt chúng ta có thể thấy: Ít nhất nhóm này có tới bốn từ. Hình thái từ gốc của nhóm được ghi rõ trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ở mục từ blẹt,ngồi blẹt và giải thích nghĩa:“ngồi trên gót chân. Lê blẹt: Đi bốn chân như mèo, lết”.

Về mặt ngữ âm, có thể thấy rằng:bl- của blẹtrụng l- cho ta bệt. Âm đầu b- có thể biến chuyển sang / f /, cho ta hình thái phệt vì trong xu thế xát hóa, / b / biến chuyển thành / v / nhưng cũng có trường hợp xát hóa theo một biệt lệ thành / f / như: bỏng - phỏng, banh - phanh13…  Hai từ: trệt - sệt trong nhóm này là kết quả của sự biến chuyển / ƫ/ - / ȿ / như ở các cặp từ trượt - sượt, (gà) trống - (gà) sống … Sự hiện diện của trệt khiến chúng ta phải nghĩ tới hai khả năng : một là, kết quả biến đổi của blẹtlẽ ra có âm đầu / j / đã biến chuyển thành trệt trong tiếng Việt hiện đại, giống như giai - trai, giầu - trầu, giăng - trăng …, hai là trệt đã hình thành từ một hình thái gốc có âm đầu là * tl- ( *tlet), và hai hình thái: blẹt, * tlẹt đã biến đổi, đồng qui, cho ta các từ bệt, phệt, trệt, sệt vừa có liên hệ với nhau (tương tự) về nghĩa, lại vừa có liên hệ với nhau về mặt lịch sử ở âm đầu. Riêng lết, có thể cho rằng từ này là kết quả của sự biến đổi, rụng thành tố đứng trước của bl- (hoặc *tl-)14.

Vì thế, trong số các biến đổi lịch sử dẫn đến hình thành những từ khác nhau như nêu trên, chúng tôi phân biệt hai loại biến đổi: một là những biến đổi đã trực tiếp dẫn đến sự “tạo sinh” từ; hai là những biến đổi đồng quy từ những nguồn gốc khác, đưa kết quả của sự biến đổi đó vào nhóm chứ không phải kết quả đó đã được sinh ra cùng nguồn gốc với các từ khác trong nhóm. Ví dụ, khi phân tích nhóm từ tòi - tròi - lòi - thòi - thòi lòi, ta thấy: tuy không thấy hình thái gốc nào được ghi trong các từ điển hiện có, nhưng các nghiên cứu về lịch sử ngữ âm tiếng Việt và bản thân nhóm từ này gợi ý cho chúng ta có thể khôi phục một hình thái gốc của chúng là * tlòi. Trên cơ sở của * tlòi, ta có thể hình dung quá trình biến đổi ngữ âm làm cho các hình thái đó nảy sinh như sau:* tl- của * tlòi rụng l- cho ta tòi, rụng t- cho ta lòi. * tl- biến đổi thành / ƫ/ cho ta tròi. * tl- rụng l- còn t- và t- đó bật hơi hóa biến thành / tʻ/ cho ta thòi. Rất có thể quá trình âm tiết hóa của * tl- cùng với bật hơi hóa của t- đã làm phát sinh thòi lòi.

Tuy nhiên, vấn đề hình như không phải chỉ có vậy. Nếu xem xét đến từ phòi nữa, thì phải nghĩ tới việc khôi phục một dạng gốc có * pl- là * plòi; và * plòi đã biến đổi, đồng quy vào với * tlòi (do* pl- đồng quy với * bl- và chúng đồng quy với * tl-, như chúng tôi đã trình bày sơ lược bên trên về mối quan hệ biến đổi đồng quy giữa các tổ hợp phụ âm đó). Quá trình biến đổi của * pl- cho ta phòi và quá trình đồng quy của nó với * bl-, * tl- đã tạo nên nhóm tòi, tròi, lòi, thòi, thòi lòi(phát sinh từ  * tlòi) và phòi (phát sinh từ * plòi).

Trong vấn đề đang được trình bày ở đây, điều chúng tôi quan tâm hàng đầu là những biến đổi lịch sử ở tổ hợp phụ âm đầu đã dẫn đến sự “tạo sinh”từ và quan hệ trực tiếp “phái sinh” từ; còn việc những kết quả biến đổi từ những nguồn khác nhau (ví dụ như từ phòi [ < * plòi ] gia nhập vào nhóm tòi - tròi - lòi - thòi - thòi lòi không hình thành từ cùng nguồn gốc [* tlòi] với các từ đó, mà hình thành từ nguồn gốc * plòi, thì sẽ được xem xét trong một khuôn khổ rộng hơn: khuôn khổ của phương diện của tổ chức từ vựng: các nhóm từ tương tự (paronym - có ngữ âm tương tự nhau và có quan hệ với nhau về nghĩa) (Vũ Đức Nghiệu, 1999).

4.3. Như vậy, nếu hình dung một cách thật đơn giản thì quá trình biến đổi ngữ âm (cụ thể ở đây là biến đổi của các phụ âm đầu và tổ hợp phụ âm đầu) dẫn đến quá trình tạo sinh từ mới, đã diễn ra như sau: Từ một từ ngữ âm T có nghĩa S, do các xu hướng và qui luật biến đổi ngữ âm lịch sử trong quá trình phát triển của tiếng Việt tác động, âm đầu của T đã biến đổi, làm nảy sinh các từ ngữ âm T1, và/hoặc T2, T3 ... như là những biến thể của T. Một cách tương ứng, trong T1, và/hoặc T2, T3 ... cũng hình thành các nghĩa S1, và/hoặc S2, S3 ... có liên hệ (theo kiểu này hay kiểu khác) với S. Lúc này ta có được một nhóm từ (T), T1 và/hoặc T2, T3 ... vừa có liên hệ với nhau về mặt lịch sử ngữ âm ở âm đầu, lại vừa có liên hệ về nghĩa với nhau. 

Điều mà chúng ta có thể khẳng định được là, trong tiếng Việt, có những biến đổi ngữ âm lịch sử đã kèm luôn cả vai trò tạo sinh từ; và điều này có thể kiểm chứng được qua các chứng tích ngôn ngữ, nhất là những chứng tích được ghi rõ ràng trong các tài liệu thành văn.

Tuy nhiên, nếu đặt vấn đề: “các biến đổi ngữ âm dẫn đến tạo sinh từ như thế có mang tính đều đặn, tính quy tắc của các quy tắc hình thái học hay không”, thì câu trả lời lại là: không. Chúng ta không thể xác định được xu hướng hoặc hiện tượng biến đổi ngữ âm lịch sử ở âm đầu như thế nào, ở những từ thuộc từ loại nào thì tạo sinh được những từ thuộc từ loại nào hay ý nghĩa nào, đặc điểm, phẩm chất ngữ pháp nào. Chúng không mang tính chất của các quy tắc hình thái học theo đúng nghĩa của thuật ngữ này; nhưng chắc chắn và rõ ràng là có giá trị tạo từ (tạo sinh từ mới từ một từ có trước - từ gốc).Đây là một quá trình, một hiện tượng tạo từ đã diễn ra, nhưng lại không phải là một quy tắc hình thái học chính danh.

4.4. Những khảo sát và phân tích được trình bày trong bài này, về căn bản, có thể coi như một nghiên cứu trường hợp về những từ gốc có tổ hợp âm đầu được ghi nhận chắc chắn trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh mà các biến đổi lịch sử của các tổ hợp phụ âm đó đã làm hình thành những nhóm từ/song thức đặc biệt, cần được quan tâm.Nếu mở rộng khảo sát, chắc chắn chúng ta sẽ còn thu thập được rất nhiều nhóm từ được hình thành bằng những con đường biến đổi lịch sử hết sức đa dạng và phong phú; vàcòn có thể phát hiện thêm được nhiều thông tin về hiện tượng tạo từ này. Ví dụ, phân tích được các mối quan hệ lịch sử giữa K với KH, giữa Kw với V, giữa K với CH … ta sẽ có thể tìm được những manh mối về sự biến âm, tạo từ trong các nhóm như:cứa - khứa, kều - khều, quãng - khoảng, quằm - khoằm, còm - khòm, quèo - khoèo …quơ - vơ, quăng - văng, quặn - vặn …cà - chà, quàng - choàng, quắt- choắt, cau - chau, cuối - chuôi, cùn - chùn, quài - choài…        

Tất nhiên, việc phân tích, miêu tả các mối quan hệ lịch sử và con đường hình thành nên từng nhóm từ như thế, cần phải được thực hiện một cách thật cụ thể và chi tiết./.

CHÚ THÍCH

1. Các văn bản thư từ viết bằng chữ quốc ngữ thế kỉ XVII, XVIII, XIX công bố trong công trình “Chữ quốc ngữ thế kỉ XVIII” (Đoàn Thiện Thuật, 2008).

2. Cụ thể là:

mlọ( nhọ ) ghi trong mục từ: Lọ nồi, Mlọ nồi củaTừ điểnAnnam - Lusitan - Latinh.

blộ ( nhọ ) ghi trong mục từ: Blộ. Blộ áo củaTừ điểnAnnam - Lusitan - Latinh.

mlầm( lầm ) được ghi 03 lần trong 03 bức thư: thư số 25 viết năm 1759: ... ví bằng có sự mlầm lỗi gì ... (tr.87); thư số 39 viết năm 1792: ... chớ mlầm rằng sự ấy chẳng có tội gì ... tr.124); thư số 41 viết năm 1818: ... cho nên mlầm cùng phải tội ra làm vậy ... (tr.130 ).

blàm( lầm ) được ghi 02 lần trong 02 bưc thư: Thư số 1 viết năm 1687:  ... blàmlỗy sự gì xin thầy tha tội cùng và cầu cho tôi cùng ... (tr.33); Thư số 2 viết năm 1687: ... có blàmlỗy mlời gì mất lòng cha xin tha cho tôi cùng (tr.35).

mlớn(lớn) được ghi trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latin ghi mục từ“mlớn. Đến mlớn”; ghi 02 lần trong văn bản Lịch sử nước Annam của Bento Thiện [1]: ... bắn súng mlớn cho quen (tr.193), Hồ vương làm quan mlớn (tr.190); ghi 04 lần trong thư số 6: ... thói quan mlớn trong nước ... (tr.43), ... gặp những quân lính nhà quan mlớn ... (tr.43), ... làm sự lỗi mlớn trong nước Phalansa ... (tr.44), ... có hòm mlớn ... (tr.47); ghi 01 lần trong bức thư số 10: ... cùng biên lấy dấu mlớn ... (tr.58).

blớn (lớn) được ghi 01 lần trong thư số 22 viết năm 1759: ... làm người quan blớn ... (tr. 84); 01 lần trong thư số 38 viết năm 1792: ... vì quân giặc rất cao blớn ...(tr.117); 01 lần trong thư số 41 viết năm 1818: ... dù mà sông blớn mặc lòng chảy ra xuống ... (tr. 132); 88 lần trong Sách sổ sang chép các việc (năm 1822): … dưa chuột quả blớn dài một gang rưỡi ... (tr.578) …

mlở (trở)được ghi ở thư số 25 viết năm 1759: ... chưng sau trong thánh Igh sẽ có nhiều kẻ điên đảo bláo mlở[= tráo trở]sự đạo thánh ... (tr. 87).

blở(trở)được ghi trong Từ điển Annam - Lusitan - Latinh năm 1651:Blở. blởlại. blở đi blở lại; ghi trong thư của I. Văn tín [1] năm 1659: ... đi tìm chẳng được lại blở lại đấy (tr.184) ; trong thư số 1 viết năm 1687: ... chửa có mấy nơi blở lại xưng tội ..., các bổn đạo kẻ chợ đã blở lại nhiều (tr. 32, 33); trong thư số 20 viết năm 1759: ... phải blở lại chịu lụy Đức Vít vồ ...(tr. 82); ghi trong Sách sổ sang chép các việc của Philiphê Bỉnh (1822): ... mà tôi blxuống thì thấy các Thầy đang ăn... (tr.152).

3. Ví dụ, ngay trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinhcũng đã ghi 4 cặp song song tl- // l- : tlíu tlo- líu lo; tlúc tlác - lúc lác; tlo - lo; tlộn tlạo - lộn lạo.

4. Ví dụ, trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh có ghi một cặp đôi bơi tlẻi - bơi tải; còn như ông ghi tlẽn (tlàng) thì nay một số nơi trong trong phương ngữ Bắc phát âm tẽn / trẽn. Hàng loạt từ có âm đầu tr - hiện nay, vốn phát sinh từ tl - được phát âm với t - ở nhiều vùng ven biển Thái Bình, Nam Định như: bên tái - (bên trái), một tăm (một trăm), con tâu ( con trâu), bụi te (bụi tre), cái tống (cái trống), tên giời (trên trời) ...

5. Ví dụ: blang → giăng, blai → giai … tlăm → trăm, tlần → trần, tláng → trắng … mlời → nhời, mlầm → nhầm

6. Trường hợp này nếu dẫn ngữ liệu từ từ điển thì rất hiếm. Có thể tạm đưa ra đây từ tlủng (tlũng) được ghi trong Từ điểnAnnam - Lusitan – Latinh. Từ này tương ứng với từ thung lũng ngày nay.

7. Trong các văn bản viết bằng chữ Quốc ngữ thế kỷ XVII, XVIII còn ghi rất rõ và phổ biến từ có nghĩa “trái, quả” là blái. Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh ghi 11 mục từ có từ blái. Ví dụ: blái núi, blái cân, blái tim, blái cật, blái tai … Đến “Sách sổ sang chép các việc” (1822), Philiphê Bỉnh - một người Đàng Ngoài - ghi từ này bằng giái chứ không phải là trái. Ví dụ: ... một con huồm [hùm] ở giái đồi bên sau nhà liền đến... (tr. 5)... vì trong thành Rô ma thì có bảy giái núi mà giái núi ấy thì có nhà giòng D.C.J... (tr. 271) ... đánh trứng cho đến khi đã tan ra cùng nổi bọt lên như bọt giái găng... (tr. 583) ...

8.pl- được ghi trong phần Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông kinh của Từ điểnAnnam - Lusitan – Latinh trang 8, phần dịch tiếng Việt … “đôi khi, nhưng khá họa hiếm người ta còn thêm l vào p, thí dụ, plàn, deuoluere (lăn, trằn); người khác đọc là, làn, không có p” …

kl- [klang – trăm (100)] chỉ được phát hiện ghi trong cuốn sách A voyage to Chochinchina in the years 1792 - 1793 của Barrow J. [Một chuyến du hành tới xứ Nam Hà trong các năm 1792 - 1793. Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2011).

9. Về mối quan hệ / j / (gi) - / ƫ/ (tr), ta có thể so sánh thêm các tương ứng giữa phương ngữ Bắc với phương ngữ Nghệ Tĩnh: già - tra, giòi - troi, giun - trùn, giữa - trửa…, hoặc trong chữ Nôm, người Việt đã dùng chữ Hán TRIẾTđể ghi từ giết, dùng chữ TRÁT để ghi từ giắt, dùng chữ TRẬN để ghi từ giận, dùng chữ TRÀ để ghi từ già ...

10. Từ này ghi ở mục từ Ngót; Nói tlon ngót.

11. Vì không có ký hiệu thích hợp nên chúng tôi buộc phải tạm dùng hai con chữ bv để thể hiện âm “nửa b nửa v” này.

12. Trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh (phần dịch tiếng Việt) in sai thành thành bvạt bvờ.

13. Ngoài ra, quan hệ âm đầu / b / - / f / còn thể hiện ở chữ Nôm khi dùng / f / Hán Việt để ghi âm / b / Việt trong hàng loạt từ như: dùng chữ Hán Việt phụngghi từ Nôm bóng, dùng chữ Hán Việtphong ghi từ Nôm bông … Trong âm đọc Hán Việt, âm đầu / f / Hán Việt vốn xuất thân từ  / pʻ/  do thanh mẫu Phi / f /,Phu / fʻ/,Phụng / v / nhập làm một với thanh mẫu Bàng / pʻ/. (Nguyễn Tài Cẩn, 1979; tr.177 - 181).Lại cũng có thể có một khả năng nữa là: tổ hợp phụ âm pl- (ghi trong Từ điểnAnnam - Lusitan - Latinh, tr.8, phần dịch tiếng Việt) một mặt có thể biến chuyển thành bl- rồi biến đổi theo con đường của bl-; nhưng mặt khác, nó lại có thể rụng âm lỏng l- còn lại p-, rồi p- ấy bật hơi, xát hoá theo xu hướng xát hoá chung, biến chuyển thành ph- ngày nay. Trong âm đọc Hán Việt, âm đầu / f / Hán Việt vốn xuất thân từ  / pʻ/  do thanh mẫu Phi / f /,Phu / fʻ/,Phụng / v / nhập làm một với thanh mẫu Bàng / pʻ/(Nguyễn Tài Cẩn, 1979; tr.177 - 181).

14. Còn về mặt nghĩa, các từ này có những nét tương tự nhau (tức là chúng có quan hệ tương đồng) và được ghi trong Từ điển tiếng Việt (1994) như sau:  - bệt: (Ngồi hoặc nằm) sát xuống đất, xuống sàn, không kê lót gì ở dưới. - phệt (Ngồi) :Như ngồi bệt. -trệt: (Ph. Kết hợp hạn chế) Ở dưới cùng sát đất. - sệt:Ở vị trí chạm sát mặt nền khi chuyển động. - lết: Tự di chuyển một cách khó khăn, chậm chạp bằng cách kéo lê chân hoặc phần dưới cơ thể trên mặt nền.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1          Barker M. E. (1963). Proto Vietmuong initial labial consonants. Văn hóa nguyệt san. 12,      tr.491-500. Sài gòn.

E.G. Pulleyblank. Some new hypotheses concerning word families in Chinese. JCL. Vol.I, number1, 1/1973. pp.111-125.

2          Barrow J. A voyage to Chochinchina in the years 1792 - 1793. (Một chuyến du hành tới       xứ Nam Hà trong các năm 1792 - 1793). Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2011.

4          Diffloth G.

- 1990. Vietnamese tonogenesis and new data on the registers of Thavung. 23 rd       International Conference on Sino-Tibetan Languages anh Linguistics 

- 1994. The lexical evidence for Austric, so far. Oceanic linguistics, Vol. 33, No. 2,  309 - 321 pp.

5          Đoàn Thiện Thuật  (sưu tầm và chủ biên) 2008. Chữ quốc ngữ thế kỷ XVIII (Bốn mươi hai bức thư viết bằng chữ quốc ngữ thế kỉ XVII- XVIII). Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, .

6          Ferlus M.

            - 1982. Spirantisation des obstruantes mediales et formation du systeme consonantique du   Vietnamien. CLAO  vol.11, No.1; pp.83-106. 

            - 1991.Vocalism du ProtoVietMuong. 24 th International Conference on Sino-Tibetan           Languages anh Linguistics. Bangkok.

7          Gregerson K. J. 1969. A study of midle Vietnamese phonology. Bulletin de la Societe des      Etudes             Indochinoises, Saigon,  Vol. 44 (2), pp. 131 - 193.

8          Haudricourt A. G. 1950. Les consonnes préglottalisées en Indochine. BSLP 46.

9          Hoàng Dũng. 1991. Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre De Rhodes - nguồn cứ liệu  soi      sáng quan hệ giữa các tổ  hợp kl, pl,  bl, tl và ml trong tiếng Việt. Ngôn ngữ, số 4, tr. 5-7.

10        Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển tiếng Việt, 1994; Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

11        Huình Tịnh Paulus Của. 1895-1896.Đại Nam quấc âm tự vị. Saigon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’ Adran, 4.

12        Khai Trí Tiến Đức. 1931. Việt Nam tự điển. Hà nội Imprimerie Trung Bắc Tân văn. Mặc Lâm xuất bản.

13.       Maspero H. (1912) Etude sur la phonetique historique de la langue annamite. Les initiales. BEFEO, Vol. 12, No. 1, pp. 1 - 127.

14        Nguyễn Tài Cẩn.

- 1979.Nguồn gốc và quá trình  hình thành cách đọc Hán Việt; Nxb. Khoa học Xã hội; Hà nội.

            - 1995. Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nxb. Giáo dục. Hà Nội.

15        Nguyễn Văn Lợi. 2010. Phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Việt thế kỉ XVII (Trên cơ sở      Dictionrium             Annamiticum Lusitianum et Latinum (Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latin)        của Alexandre de Rhodes). Từ điển học & Bách khoa thư. Số 5; tr.16 - 29.

16        Philiphê Bỉnh. 1822. Sách sổ sang chép các việc. Viện Đại học Đà Lạt, 1968. 

17        СоколовскаяК.Н. (1978).Опыт реконструкций фонологической системы Вьетнамского языка, дисс. Москва, 1978.

18        Rhodes, A. de. Từ điển Annam Lusitan Latinh. Nxb. KHXH. Hà nội,1991.

19        Vũ Đức Nghiệu

- 1999. Các mức độ tương đồng và tách biệt trong một kiểu tổ chức nhóm từ của tiếng Việt. Ngôn ngữ, S. 1; tr. 22-28.

- 2014. Chứng tích của âm đầu */ɓ/ trong một số văn bản viết bằng chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII - đầu thế kỉ XIX. Ngôn ngữ, S.9, 2014; tr.32 - 44.