Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Điều tra nhân khẩu, Bản đồ, Bảo tàng

Trong ấn bản đầu Cộng đồng tưởng tượng tôi từng viết “trong các chính sách ‘xây dựng dân tộc’của các nhà nước mới này ta thường thấy cả một cơn nhiệt hứng dân tộc chủ nghĩa đích thực của quần chúng lẫn một truyền dẫn mang tính hệ thống, thậm chí bằng thủ đoạn, ý thức hệ chủ nghĩa dân tộc thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, hệ thống giáo dục, các quy định hành chính v.v…”(1) Giả định thiển cận mà tôi đưa ra lúc đó là chủ nghĩa dân tộc chính thức tại các thế giới thuộc địa của châu Á và châu Phi đã mô phỏng trực tiếp chủ nghĩa dân tộc chính thức của các nhà nước vương triều châu Âu thế kỷ XIX. Nhưng sau khi nghĩ lại tôi thấy quan điểm của mình là vội vàng hời hợt, phả hệ trực tiếp của các chủ nghĩa dân tộc này cần phải lần về những tưởng tượng của nhà nước thuộc địa mới đúng. Thoạt đầu kết luận này có vẻ gây ngạc nhiên, bởi các nhà nước thuộc địa chống lại chủ nghĩa dân tộc một cách điển hình và thường chống lại rất mạnh mẽ. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào những nguyên tắc cơ bản (grammar) nằm dưới và chi phối các ý thức hệ và các chính sách thực dânkể từ giữa thế kỷ XIX, thì phả hệ này chắc chắn sẽ trở nên rõ ràng hơn.

 Có ba thiết chế quyền lực khiến những nguyên tắc này hiện lên nổi bật nhất. Mặc dù được tạo ra từ giữa thế kỷ XIX trở về trước, nhưng chúng đã thay đổi hình thức và chức năng của mình khi các khu vực thuộc địa gia nhập vào kỷ nguyên tái sản xuất máy móc. Ba thiết chế này là điều tra nhân khẩu, bản đồ và bảo tàng: chúng cùng lúc định hình sâu sắc cái cách mà nhà nước thuộc địa tưởng tượng nên lãnh thổ của mình - tính chất của cư dân bị trị, địa lý của lãnh thổ và tính hợp thức của các phả hệ. Để tìm hiểu đặc trưng của mối liên hệ này, trong chương này tôi sẽ tập trung vào Đông Nam Á, bởi những kết luận của tôi chỉ mang tính giả định và những khẳng định chuyên môn thực sự của tôi chỉ giới hạn ở khu vực đó. Tuy nhiên Đông Nam Á đem đến lợi thế đặc biệt cho những ai quan tâm tới lịch sử so sánh, bởi nó bao gồm lãnh thổ thuộc địa của gần như tất cả các thế lực đế chế “da trắng” - Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Hoa Kỳ -bên cạnh nước Xiêm không bị thuộc địa. Bạn đọc có tri thức nhiều hơn tôi về các khu vực khác của châu Á và châu Phi có thể đánh giá khách quan lập luận của tôi có thỏa đáng hay không khi xét trên một phạm vi lịch sử và địa lý rộng hơn.

 ĐIỀU TRA NHÂN KHẨU

Trong hai tiểu luận quan trọng gần đây, nhà xã hội học Charles Hirschman bắt đầu nghiên cứu não trạng(mentalités) của các chuyên gia điều tra nhân khẩu của thực dân Anh tại Các khu định cư Eo biển (2) và Malaya bán đảo cũng như những người kế tục họ làm việc cho liên bang Malaysia độc lập.(3) Những bản sao của Hirschman (4) về “các phạm trù căn cước” trong các điều tra nhân khẩu kế tiếp từ cuối thế kỷ XIX đến nay cho thấy một loạt những thay đổi cực kỳ chóng vánh và tùy tiện, trong đó các phạm trù liên tục bị chồng kết, chia tách, tái kết hợp, xáo trộn và điều chỉnh (nhưng các phạm trù căn cước có uy thế về mặt chính trị thì luôn đứng đầu danh sách). Từ những điều tra dân số này ông rút ra hai kết luận chính. Kết luận thứ nhất, càng về cuối thời kỳ thực dân, các phạm trù điều tra nhân khẩu càng trở thành các phạm trù chủng tộc rõ rệt và thuần nhất.(5) Trong khi đó căn cước tôn giáo dần dần biến mất với tư cách một phân loại chủ yếu của điều tra nhân khẩu. “Tín đồ Hindu” -xếp cạnh “người Kling” (6) và “người Bengal” -biến mất sau đợt điều tra đầu tiên năm 1871. Đến đợt điều tra năm 1901, “tín đồ Zoroastrian” (7) tuy vẫn xuất hiện nhưng bị xếp cùng “người Bengal”, “người Miến Điện” và “người Tamil” dưới phạm trù chung chung “Người Tamil và những người Ấn Độ bản xứ khác”. Kết luận thứ hai, xét về đại thể các phạm trù chủng tộc lớn vẫn được giữ lại, thậm chí được tập trung sau độc lập, nhưng giờ đây bị đổi tên và xếp lại thành “người Malaysia”, “người Hoa”, “người Ấn Độ” và “Các tộc người khác”. Song những bất thường vẫn tiếp tục tồn tại cho đến những năm 1980. Trong điều tra năm 1980, “người Sikh” (8) vẫn xuất hiện một cách bối rối trong tư cách một phạm trù phụ giả tộc người – bên cạnh “người Malayali” và “người Telegu”,(9) “người Pakistan” và “người Bangladesh”, “người SriLanka Tamil” và “Những người Sri Lanka khác” -dưới tên gọi chung “người Ấn Độ”.

Tuy nhiên những bản sao tuyệt vời của Hirschman khuyến khích chúng ta vượt ra ngoài những quan tâm phân tích trực tiếp của ông. Chẳng hạn, trong Bản điều tra nhân khẩu của Các nhà nước Liên bang Malay (10) năm 1911, các cư dân được xếp vào “Nhân khẩu Malay về mặt chủng tộc” gồm những nhóm người sau: “người Malay”, “người Java”, “người Sakai”, “người Banjar”, “người Boyan”, “người Mendeling” (nguyên văn), “người Krinchi” (nguyên văn), “người Jambi”, “người Achi”, “người Bugis” và “Những tộc người khác”. Trong “những nhóm người này”, ngoại trừ (đa phần) “người Malay” và “người Sakai”, tất cả các tộc người khác đều xuất thân từ đảo Sumatra, Java, Nam Borneo và Celebes, những lãnh thổ nằm trong thuộc địa rộng lớn của láng giềng Đông Ấn Hà Lan. Song những nguồn gốc bên ngoài Các nhà nước Liên bang này không được các nhà điều tra nhân khẩu thừa nhận, mặc dù để kiến tạo “người Malay” của mình, họ đã hạ mình nhìn xuống những vùng biên giới thuộc địa của chính họ. (Không cần phải nói rằng ở bên kia eo biển Malacca, những nhà điều tra dân số Hà Lan cũng đang kiến tạo một tưởng tượng khác về “người Malay” trong tư cách một tộc người thiểu số tồn tại cạnh, nhưng không phải đứng trên, “người Achi”, “người Java” và những tộc người tương tự). “Jambi” và “Krinchi” chỉ các không gian hơn là những khái niệm tộc người - ngôn ngữ được ấn định một cách miễn cưỡng. Rất khó có chuyện vào năm 1911, phần đa những cư dân được quy về các phạm trù hoặc phạm trù phụ này lại tự nhận mình dưới những tên gọi như thế. Những “căn cước” này - được tưởng tượng bởi tư duy phân loại (lúng túng) của nhà nước thuộc địa - vẫn phải chờ được hiện thực hóa. Sự xâm nhập của nền hành chính đế chế sẽ nhanh chóng thúc đẩy quá trình hiện thực hóa này. Ngoài ra chúng ta còn nhận thấy nhiệt huyết của các nhà điều tra nhân khẩu trong việc xác lập tính hoàn chỉnh và minh bạch. Điều này giải thích tại sao họ lại không khoan nhượng trước những nhận đồng đa dạng, “lưỡng tính” về mặt chính trị, bị nhòe mờ hoặc đang thay đổi. Điều này cũng giải thích tại sao dưới mỗi nhóm chủng tộc lại xuất hiện các phạm trù phụ kỳ lạ về “Tha nhân” (Others) - những người tuyệt nhiên không lẫn với những “Tha nhân” khác. Tính hư cấu của điều tra nhân khẩu nằm ở chỗ bất cứ ai cũng thuộc về nó và bất cứ ai cũng có một và chỉ một không gian cực kỳ xác định. Không hề có những phân số (11) trong điều tra nhân khẩu.

Dạng thức tưởng tượng này của nhà nước thuộc địa đã xuất hiện từ sớm, trước rất lâu các điều tra nhân khẩu trong những năm 1870. Bởi vậy để hiểu được thấu đáo tại sao các điều tra nhân khẩu cuối thế kỷ XIX vẫn là những kiểm kê hết sức mới mẻ, ta cần quay về những thời điểm đầu tiên người châu Âu xâm nhập Đông Nam Á. Hai dẫn chứng, lấy từ quần đảo Philippines và Indonesia, sẽ giúp ta lý giải. Trong một công trình quan trọng gần đây, William Henry Scott đã thử dựng lại một cách tỷ mỉ cơ cấu giai cấp của Philippines thời kỳ tiền thực dândựa trên các biên chép sớm nhất bằng tiếng Tây Ban Nha.(12) Là một sử gia chuyên nghiệp, Scott ý thức rất rõ tên gọi Philippines bắt nguồn từ tên Felipe Đệ nhị (13) của “Tây Ban Nha” và nếu không vì may rủi, quần đảo này có thể đã rơi vào tay Hà Lan hoặc Anh, bị chia tách về mặt chính trị hoặc tái kếp hợp với những lãnh thổ bị chinh phục khác.(14) Bởi vậy ta không tránh khỏi quy việc lựa chọn chủ đề kỳ lạ của ông cho thời gian ông cư trú lâu dài ở Philippines và mối đồng cảm sâu sắc của ông đối với chủ nghĩa dân tộc Philippines đang truy tìm một vườn địa đàng bản địa trong một thế kỷ qua. Nhưng rất có thể nền tảng bề sâu hình thành nên tưởng tượng của ông lại chính là nguồn tư liệu bằng tiếng Tây Ban Nha mà ông buộc phải dựa vào. Bởi lẽ các giáo sĩ và các nhà chinh phục Tây Ban Nha thời kỳ đầu hễ đi đến đâu trên quần đảo đều nhận thấy, mỗi khi lên bờ, các principales, hidalgos, pecheros esclavos (hoàng tử, quý tộc, thường dân, nô lệ) -những khái niệm na ná đẳng cấp mà họ mượn từ các phân tầng xã hội ở bán đảo Iberia giai đoạn Trung cổ hậu kỳ. Những tư liệu mà họ để lại cung cấp nhiều bằng chứng liên quan cho thấy các “quý tộc” (hidalgos) hầu như không ý thức được sự tồn tại của nhau trong quần đảo rộng lớn, phân tán và thưa thớt cư dân này, nếu có biết đến nhau thì thiểu số này cũng không coi đối phương là quý tộc mà là kẻ thù hoặc nô lệ tiềm năng. Nhưng do quyền lực của mạng lưới (15) này quá lớn, những bằng chứng như vậy đã bị đẩy sang bên lề trong tưởng tượng của Scott. Vì vậy ông khó lòng nhận thấy “cơ cấu giai cấp” của giai đoạn tiền thực dân này thực chất là một tưởng tượng của “điều tra nhân khẩu” được tạo nên từ những thương thuyền Tây Ban Nha.(16) Hễ chúng đi đến đâu, các quý tộc (hidalgos) và nô lệ (esclaves) lại hiện diện đến đó - và những nhóm người này chỉ có thể được tập hợp lại, tức xét về mặt “cấu trúc”, bởi một nhà nước thuộc địa phôi thai.

          Trong trường hợp Indonesia, nhờ nghiên cứu của Mason Hoadley, chúng ta được đọc một tường thuật chi tiết về một vụ án quan trọng được xử tại hải cảng Cirebon của Java vào cuối thế kỷ XVII.(17) Điều may mắn là hồ sơ bằng tiếng Hà Lan (Công ty Đông Ấn Hà Lan) và hồ sơ bằng tiếng Cirebon của địa phương đến nay vẫn còn. Nếu chỉ còn lại bản tường trình bằng tiếng Cirebon, chúng ta chỉ biết bị cáo giết người là một quan chức cấp cao của triều đình Cirebon - chỉ cần qua tước hiệu Ki Aria Marta Ningrat, không cần qua tên riêng của anh ta. Tuy nhiên hồ sơ của Công ty Đông Ấn Hà Lan lại phẫn nộ quy anh ta là một người Trung Hoa (Chinees) - thực tế đây là thông tin quan trọng nhất về anh ta mà chúng cung cấp. Có thể thấy triều đình Cirebon đã phân loại cư dân bằng đẳng cấp và địa vị, trong khi Công ty Đông Ấn Hà Lan phân loại bằng một phạm trù giống “chủng tộc”. Không có bất kỳ lý do nào khiến ta cho rằng bị cáo giết người - mà địa vị thượng lưu đã chứng thực cho sự hòa nhập lâu dài của anh ta và tổ tiên anh ta vào xã hội Cirebon bất chấp nguồn gốc xuất thân của họ - tự coi mình là “một” người Trung Hoa. Vậy thì Công ty Đông Ấn Hà Lan đã đi đến phân loại này như thế nào? Từ những thương thuyền nào tưởng tượng về người Trung Hoa được tạo nên? Chắc chắn đó chỉ có thể là những thương thuyền hung hãn đã theo lệnh của chính quyền trung ương [tức Batavia - ND] không ngừng rong ruổi giữa các hải cảng kéo dài từ Vịnh Mergui đến cửa sông Dương Tử. Bất chấp tính chất phồn tạp của cư dân Trung Hoa; bấp chấp tình trạng khó giao tiếp nhau giữa nhiều khẩu ngữ của họ cũng như nguồn gốc xã hội và địa lý đặc thù của các cộng đồng di dân Hoa kiều định cư khắp duyên hải Đông Nam Á, Công ty Đông Ấn Hà Lan, bằng một nhãn quan xuyên đại dương, vẫn tưởng tượng nên một chuỗi bất tận những người Trung Hoa [giống nhau], tương tự các nhà chinh phục Tây Ban Nha nhìn thấy hàng loạt các quý tộc [tương đồng]. (18) Trên cơ sở điều tra nhân khẩu được chế tác này, công ty một mực cho rằng những ai đặt dưới sự kiểm soát của nó và được nó phân loại thành người Trung Hoa nhất định sẽ ăn mặc, cư trú, cưới hỏi, mai táng và để lại gia sản dựa theo điều tra nhân khẩu. Điều ngạc nhiên là những người Iberia ở Philippines vốn có phạm vi hoạt động và tư duy thương mại kém xa người Hà Lan lại tưởng tượng nên một phạm trù điều tra nhân khẩu tương đối khác biệt: Phạm trù mà họ gọi là sangley. Sangley là một từ được thu nhận vào tiếng Tây Ban Nha, biến âm từ sengli (sinh lợi) trong tiếng Phúc Kiến -nghĩa là “thương nhân”.(19) Ta có thể hình dung những nhà điều tra nhân khẩu Tây Ban Nha đầu tiên đã hỏi các thương nhân đến Manila do sức hút của mậu dịch thương thuyền: “Các anh là ai?”, và được trả lời một cách khôn ngoan: “Chúng tôi là thương nhân”.(20) Nếu không dong thuyền trên bảy đại dương của châu Á thì qua hai thế kỷ những người Iberia vẫn còn ở trong một màn sương mù khái niệm dễ chịu của địa phương. Trải qua một quá trình rất chậm chạp, sangley mới trở thành “người Trung Hoa” -đến tận đầu thế kỷ XIX từ này mới biến mất, nhường chỗ cho từ chino [“người Trung Hoa” trong tiếng Tây Ban Nha -ND] mang phong cách của Công ty Đông Ấn Hà Lan.

Bởi vậy đổi mới thực sự của những nhà điều tra nhân khẩu trong những năm 1870 không phải ở việc kiến tạo những phân loại tộc người - chủng tộc mà là sự định lượng có tính hệ thống của họ. Các nhà cai trị thời kỳ tiền thực dân trong thế giới Malay-Java đã nỗ lực kiểm kê các cư dân chịu sự kiểm soát của họ, song những kiểm kê này được thực hiện dưới hình thức các hồ sơ thuế và danh sách tòng quân. Mục đích của họ rất minh bạch và cụ thể: nắm được những cư dân phải nộp thuế và đăng lính mà họ có thể cưỡng chế một cách hiệu quả -bởi những nhà cai trị này chỉ quan tâm tới thặng dư kinh tế và nhân lực vũ trang. Ở khía cạnh này, các chính quyền châu Âu sơ kỳ trong khu vực không khác biệt là bao so với các tiền thân của chúng. Nhưng sau 1850, giới chức thực dân đã sử dụng các công cụ hành chính ngày càng phức tạp để kiểm kê nhân khẩu, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em (những đối tượng mà tầng lớp cai trị trong quá khứ thường bỏ qua), dựa trên một mê trận những mạng lưới không có mục đích tài chính và quân sự trực tiếp. Trước đây những thần dân có nghĩa vụ đóng thuế và đăng lính thường ý thức rất rõ họ là đối tượng bị kiểm kê; nhà cai trị và kẻ bị trị tuy có lập trường đối nghịch nhưng lại hiểu rõ nhau về vấn đề này. Nhưng vào năm 1870 một phụ nữ “Nam Kỳ” không đóng thuế và không phải đăng lính có thể sinh trú, hạnh phúc hoặc không hạnh phúc, ở Khu định cư Eo biển mà không hề ý thức được rằng đây là cách mà mình bị phân định [trên bản đồ] từ bên trên. Ở đây đặc trưng của điều tra nhân khẩu mới trở nên rõ ràng. Nó cố gắng tính toán cẩn thận những đối tượng nằm trong tưởng tượng nhiệt thành của nó. Dựa vào đặc tính của hệ thống phân loại và logic của bản thân sự định lượng, một “người Nam Kỳ” phải được hiểu là một con số (digit) trong một chuỗi “những người Nam Kỳ” có thể tập hợp và sao nhân - tất nhiên bên trong phạm vi lãnh thổ của nhà nước thuộc địa. Cùng với sự mở rộng quy mô và chức năng của nhà nước thuộc địa, địa hình phân bố nhân khẩu (demographic topography) mới này đã bắt rễ sâu sắc vào xã hội và các thiết chế thuộc địa. Dưới sự chỉ dẫn của bản đồ tưởng tượng đó, nhà nước thuộc địa, dựa trên nguyên lý của các thứ bậc tộc người - chủng tộc (dù các thứ bậc đó luôn được hiểu dưới dạng những tập hợp song song), đã thiết lập nên bộ máy công chức mới trong lĩnh vực giáo dục, pháp lý, y tế công cộng, cảnh sát và quản lý nhập cư. Sự luân chuyển của cư dân bị trị trong mạng lưới trường học, tòa án, bệnh viện, đồn cảnh sát và các văn phòng nhập cư khác nhau đã tạo nên những “tập quán giao thông”, những tập quán này rốt cuộc sẽ đem đến đời sống xã hội thực sự cho các tưởng tượng ban đầu của nhà nước.

Không cần phải nói rằng sự luân chuyển này thường không thuận lợi và nhà nước liên tục vấp phải những thực tế không hề dễ chịu. Trong đó thực tế quan trọng nhất là sự gắn kết về mặt tôn giáo, nền tảng của các cộng đồng tưởng tượng rất cổ xưa và ổn định, hoàn toàn không liên quan đến mạng lưới - bản đồ quyền uy của các nhà nước thế tục. Đội ngũ cai trị tại các thuộc địa khác nhau của Đông Nam Á, ở các mức độ khác nhau, buộc phải thực hiện những dàn xếp phức tạp, nhất là với Hồi giáo và Phật giáo. Đặc biệt, các điện thờ, tự viện và tòa án tôn giáo - mà việc đến hay không đến những nơi này là do lựa chọn cá nhân của cư dân chứ không phải do điều tra nhân khẩu -tiếp tục nở rộ. Nhà nước chỉ có thể quy định, hạn chế, kiểm kê, chuẩn hóa những thiết chế này và đặt chúng dưới sự kiểm soát của mình.(21) Do các đền chùa, giáo đường, tự viện và tòa án tôn giáo là những hiện tượng khác thường xét vềhình thái phân bố nhân khẩu, nên chúng được hiểu là những khu vực tự do và - sớm hay muộn - là thành trì đấu tranh chống thực dân của các nhà tu hành và các nhà dân tộc chủ nghĩa sau này. Đồng thời nhà nước thường xuyên nỗ lực gia cố mối gắn kết mật thiết giữa điều tra nhân khẩu và các cộng đồng tôn giáo bằng việc ra sức sắc tộc hóa (ethnicizing) về mặt chính trị và pháp lý các cộng đồng tôn giáo đó. Trong Các nhà nước Liên bang của Malaya thuộc địa, nhiệm vụ này tương đối dễ dàng. Người nào được thể chế này coi là nằm trong hàng ngũ những “người Malay” sẽ nhanh chóng được đẩy sangtòa án của các Quốc vương Hồi giáo (Sultan) thất thế “của họ”, nơi về cơ bản vẫn được thực thi theo luật Hồi giáo.(22) Bởi vậy “Người Hồi giáo” trên thực tế bị coi là một cái tên khác của “người Malay”. (Chỉ sau khi giành được độc lập năm 1957 mới xuất hiện một số nhóm chính trị nỗ lực đảo ngược logic này, chủ trương coi “người Malay” là một cái tên khác của “người Hồi giáo”). Ở quần đảo Đông Ấn Hà Lan rộng lớn và phồn tạp, nỗ lực tương tự của nhà nước phải đối mặt với những trở ngại lớn hơn nhiều, bởi vào cuối kỷ nguyên thực dâncác tổ chức truyền giáo bất hòa đã tiến hành những đợt cải đạo quy mô ở nhiều khu vực hết sức phân tán. Nhưng ngay cả tại đây, chúng ta vẫn chứng kiến sự phát triển của các cộng đồng Thiên chúa giáo “sắc tộc” (nhà thờ của người Batak, nhà thờ của người Karo, sau này là nhà thờ của người Dayak v.v...) trong những năm 1920 và 1930. Một phần nguyên nhân là do nhà nước đã phân các khu vực cải đạo cho những nhóm truyền giáo khác nhau dựa vào địa hình phân bố của điều tra nhân khẩu (cencus-topography). Tuy nhiên với tín đồ Hồi giáo, chính quyền Batavia không có được thành công như thế. Nó không dám ngăn cản những cuộc hành hương đến Mecca, dù vẫn cố gắng hạn chế sự gia tăng số lượng người hành hương, kiểm soát hành trình của họ và giám sát họ từ một đồn canh được lập ra ở Jiddah.(23) Những biện pháp này không đủ sức ngăn chặn sự tiếp xúc ngày một mạnh mẽ của tín đồ Hồi giáo Đông Ấn với thế giới Hồi giáo rộng lớn bên ngoài, đặc biệt là những đường hướng tư tưởng mới xuất phát từ Cairo.(24)

 BẢN ĐỒ

Trong khi đó Cairo và Mecca bắt đầu được hình dung theo một cách thức mới lạ, không đơn thuần chỉ là những vị trí (sites) nằm trong một địa lý Hồi giáo linh thiêng nữa mà còn là các điểm (dots) nằm trên những tờ báo có mặt cả (điểm) Paris, Moscow, Manila và Caracas; và mối liên hệ mặt phẳng giữa các điểm không kể thế tục hay linh thiêng này chỉ được quyết định dựa trên đường chim bay được tính toán chính xác về mặt toán học. Nhờ in ấn, bản đồ Mercator(25) do các nhà thực dân châu Âu mang tới đã bắt đầu định hình nên tưởng tượng của cư dân Đông Nam Á.

 Trong một luận án xuất sắc gần đây, sử gia người Thái Thongchai Winichakul đã lần về các quá trình phức tạp làm xuất hiện một “nước Xiêm” có biên giới từ 1850 đến 1910.(26) Phân tích của ông rất giàu tính gợi dẫn bởi Xiêm là nước không bị thuộc địa, dù rốt cuộc cái trở thành biên giới của nó lại do thực dân quyết định. Bởi vậy trong trường hợp của Thái ta có thể nhận thấy rất rõ sự xuất hiện của một tư duy nhà nước mới bên trong cấu trúc “truyền thống” của quyền lực chính trị.

 Đến tận thời điểm Rama IV tài năng (tức vua Mongkut trong Đức vua và Tôi)(27) lên ngôi năm 1851, vẫn chỉ có hai loại bản đồ tồn tại ở Xiêm và cả hai đều được vẽ bằng tay: kỷ nguyên tái sản xuất máy móc vẫn chưa xuất hiện ở đây. Ta có thể gọi kiểu bản đồ thứ nhất là một thứ “đồ hình vũ trụ”, một biểu thị có tính hình thức và biểu tượng về Tam giới trong vũ trụ luận của Phật giáo truyền thống. Đồ hình vũ trụ này không được thiết lập theo chiều ngang như bản đồ của chúng ta; đúng hơn nó là một chuỗi thiên đường trên dương thế và địa ngục dưới trần gian xen vào thế giới hữu hình dọc theo một trục đứng duy nhất. Nó không thể dùng cho bất cứ chuyến đi nào ngoại trừ mục đích tìm kiếm công trạng và sự cứu rỗi. Kiểu bản đồ thứ hai, hoàn toàn thế tục, gồm những chỉ dẫn biểu đồ dùng cho các chiến dịch quân sự và hoạt động của thuyền bè ven biển. Được thiết lập một cách ước chừng bởi các góc vuông, đặc điểm chính của chúng là phải kèm các phụ chú về thời gian hành quân và đi lại của thuyền bè, bởi người lập bản đồ không hề có ý niệm kĩ thuật về tỷ lệ. Chỉ bao quát không gian mặt đất và thế tục, chúng thường được vẽ theo một góc nhìn chéo lạ lẫm hoặc kết hợp nhiều góc nhìn, như thể nhãn quan của người vẽ, tuy hàng ngày quen nhìn cảnh quan theo chiều ngang, bằng cao độ củatầm mắt, nhưng trong tiềm thức lại bị ảnh hưởng bởi tính thẳng đứng của đồ hình vũ trụ. Thongchai chỉ ra rằng những bản đồ chỉ dẫn này luôn mang tính địa phương, chúng không bao giờ được đặt trong một bối cảnh địa lý rộng hơn và ổn định; và chúng hoàn toàn xa lạ với các bản đồ mắt chim(28) quen dùng cho bản đồ hiện đại.

Lúc đó Xiêm cũng chưa xuất hiện kiểu bản đồ biểu thị biên giới. Những người lập bản đồ của họ khó mà hiểu nổi phát biểu nhã nhặn sau của Richard Muir: (29)

Nằm tại nơi phân giới giữa các lãnh thổ quốc gia lân cận, các đường biên quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quyết định phạm vi chủ quyền và xác định hình thức không gian của các khu vực chính trị trực thuộc… Các đường biên… được xác lập tại nơi mà những phân giới theo chiều dọc giữa các chủ quyền quốc gia giao cắt với bề mặt trái đất… Là những phân giới theo chiều dọc, các đường biên không có bề rộng theo chiều ngang…

Cột mốc biên giới và những mốc chỉ tương tự đã tồn tại và thực tế khi người Anh gây sức ép từ Hạ Miến, chúng đã được nhân rộng dọc khu vực biên giới phía tây của vương quốc. Nhưng chúng được dựngmột cách không đều đặn, tại các con đường núi hoặc những chỗ suối cạn có tầm quan trọng về mặt chiến lược và thường cách rất xa các cột mốc tương ứng do đối phương dựng. Chúng được được hiểu là những vị trí mở rộng của quyền lực hoàng gia, được nhìn theo chiều ngang, bằng cao độ củatầm mắt, chứ không phải “từ trên trời nhìn xuống” [như bản đồ mắt chim hiện đại - ND]. Phải đến những năm 1870 lãnh đạo Thái mới bắt đầu coi biên giới là những phân đoạn nằm trong một đường bản đồ liên tục -chúng không hề tương ứng với những gì hữu hình trên mặt đất nhưng vạch ra một chủ quyền riêng biệt nằm giữa các chủ quyền khác. Năm 1874 xuất hiện cuốn giáo khoa địa lý đầu tiên do nhà truyền giáo người Mỹ J.W.Van Dyke biên soạn -một sản phẩm sơ khởi của chủ nghĩa tư bản in ấn đang tràn vào Xiêm lúc bấy giờ. Năm 1882, Rama V cho thiết lập một trường chuyên dựng bản đồ ở Bangkok. Năm 1892, Bộ trưởng giáo dục, Hoàng thân Damrong Rajanuphab, khi bắt đầu áp dụng hệ thống trường học hiện đại của Xiêm, đã đưa địa lý làm môn học bắt buộc ở bậc trung học. Năm 1900, hoặc xung quanh thời điểm này, Địa lý Xiêm (Phumisat Sayam) của W. G. Johnson được xuất bản,(30) trở thành hình mẫu cho toàn bộ sách địa lý được in tại Xiêm từ đó về sau. Thongchai lưu ý rằng sự gặp gỡ và kết hợp theo chiều hướng phát triển lịch sử chủ nghĩa tư bản in ấn và khái niệm mới về thực tế không gian do những bản đồ này đề xuất nên đã có tác động tức thì lên từ vựng của đời sống chính trị Thái. Từ 1900 đến 1915, các từ quen thuộc krungmuang về cơ bản biến mất, bởi chúng hình dung lãnh thổ quốc gia dưới dạng các kinh đô linh thiêng và các trung tâm nhân khẩu hữu hình và không liên tục.(31) Thay vào đó là sự xuất hiện của từ prathet (“đất nước”), hình dung lãnh thổ quốc gia bằng không gian lãnh thổ vô hình và được phân giới.(32)

Giống như các điều tra nhân khẩu, các bản đồ theo kiểu châu Âu đã phát huy tác dụng trên cơ sở một phân loại tổng quát. Nhờ có chúng các công chức vẽ bản đồ và tiêu thụ bản đồ mới có thể thực thi các chính sách mới mang lại kết quả có tính cách mạng. Kể từ khi John Harrison phát minh ra đồng hồ hàng hải vào năm 1761 khiến chúng ta có thể tính toán chính xác các kinh độ, mặt cong của toàn bộ địa cầu đã đượcđưa vào một mạng lưới hình học. Mạng lưới này thâu nạp cả những vùng biển hoang sơ và những khu vực chưa khai thác vào trong những ô vuông được đo đạc một cách chính xác.(33) Nhiệm vụ “lấp đầy” những ô vuông này sẽ được các nhà thám hiểm, các nhà trắc địa và quân đội tiến hành. Ở Đông Nam Á, nửa sau thế kỷ XIX là kỷ nguyên hoàng kim của các nhà trắc địa quân sự -các nhà trắc địa thực dân và muộn hơn một chút, các nhà trắc địa người Thái. Giống như các chuyên gia điều tra dân số nỗ lực giám sát nhân khẩu, họ hành quân để giám sát các không gian. Cứ mỗi một đợt quan trắc,(34) mỗi một cuộc chiến tranh và hiệp ước, mối liên hệ giữa bản đồ và quyền lực lại gia tăng. Thongchai đã phân tích mối liên hệ này một cách xác đáng như sau:(35)

Xét từ hầu hết các lý thuyết thông tin cũng như trong nhận thức thông thường, bản đồ là một trừu xuất khoa học của thực tế. Một bản đồ chỉ biểu thị một thực tế nào đó đã tồn tại khách quan “ở đó”. Trong lịch sử mà tôi đã trình bày, mối quan hệ này bị đảo ngược. Bản đồ sẽ ấn định trước các thực tế không gian, chứ không phải ngược lại. Nói cách khác, bản đồ là mô hình dành cho cái mà nó muốn biểu đạt hơn là mô hình của thực tế không gian… Nó trở thành một công cụ thực tiễn nhằm cụ thể hóa những phóng chiếu lên bề mặt của địa cầu. Ngày nay bản đồ trở thành một phương tiện không thể thiếu đối với các cơ chế hành chính mới cũng như đối với các lực lượng quân đội muốn củng cố những tuyên bố của chúng về lãnh thổ…Các hoạt động hành chính và quân sự không những vận hành bên trong mô hình của diễn ngôn bản đồ mà còn phục vụ cho mô hình đó.

Vào bước chuyển của thế kỷ, cùng với các cải cách của Hoàng thân Damrong tại Bộ nội vụ (một cái tên đẹp liên quan đến bản đồ), nền hành chính của vương quốc cuối cùng cũng được đặt trên một nền tảng lãnh thổ - bản đồ thực sự, sau thực tế ban đầu tại các thuộc địa lân cận.

Ở đây chúng ta cần chú ý sự giao thoa quan trọng giữa bản đồ và điều tra nhân khẩu. Bởi lẽ những bản đồ mới chắc chắn sẽ chia tách chuỗi bất tận (infinite series) những “người Khách Gia”, “người Sri Lanka phi Tamil” và “người Java” mà bộ máy điều tra nhân khẩu gợi nên, bằng cách phân định về mặt lãnh thổ những nơi mà họ, vì mục đích chính trị, phải dừng lại. Trái lại, thông qua một dạng đạc tam giác (triangulation)(36) của nhân khẩu học, các điều tra dân số đã lấp đầy về mặt chính trị địa hình hình thức của bản đồ.

Từ trong những thay đổi này xuất hiện hai biến thân (avatar) cuối cùng của bản đồ (cả hai đều được thiết lập bởi nhà nước thuộc địa hậu kỳ), cũng là hai dấu hiệu trực tiếp báo trước các chủ nghĩa dân tộc chính thức ở Đông Nam Á thế kỷ XX. Tuy ý thức rõ về vị thế khách không mời mà đến trong các khu vực nhiệt đới xa xôi, nhưng vì đến từ một nền văn minh mà quyền thừa kế pháp lý và chuyển nhượng hợp pháp không gian địa lý đã được xác lập từ lâu,(37) người châu Âu thường xuyên nỗ lực hợp thức hóa sự mở rộng quyền lực của họ bằng các biện pháp giả pháp lý. Một trong những biện pháp quen thuộc là việc “kế thừa” cái được gọi là chủ quyền của những nhà cai trị bản địa đã bị người châu Âu loại trừ hoặc khuất phục. Bất luận đã loại bỏ hay chinh phục được họ, kẻ chiếm đoạt cũng làm công việc, đặc biệt khi đối mặt với những người châu Âu khác, tái cơ cấu lịch sử tài sản của những thuộc địa mới giành được. Điều này giải thích tại sao lại xuất hiện, nhất là vào cuối thế kỷ XIX, các “bản đồ lịch sử”. Chúng được lập ra để chứng minh, trong một diễn ngôn bản đồ mới, tính cổ xưa của các đơn vị lãnh thổ đặc thù và được phân giới chặt chẽ. Nhờ những bản đồ được sắp xếp về mặt niên đại như vậy mà một tự sự chính trị - tiểu sử về vương quốc mới xuất hiện, có lúc còn xuất hiện với chiều sâu lịch sử lớn lao.(38) Đến lượt mình, tự sự này lại được sử dụng - dù luôn được cải chế - bởi các quốc gia - dân tộc sẽ trở thành kẻ kế thừa nhà nước thuộc địa trong thế kỷ XX.(39)

Biến thân thứ hai là bản đồ-trong-tư cách-biểu trưng. Nguồn gốc của nó rất đơn thuần hợp lý - thói quen của các nhà nước đế chế cấp màu cho các thuộc địa của chúng trên bản đồ bằng một thứ thuốc nhuộm đế quốc. Trong các bản đồ đế chế của London, các thuộc địa Anh thường để màu hồng đậm, thuộc địa Pháp màu tím xanh, thuộc địa Hà Lan màu vàng nhạt v.v… Được nhuộm màu theo kiểu này, mỗi thuộc địa trông giống một mảnh ghép có thể tháo rời trong trò chơi ghép hình. Khi hiệu quả “ghép hình” này trở nên thông thường, các “mảnh ghép” có thể bị tách hoàn toàn khỏi ngữ cảnh địa lý của chúng. Trong hình thức cuối cùng của chúng, tất cả các chú thích sẽ nhanh chóng bị loại bỏ: các đường kinh tuyến và vĩ tuyến, các địa danh, các ký hiệu sông ngòi, biển và núi, các quốc gia láng giềng. Chúng trở thành những ký hiệu thuần túy, không còn là chiếc la bàn của thế giới nữa. Trong hình thức này, bản đồ gia nhập vào một chuỗi tái sản xuất bất tận, có thể chuyển vào áp phích, con dấu chính thức, tiêu đề thư, bìa tạp chí, bìa sách giáo khoa, khăn trải bàn và tường khách sạn. Nhanh chóng được nhận ra và có thể nhìn thấy ở bất cứ đâu, các bản đồ biểu trưng thâm nhập vào tưởng tượng của quần chúng, tạo nên một biểu tượngquyền uy cho các chủ nghĩa dân tộc chống thực dân đang hình thành.(40)

Indonesia hiện đại sẽ cung cấp cho chúng ta một ví dụ tiêu biểu và gian nan cho quá trình này. Năm 1828 khu định cư Hà Lan đầu tiên -và cũng là nơi dịch sốt hoành hành - được thành lập trên đảo New Guinea. Mặc dù phải từ bỏ khu định cư vào năm 1836, nhưng Quốc vương Hà Lan vẫn tuyên bố chủ quyền đối với phần đảo nằm phía tây kinh độ 1(41)  này (một đường thẳng vô hình không hề tương ứng với các thực tế trên mặt đất, nhưng được đưa vào các khoảng trắng ngày càng thu nhỏ của Conrad),41ngoại trừ một số khu vực duyên hải được cho là nằm trong chủ quyền của Quốc vương (Sultan) Tidore. Phải đến năm 1901 La Hay mới mua được Tidore và sát nhập Tây New Guinea vào lãnh thổ Đông Ấn Hà Lan - rất kịp thời cho việc biểu trưng hóa. Ngay cả sau Thế chiến thứ hai phần lớn khu vực này vẫn rất hoang vu;(42) chỉ một nhóm nhỏ những người Hà Lan ở đây, chủ yếu là các nhà truyền giáo, các chuyên gia thăm dò khoáng vật -và nhân viên cai ngục tại các trại biệt giam dành cho những nhà dân tộc chủ nghĩa cấp tiến ngoan cố của Indonesia. Khu vực đầm lầy phía bắc Merauke, nằm ở cực đông nam của New Guinea thuộc Hà Lan, được chọn làm địa điểm bố trí những trại giam này, bởi lẽ đây được coi là nơi tách biệt hoàn toàn với phần còn lại của Đông Ấn và cư dân “thời kỳ đồ đá” tại đây hoàn toàn không bị tiêm nhiễm tư tưởng dân tộc chủ nghĩa.(43)

Việc giam giữ, và thường cả mai táng, những người anh hùng dân tộc tại đây đã khiến Tây New Guinea chiếm một vị trí trung tâm trong các sáng tác dân gian của phong trào đấu tranh chống thực dân và biến nó trở thành một địa chỉ linh thiêng trong tưởng tượng dân tộc: Indonesia Tự do, từ Sabang (cực tây bắc của Sumatra) đến -còn đâu ngoài -Merauke. Người ta không hề bận tâm đến thực tế rằng, ngoài vài trăm tù nhân, không một nhà dân tộc chủ nghĩa nào từng tận mắt nhìn thấy New Guinea trước những năm 1960. Song những bản đồ biểu trưng của thực dân Hà Lan phổ biến khắp thuộc địa này đã cho thấy một Tây New Guinea không hề liên quan đến phần Đông của nó, bởi vậy gia cố trong vô thức mối gắn kết tưởng tượng đang ngày một gia tăng đó. Khi người Hà Lan buộc phải nhường chủ quyền của quần đảo cho Liên bang Indonesia(44) do hệ quả của những cuộc đấu tranh chống thực dân quyết liệt diễn ra từ 1945 đến 1949, họ đã nỗ lực (vì những lý do mà chúng ta không cần phải nói rõ ở đây) tái chia tách Tây New Guinea, đặt nó dưới sự cai trị thực dân tạm thời và tìm cách biến nó trở thành một quốc gia độc lập. Phải đến năm 1963 người Hà Lan mới từ bỏ kế hoạch này do sức ép ngoại giao lớn từ Mỹ và những cuộc tấn công quân sự của Indonesia. Chỉ khi đó tổng thống Sukarno, vào tuổi 62, lần đầu tiên mới đến thăm một vùng đất mà ông đã đấu tranh không ngừng nghỉ trong suốt bốn thập niên. Những mối quan hệ khó khăn sau đó giữa các cư dân Tây New Guinea và các phái viên của nhà nước Indonesia độc lập có thể có nguyên do từ thực tế rằng những người Indonesia ít nhiều vẫn thực sự coi các cư dân này là “anh chị em”, trong khi phần đa họ lại nhìn sự việc hoàn toàn khác.(45)

Sự khác biệt này chủ yếu có nguyên nhân từ điều tra nhân khẩu và bản đồ. Sự xa xôi và địa hình hiểm trở của New Guinea trải qua mấy ngàn năm đã tạo nên một sự phân hóa ngôn ngữ khác thường. Khi người Hà Lan để lại vùng đất này vào năm 1963 họ ước tính rằng trong 700.000 cư dân ở đây đã tồn tại trên 200 ngôn ngữ chủ yếu khác biệt nhau.(46) Nhiều “bộ tộc” cư trú tại các khu vực tách biệt thậm chí còn không ý thức được sự tồn tại của nhau. Nhưng các nhà truyền giáo và giới chức Hà Lan, nhất là sau 1950, lần đầu tiên mới thực sự nỗ lực “hợp nhất” họ bằng cách tiến hành các điều tra nhân khẩu, mở rộng mạng lưới thông tin, lập trường học và xây dựng các cơ cấu chính quyền trên “bộ lạc”. Như chúng ta đã đề cập đến, thực thi nỗ lực này là một nhà nước thuộc địa đặc biệt, bởi nó cai trị quần đảo Đông Ấn chủ yếu không phải bằng một ngôn ngữ châu Âu mà bằng “tiếng Malay hành chính”.(47) Điều này giải thích tại sao Tây New Guinea lại được “giáo dục” bằng chính ngôn ngữ mà Indonesia đã gây dựng trước đó (về sau sẽ trở thành ngôn ngữ quốc gia). Trớ trêu rằng, tiếng bahasa Indonesia cũng vì thế mà trở thành ngôn ngữ chung của một chủ nghĩa dân tộc Tây Papua phôi thai của Tây New Guinea.(48)

Thế nhưng điều khiến các nhà dân tộc chủ nghĩa trẻ tuổi hay bất hòa của Tây Papua xích lại gần nhau, nhất là sau năm 1963, lạilà bản đồ. Mặc dù nhà nước Indonesia đã đổi tên khu vực này từ Tây New Guinea thành Irian Barat (Tây Irian) rồi thành Irian Jaya, nó vẫn đọc thực tế địa phương từ các bản đồ mắt chim của kỷ nguyên thuộc địa. Đây đó cũng có một số nhà nhân chủng học, nhà truyền giáo và viên chức địa phương có thể biết và nghĩ về người Ndani, người Asmat và người Baudi. Nhưng bản thân nhà nước và qua nhà nước là toàn thể cư dân Indonesia chỉ nhìn thấy một ảo ảnh “người Irian” (orang Irian) được đặt tên theo bản đồ; vì là ảo ảnh, “người Irian” sẽ được tưởng tượng nên bằng hình thức giả biểu trưng: nhân dạng “da đen”, bầu dương vật v.v… Sự xuất hiện của một cộng đồng dân tộc “Irian” phôi thai được phân định bởi kinh độ 141 và hai tỉnh lân cận Bắc và Nam Moluccas nhắc chúng ta nhớ đến cái cách mà Indonesia lần đầu được tưởng tượng bên trong các cơ cấu chủng tộc của Đông Ấn Hà Lan đầu thế kỷ XX. Thời điểm người phát ngôn nổi tiếng và lôi cuốn nhất của Tây New Guinea, Arnold Ap,(49) bị chính quyền Indo sát hại vào năm 1984, ông đang là giám tuyển (curator) của một bảo tàng nhà nước chuyên về văn hóa (địa phương) “Irian”.

 BẢO TÀNG

Mối liên hệ giữa công việc của Ap và việc Ap bị ám sát không hề ngẫu nhiên. Bởi các bảo tàng cũng như tưởng tượng bảo tàng hóa (museumizing imagination) đều có hàm ý chính trị sâu sắc. Việc bảo tàng của ông được thiết lập bởi một chính quyền trung ương (Jakarta) xa xôi cho chúng ta thấy cái cách mà quốc gia - dân tộc Indonesia mới này đã học hỏi ra sao từ tiền bối trực tiếp của nó - chính quyền thực dân của Đông Ấn Hà Lan. Sự gia tăng của các bảo tàng ở khắp Đông Nam Á ngày nay chứng tỏ sự vận hành của một tiến trình kế thừa chính trị phổ biến. Muốn hiểu được tiến trình này trước hết chúng ta cần phải xem xét ngành khảo cổ học thực dân thế kỷ XIX, một lĩnh vực mới đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các bảo tàng đó.

Đến tận đầu thế kỷ XIX giới cai trị thực dân ở Đông Nam Á vẫn không mấy quan tâm tới các di tích cổ của những nền văn minh mà họ chinh phục được. Thomas Stamford Raffles, phái viên đáng ngại đến từ Calcutta của William Jones,50là quan chức thực dân nổi tiếng đầu tiên không chỉ xây dựng một bộ sưu tập lớn của cá nhân các tác phẩm nghệ thuật địa phương, mà còn nghiên cứu một cách hệ thống lịch sử của chúng.(51) Kể từ đó, với tốc độ ngày càng tăng, các di tích lớn Borobudur, Ankor, Pagan và các di chỉ cổ khác lần lượt được khai quật, khám phá, đo đạc, chụp ảnh, trùng tu, bảo vệ, phân tích và trưng bày.(52) Sở Khảo cổ Thuộc địa (Colonial Archaeological Services) trở thành những cơ quan quyền lực và uy tín, kêu gọi sự phục vụ của các học giả - quan chức rất tài năng.(53)

Để hiểu cặn kẽ tại sao hiện tượng này diễn ra, diễn ra khi nào, chúng ta sẽ đi quá xa chủ đề đang phân tích. Có lẽ ở đây chỉ cần giả định rằng thay đổi này có liên quan tới sự suy yếu của các thể chế thương mại thực dân của hai Công ty Đông Ấn lớn và sự trỗi dậy của các thuộc địa thực sự hiện đại có ràng buộc trực tiếp với mẫu quốc.(54) Bởi vậy uy tín của các nhà nước thuộc địa giờ đây liên quan chặt chẽ tới uy tín của các nhà nước mẫu quốc có địa vị cao hơn. Điều đáng chú ý ở đây là những nỗ lực khảo cổ học đã được tập trung như thế nào cho việc phục nguyêncác di tích lớn (và những di tích này bắt đầu được đánh dấu ra sao trên bản đồ để có thể phổ biến và khai trí cho quần chúng: một dạng điều tra nhân khẩu người chết đang được tiến hành). Rõ ràng sự chú trọng này đã phản ánh những đường hướng chung của ngành Đông phương học. Song những chi phí lớn bỏ ra lại cho phép chúng ta nghi ngờ rằng nhà nước có các lý do ngoài khoa học của chính nó. Có ba lý do mà chúng ta có thể nghĩ đến ngay lập tức, trong đó lý do cuối cùng chắc chắn quan trọng nhất.

Thứ nhất, thời điểm xúc tiến những nỗ lực khảo cổ học trùng khớp với thời điểm diễn ra cuộc đấu tranh chính trị đầu tiên xoay quanh các chính sách giáo dục của nhà nước.55“Phái cấp tiến” -thực dân cũng như bản xứ -chủ trương nên đầu tư nhiều cho giáo dục hiện đại. Chống lại họ là những người thuộc phái thủ cựu lo ngại hệ quả lâu dài của nền giáo dục này và muốn người bản xứ vẫn là người bản xứ. Bởi vậy những trùng tukhảo cổ học -ngay sau đó là việc ấn hành dưới sự tài trợ của nhà nước các tác phẩm văn chương truyền thống -có thể được coi là một chương trình giáo dục thủ cựu, đồng thời cũng là cái cớ nhằm chống lại sức ép từ những người cấp tiến. Thứ hai, các chương trình trùng tu chính thức và có tính ý thức hệ luôn đặt kẻ xây di tích và người bản xứ bị thuộc địa trong một quan hệ thứ bậc nhất định. Trong một số trường hợp, chẳng hạn Đông Ấn Hà Lan, đến tận những năm 1930 vẫn có quan điểm cho rằng kẻ xây dựng trên thực tế không cùng “chủng tộc” với người bản xứ (họ “thực chất” là những di dân Ấn Độ).56Trong một số trường hợp khác, chẳng hạn ở Miến Điện, cái được tưởng tượng là một sự suy thoái kéo dài, rằng người bản xứ hiện nay không thể có được những thành tựu như những người được cho là tổ tiên của họ. Nhìn từ quan điểm này, những di tích được trùng tu, đặt cạnh tình trạng nghèo đói bủa vây của nông thôn, đã nói với người bản xứ một thông điệp: Sự hiện diện của chúng ta chứng minh rằng các người luôn luôn, hoặc từ lâu, không thể làm được gì to tát cũng như không đủ khả năng tự cai trị.

 Lý do thứ ba khiến chúng ta hiểu sâu hơn và đúng hơn về bản đồ. Khi thảo luận về “bản đồ lịch sử”, chúng ta đã thấy cái cách mà các chính quyền thực dân -thoạt tiên vì những lý do hết sức rõ ràng và thủ đoạn về mặt pháp lý -bắt đầu quan tâm đến tính cổ xưa không kém việc đi chinh phục. Tuy nhiên khi thời gian trôi đi, giới chức thực dân ngày càng ít phát biểu công khai thô bạo về quyền xâm chiếm và nỗ lực nhiều hơn trong việc xác lập những nền tảng hợp thức mới. Ngày càng nhiều người châu Âu sinh ra tại Đông Nam Á và mong muốn coi đây là quê hương của họ. Khảo cổ học di tích ngày càng gắn liền với du lịch, cho phép nhà nước hiện diện trong tư cách kẻ gác đền cho một Truyền thống vừa bao quát vừa có tính địa phương. Những di chỉ cổ linh thiêng được đưa vào bản đồ thuộc địa và uy tín cổ xưa của chúng (nếu uy tín này biến mất, như vẫn thường xảy ra, thì nhà nước sẽ nỗ lực phục hồi lại) vây lấy người lập bản đồ. Tình trạng nghịch lý này được thể hiện rõ qua thực tế: những di tích được trùng tu thường khéo léo trồng cỏ chung quanh và luôn đặt những biển thuyết minh khác nhau kèm theo thông tin ngày tháng. Ngoài ra, chúng còn được giữ trong trạng thái vắng người, ngoại trừ phục vụ khách du lịch đến thăm thú (hạn chế tối đa các lễ nghi tôn giáo hoặc những cuộc hành hương). Bảo tàng hóa (museumize) theo cách này, chúng được tái định vị trong tư cách những biểu tượng của một nhà nước thuộc địa thế tục.

Tuy nhiên như đã đề cập đến, một đặc điểm nổi bật của những công cụ nằm trong tay nhà nước thế tục này là khả năng tái sản xuất vô tận. Hiện thực hóa khả năng này về mặt công nghệ là in ấn và chụp ảnh, nhưng về mặt chính trị - văn hóa lại là sự hoài nghi của chính nhà cầm quyền trước tính linh thiêng thực sự của các di chỉ địa phương. Ta có thể nhận thấy một tiến trình giống nhau xuất hiện khắp nơi: (1) các báo cáo khảo cổ quy mô và phức tạp về công nghệ, kèm theo hàng tá ảnh, ghi chép quá trình trùng tu từng phế tích riêng lẻ; (2) những cuốn sách đầy ắp minh họa để công chúng mua đọc, trong đó có ảnh mẫu của tất cả các di chỉ chính được trùng tu bên trong thuộc địa (sẽ hay hơn nếu đặt các đền thờ Hindu giáo và Phật giáo cạnh các nhà thờ Hồi giáo được phục nguyên như trường hợp Đông Ấn Hà Lan).(57) Nhờ chủ nghĩa tư bản in ấn, một dạng điều tra nhân khẩu bằng tranh ảnh các di sản của nhà nước đã dễ dàng đến tay, dù với giá cao, các cư dân của nhà nước; (3) Một tiến trình biểu trưng hóa rộng rãi được xúc tiến nhờ các quá trình thế tục đã chỉ ra ở trên. Các con tem bưu điện, với hàng loạt hình ảnh biểu trưng - chim chóc, hoa quả, động vật nhiệt đới, và không thể thiếu các di tích -là ví dụ tiêu biểu cho giai đoạn này. Nhưng bưu thiếp và sách giáo khoa trong trường học cũng tuân theo logic tương tự. Kể từ đây chẳng mấy chốc các biểu trưng sẽ gia nhập vào thị trường: Khách sạn Pagan, Gà rán Borobudur v.v…

Trưởng thành trong kỷ nguyên tái sản xuất máy móc, dạng khảo cổ học này có chủ đích chính trị sâu sắc. Nhưng chủ đích này lại ẩn sâu đến mức hầu hết mọi người, trong đó có các công chức của nhà nước thuộc địa (đến những năm 1930, 90 phần trăm công chức tại hầu hết các khu vực Đông Nam Á đều là người bản xứ), đều không ý thức được nó. Tất cả đều trở thành một thực tế bình thường và hàng ngày. Chính khả năng tái sản xuất vô tận và thường nhật các biểu tượng như thế đã làm phát lộ quyền lực thực sự của nhà nước.

Các nhà nước hậu độc lập đã cho thấy những tiếp nối rõ rệt với những tiền thân thuộc địa của chúng. Bởi vậy ta không quá ngạc nhiên khi chúng thừa hưởng dạng thức bảo tàng hóa (museumizing) có chủ đích chính trị này. Chẳng hạn, ngày 9 tháng mười một năm 1968, trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 15 năm Campuchia độc lập, Norodom Sihanouk đã cho bày tại sân vận động quốc gia Phnom Penh một mô hình lớn bằng gỗ và giấy bồi mô phỏng đền Bayon vĩ đại của Ankor.(58) Tuy rất thô kệch và đơn giản nhưng mô hình này vẫn đạt được mục đích của nó -người xem có thể nhận ra nó ngay lập tức nhờ một lịch sử biểu trưng hóa của kỷ nguyên thuộc địa. “A, Bayon của chúng ta” -họ cùng nhận ra -nhưng ký ức của họ về những người Pháp đã phục nguyên di tích này hoàn toàn bị gạt bỏ. Angkor Wat do người Pháp trùng tu, cũng bằng hình thức “ghép hình”, như tôi từng đề cập đến ở chương 9, đã trở thành một biểu tượng trung tâm trên quốc kỳ của chính quyền hoàng gia Sihanouk, chính quyền quân phiệt của Lon Nol và chính quyền khủng bố của Pol Pot.

Tuy nhiên điều khiến chúng ta chú ý hơn là những bằng chứng cho thấy sự kế thừa ở một cấp độ đại chúng hơn. Một ví dụ dễ thấy là hàng loạt tranh vẽ lấy chủ đề ở các sự kiện lịch sử dân tộc, được Bộ giáo dục Indonesia đặt hàng trong những năm 1950. Những bức tranh này được đem in hàng loạt và phân phát rộng rãi trong hệ thống các trường tiểu học; nhờ đó thanh niên Indonesia có thể nhìn thấy trên tường của lớp học - ở khắp mọi nơi - những biểu hiện thị giác về quá khứ dân tộc của họ. Hầu hết bối cảnh của những bức tranh này, như ta có thể dự đoán, được vẽ theo phong cách tình cảm - tự nhiên chủ nghĩa của nghệ thuật thương mại đầu thế kỷ XX, còn nhân vật của chúng được lấy từ tranh tầm sâu (diorama) của bảo tàng thời thuộc địa hoặc từ waang orang, một loại hình kịch dân gian giả lịch sử rất phổ biến tại Indo. Nhưng thú vị nhất trong loạt tranh vẽ này là những bức đem đến cho trẻ em một hiện thân của Borobudur. Trên thực tế, di tích khổng lồ này, với 504 bức tượng Phật, 1460 tấm phù điêu và 1212 phiến đá trang trí, là một kho báu kì diệu của nghệ thuật điêu khắc Java cổ đại. Song những họa sĩ danh tiếng lại tưởng tượng nên kỳ quan này của kỷ nguyên hoàng kim thế kỷ thứ IX bằng sự bất chấp đáng chú ý. Borobudur bị tô trắng hoàn toàn, khiến ta không thể nhìn thấy một dấu vết nào của điêu khắc. Bao quanh nó là những bãi cỏ được xén khéo léo, những con đường được trồng cây gọn gàng,và không hề có một bóng người.(59) Có người cho rằng sự vắng vẻ này phản ánh nỗi bất an của các họa sĩ Hồi giáo hiện đại khi phải đối mặt với một thực tế Phật giáo cổ xưa. Nhưng tôi ngờ rằng cái mà chúng ta thực sự nhìn thấy là một phái sinh trực tiếp và không tự giác của khảo cổ học thực dân: Borobudur như là biểu tượngcủa nhà nước và như là biểu trưng “hiển nhiên, chính nó”. Một Borobudur ngày càng quyền uy trong tư cách một ký hiệu của căn cước dân tộc bởi mỗi người đều ý thức được vị trí của nó trong một chuỗi bất tận các Borobudur giống hệt nhau.

 Như vậy, trong mối liên hệ qua lại, điều tra nhân khẩu, bản đồ và bảo tàng đều soi sáng phương thức tư duy của nhà nước thuộc địa hậu kỳ về lãnh thổ của nó. “Sợi dọc” của tư duy này là một mạng lưới phân loại tổng quát có thể áp dụng cực kỳ linh hoạt cho bất cứ thực tế nào đặt dưới sự kiểm soát thực sự hoặc được trù tính của nhà nước: cư dân, khu vực, tôn giáo, ngôn ngữ, sản phẩm, di tích v.v… Hiệu quả của mạng lưới này nằm ở chỗ nó luôn có thể nói về bất cứ thực tế nào là cái này mà không phải cái kia; thuộc về đây mà không phải thuộc về kia. Nó được phân giới, được xác định và vì vậy về nguyên tắc, có thể đo đếm. (Trong điều tra nhân khẩu phân loại và cận phân loại khôi hài, những ô được đề tên “Các tộc người khác” đã che dấu tất cả những hiện tượng bất thường của đời sống thực tế bằng một mánh lới quan liêu khéo léo). “Sợi ngang” là cái mà ta có thể gọi là sự đồng loạt hóa (serialization), tức giả định rằng thế giới được tạo thành từ nhiều sao bản. Cái ngoại lệ luôn được coi là đại diện tạm thời nằm trong một chuỗi đồng loạt và được xử lý từ góc độ này. Điều này giải thích tại sao nhà nước thuộc địa lại tưởng tượng ra hàng loạt người Trung Hoa trước khi hiện diện người Trung Hoa, hàng loạt nhà dân tộc chủ nghĩa trước khi họ xuất hiện.

 Không ai nghĩ ra một ẩn dụ xuất sắc cho khuôn khổ tư duy này hơn tiểu thuyết gia vĩ đại người Indonesia Pramoedya Ananta Toer. Ông đã đặt tên cho tập sách cuối cùng trong bộ bốn cuốn nói về thời kỳ thuộc địalà Rumah Kaca - Nhà Kính. Đây là một hình ảnh ẩn dụ cho khả năng giám sát toàn diện, có sức mạnh tương đương Panopticon (60) của Bentham. Bởi nhà nước thuộc địa không chỉ mong muốn tạo nên, dưới sự kiểm soát của nó, một cảnh quan dân chúng hoàn toàn nằm trong tầm quan sát; điều kiện cho “khả năng quan sát” này là bất cứ ai, bất cứ thứ gì đều (có thể nói như thế) là một con số trong dãy số.(61) Dạng thức tưởng tượng này không phải phát xuất từ hư không. Nó là sản phẩm của công nghệ hàng hải, thiên văn, đồng hồ, trắc địa, nhiếp ảnh và in ấn, chưa kể động lực mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản.

Bản đồ và điều tra nhân khẩu như vậy đã định hình nên những nguyên tắc cơ bản sẽ tạo điều kiện, vào một thời điểm nào đó, cho sự xuất hiện của “Miến Điện” và “người Miến Điện”, “Indonesia” và “người Indonesia”. Nhưng sự cụ thể hóa những khả thể này -những cụ thể hóa vẫn có đời sống quyền uy đến tận ngày nay, khi nhà nước thuộc địa đã biến mất từ lâu -có nguyên do chủ yếu từ phương thức tưởng tượng đặc biệt của nhà nước thuộc địa về lịch sử và quyền lực. Khảo cổ học là một lĩnh vực khó hình dung nổi ở Đông Nam Á thời kỳ tiền thực dân; nó được tiến hành ở nước Xiêm không bị thuộc địa khi trò chơi đã vãn và được thực hiện theo đường hướng của nhà nước thuộc địa. Nó tạo nên một chuỗi các “di tích cổ xưa” nằm phân tách bên trong phân ô “Đông Ấn Hà Lan” và “Miến Điện thuộc Anh” được phân loại và xác định về mặt địa lý - nhân khẩu. Được hình dung bên trong chuỗi thế tục này, mỗi một phế tích đều trở thành đối tượng giám sát và sao nhân bất tận. Khi sở khảo cổ của nhà nước thuộc địa tạo điều kiện về mặt công nghệ cho việc thu thập chuỗi các di tích này dưới hình thức bản đồ và ảnh chụp, bản thân nhà nước có thể coi chúng, theo thời gian lịch sử, là một bộ sưu tập những tổ tiên của nó. Điều quan trọng là sẽ không bao giờ có một Borodubur hay Pagan cụ thể, nhà nước không thực sự quan tâm đến chúng và chỉ duy trì những mối liên hệ về mặt khảo cổ. Tuy nhiên chuỗi những di tích có thể sao nhân này lại tạo nên một chiều sâu lịch sử(62 )dễ dàng được thừa hưởng bởi kẻ kế thừa hậu thực dân của nhà nước thuộc địa. Hệ quả logic cuối cùng là các biểu trưng -bất kể của “Pagan” hay “Philippines” -nhờ sự trống rỗng, thiếu bối cảnh, dễ hồi tưởng về mặt thị giác và khả năng tái sản xuất vô tận ở mỗi chiều hướng đã mang điều tra nhân khẩu và bản đồ, sợi dọc và sợi ngang, vào một gắn kết không thể xóa nổi.

 

                                                                             Lưu Ngọc An dịch

Nguồn: Benedict Anderson, “Census, Map, Museum”, Imagined communities: Reflections on the origin and spread of nationalism, Revited Edition, Verso, 2006, tr. 163-185.

Bản dịch có đối chiếu:1) Bản Trung văn:想像的共同體:民族主義的起源與散布,Ngô Duệ Nhân  吳叡人dịch, Thời báo văn hóa時報文化xuất bản, Đài Bắc, 2016, tr. 231-257; 2) Bản tiếng Nhật:想像の共同体: ナショナリズムの起源と流行, Shiraishi Takashi 白石隆và Shiraishi Saya 白石さやdịch,Shoseki Kōbō Hayama書籍工房早山xuất bản, Tokyo, 2007, tr. 274-310.

 

 


1 Xem chương 7, tr. 113-114.

2 Các khu định cư Eo biển (Straits Settlements): Nhóm các lãnh thổ của Anh trên bán đảo Malay, gồm bốn khu định cư riêng biệt nằm dọc theo eo biển Malacca: Malacca, Dinding, Penang và Singapore. Các khu định cư này được thành lập năm 1826, giải tán năm 1946. Ngoại trừ Singapore trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1965, các khu định cư còn lại nay đều thuộc Malaysia (ND).

3 Charles Hirschman, “Ý nghĩa và sự kiểm kê tộc người ở Malaysia: Một phân tích về những phân loại trong điều tra dân số” [The Meaning and Measurement of Ethnicity in Malaysia: An Analysis of Census Classifications], J. of Asian Studies, 46:3 (tháng 8, 1987), tr. 552-82; và “Kiến tạo chủng tộc ở Malaya thuộc địa: Kinh tế chính trị và ý thức hệ chủng tộc” [The Making of Race in Colonial Malaya: Political Economy and Racial Ideology], Sociological Forum, 1:2 (Xuân 1986), tr. 330-62.

4 Charles Hirschman đã đưa nguyên xi (sao lại) các báo cáo gốc về nhân khẩu vào hai phụ lục tham khảo nằm cuối tiểu luận của ông. Mỗi bản sao là thông tin về nhân khẩu từng năm, trong đó tiêu đề, chính tả và trật tự các phạm trù được giữ nguyên theo các tư liệu gốc. Xem Charles Hirschman, “Ý nghĩa và sự kiểm kê tộc người”, tr. 371-78 (ND).

5 Sự đa dạngđến ngạc nhiêncủa “người châu Âu” đã được kiểm kê trong suốt kỷ nguyên thực dân. Tuy nhiên,nếu như năm 1881 họ vẫn được phânloại thành banhóm chính là “cư dân”, “lưu dân”và “tù nhân”, thì vào năm 1911 họđãbị gộp chung trong tư cách thành viên của một chủng tộc (da trắng). Điều thú vị là cho đến cuối thời kỳ thực dânnhững nhà điều tra dân số vẫn rất băn khoăn về việc nên xếpnhững người mà họ ghi là “người Do Thái”vào đâu.

6 Người Kling: Chỉ chung di dân gốc Ấn cư trú ở Malaya thuộc Anh và Đông Ấn Hà Lan (ND).

7 Nguyên văn “Parsees” (người Parsee) -Tộc người cư trú chủ yếu ở Ấn Độ, thờ Bái hỏa giáo (Zoroastrianism) (ND).

8 Người Sikh: Các tín đồ của đạo Sikh (Sikhism), cư trú ở tây bắc lục địa Ấn Độ. “Người Sikh” chủ yếu chỉ tín đồ của một tôn giáo hơn là chỉ một cộng đồng sắc tộc (ND).

9 Người Malayali: Tộc người cư trú ở Kerala, tây nam Ấn Độ. Người Telegu: Tộc người cư trú ở miền trung Ấn Độ (ND).

10 Các nhà nước Liên bang Malay (The Federated Malay States): Liên bang bốn nhà nước đặt dưới sự bảo hộ của Anh tại bán đảo Malay (gồm Selangor, Perak, Negeri Sembilan và Pahang), được thành lập năm 1895, giải thể năm 1946. Trái ngược với bốn nhà nước này là Các nhà nước Malay Phi liên bang (Unfederated Malay States) cũng được đặt dưới sự bảo hộ của Anh nhưng tồn tại riêng lẻ trên bán đảo Malay. Các nhà nước liên bang và phi liên bang này, cùng với Các khu định cư Eo biển, tạo nên lãnh thổ Malaya thuộc Anh (ND).

11 Tức không chấp nhận những phân số (fraction) trong trường hợp hỗn huyết, chẳng hạn ½ Malay -  ½ Hoa, ¼ Malay -¾ Hoa ... Các nhà điều tra nhân khẩu chỉ có thể quy những người hỗn huyết hoặc về “người Malay” hoặc về “người Hoa” (ND).

12 William Henry Scott, Những vết nứt trên bức mànhda[Cracksin the Parchment Curtain],chương 7, “Cơ cấu giai cấp Philippines trong thế kỷ XVI”[Filipino Class Structure in the Sixteenth Century].

13 Felipe Đệ nhị: Vua Tây Ban Nha từ 1556 đến 1598, đồng thời cũng là Vua Bồ Đào Nha từ 1581 đến 1598, Vua Anh và Ireland từ 1554 đến 1558 và là người cai trị Mười bảy tỉnh Hà Lan (Seventeen Provences) từ 1555. Trong thời gian Felipe Đệ nhị trị vì, Tây Ban Nha bước vào kỷ nguyên hoàng kim của một thế lực đế chế hàng đầu thế giới (ND).

14 Trong nửa đầu thế kỷ XVII, các khu định cư của người Tây Ban Nha trên quần đảo này liên tục đụng phải các cuộc tấn công bằng vũ lực của Công ty Đông Ấn Hà Lan, công ty “xuyên quốc gia” lớn nhất vào kỷ nguyên đó. Tuy nhiên nhờ vai trò của Quan bảo hộ dị giáo đứng đầu [tức Felipe Đệ nhị – ND], người đã dồn Amsterdam vào chân tường trong thời gian dài trị vì, các di dân Thiên chúa sùng đạo của những khu định cư này vẫn tồn tại được. Nếu Công ty Đông Ấn Hà Lan thành công thì Manila chứ không phải Batavia [Jakarta] mới trở thành trung tâm của đế chế “Hà Lan” ở Đông Nam Á. Năm 1762, London giành được Manila từ tay Tây Ban Nha và chiếm giữ trong gần hai năm. Điều thú vị là Madrid chỉ lấy lại được Manila bằng cách nhượng cho Anh, trong số nhiều thuộc địa, Florida và các thuộc địa “Tây Ban Nha” khác ở phía đông Mississippi. Nếu các thỏa thuận tiến triển khác đi, có thể quần đảo này sẽ có liên hệ về mặt chính trị với Malaya và Singapore trong thế kỷ XIX. [Quan bảo hộ dị giáo (heretical Protector): Bản tiếng Trung chú là Oliver Cromwell, bản tiếng Nhật chú là Felipe Đệ nhị. Căn cứ vào thời gian dài Felipe Đệ nhị trị vì Mười bảy tỉnh Hà Lan và chủ trương của ông trong việc bảo vệ các cộng đồng Thiên chúa giáo, nhân vật đang được nhắc đến ở đây phải là Felipe Đệ nhị -ND].

15 Nguyên văn “grid” -mạng lưới/hệ thống đường dây điện để truyền tải điện năng cho một khu vực. Ở đây “grid” ám chỉ cơ chế phân loại và hệ thống tầng bậc xã hội được hình thành dựa trên các phạm trù đẳng cấp nhất định (ND).

16 Nguyên văn “poops of Spanish galleons” -Trong thiết kế của các thương thuyền trước đây, “poop” là phần cao nhất nằm ở đuôi thuyền, nơi đặt buồng lái và một sàn thuyền (poop deck) trên mái dùng để quan sát hải trình, buồm và thủy thủ đoàn (ND).

17 Mason C. Hoadley, “Nhà nước đối với Ki Aria Marta Ningrat (1696) và Tian Siangko (1720-1721)” [State vs. Ki Aria Marta Ningrat (1696) and Tian Siangko (1720-1721)] (chưa xuất bản, 1982).

18 Nguyên văn “an endless series of Chinezen” (Một chuỗi bất tận những người Trung Hoa), “an endless series of hidalgos” (Một chuỗi bất tận các quý tộc). Ở đây khái niệm “series” (chuỗi, loạt, dãy) được tác giả, như ông trình bày ở một số chỗ dưới đây, đặc biệt là phần kết của chương, hiểu là một tập hợp của nhiều cá thế giống nhau. Trong “chuỗi” không chấp nhận cái biệt lệ, khác thường, đa dạng, chỉ chấp nhận cái tương đồng, nhất loạt, được áp đặt bởi một thứ tư duy mà ông gọi là “serialization”, có thể dịch là “chuỗi hóa”, “đồng loạt hóa”. Dưới sự quy định của tư duy này, mỗi cá thể giống như một con số (digit) trong dãy số, có thể thay thế nhau và trở thành bản sao của nhau (ND).

19 Tham khảo Edgar Wickberg, NgườiHoatrong đời sống Philippines, 1850-1898[The Chinese in Philippine life, 1850-1898],chương 1 và 2.

20 Trong hơn hai thế kỷ, Manila là trung tâm của mậu dịch thương thuyền -đổi bạc Mexico lấy lụa và sứ Trung Hoa.

21 Xem chương 7 của sách (tr. 125) -đề cập đến cuộc đấu tranh của chủ nghĩa thực dân Pháp nhằm cắt đứt mối liên hệ lâu đời giữa Phật giáo Campuchia với Xiêm.

22 Xem William Roff, Những nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc Malay [The Origins of Malay Nationalism],tr. 72–4.

23 Jiddah: Thành phố cảng nằm bên bờ biển Đỏ của Ả rập Xê út, cửa ngõ vào Mecca (ND).

24 Xem Harry J. Benda, Trăng non và mặt trời mọc [The Crescent and the Rising Sun], chương 1-2.

25 Gerardus Mercator (1512-1594): Nhà bản đồ học người Hà Lan. Năm 1569 ông đã vẽ thành công bản đồ thế giới trên mặt phẳng bằng cách sử dụng một phép chiếu mới cho phép chuyển từ hình cầu (trái đất) sang mặt phẳng bản đồ, theo đó các vĩ tuyến và kinh tuyến được biến đổi thành các đường thẳng cắt nhau thành góc vuông (ND).

26 Thongchai Winichakul, “Nước Xiêm được kiến tạo trên bản đồ: Một lịch sử địa thể Xiêm” [Siam Mapped: A History of the Geo-Body of Siam], (Luận án tiến sĩ, Đại học Sydney, 1988).

2Đức vua và Tôi(The King and I): Vở nhạc kịch được công diễn vào năm 1951, do Richard Rodgers và Oscar Hammerstein dàn dựng dựa trên cốt truyện của Anna và Vua Xiêm [Anna and the King of Siam], tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Margaret Landon (1903-1993), xuất bản vào năm 1944 (ND).

28 Bản đồ mắt chim (bird’s-eye view): Bản đồ lấy tầm nhìn từ bên trên, bao quát đối tượng phía dưới. Điểm nhìn thường được đặt ở các vị trí cao (núi, tháp, cửa sổ máy bay) để lấy được toàn cảnh đối tượng quan sát (ND).

29 Richard Muir, Địa lý chính trị hiện đại [Modern Political Geography], tr. 119.

30 Thongchai, “Nước Xiêm được kiến tạo trên bản đồ”, tr. 105-10, 286.

31 Một phân tích chi tiết các khái niệm quyền lực cổ xưa ở Java (Ngoại trừ những khác biệt nhỏ, về cơ bản chúng đều tương ứng với những khái niệm quyền lực ở nước Xiêm thời trung đại), xem công trình của tôi Ngôn ngữ và quyền lực, chương 1.

32 Thongchai, “Nước Xiêm được kiến tạo trên bản đồ”, tr. 110.

33 David S. Lander, Cuộc cách mạng thời gian: Đồng hồ và sự kiến tạo thế giới hiện đại[Revolution in Time: Clocks and the Making of the Modern World], chương 9.

34 Nguyên văn “triangulation by triangulation” - mỗi một lần [quan trắc bằng] đạc tam giác. Đạc tam giác (triangulation) là quá trình xác định một điểm bằng cách đo khoảng cách giữa hai điểm cho trước và đo hai góc từ các điểm cho trước này đến điểm cần xác định. Phương pháp này được dùng phổ biến trong hình học, hàng hải, thiên văn, đặc biệt là trắc địa (surveying) (ND).

35 “Nước Xiêm được kiến tạo trên bản đồ”, tr. 310.

36 Trong khoa học, thuật ngữ “đạc tam giác” (triangulation) thường chỉ việc dùng các nguồn tư liệu, các lý thuyết, đặc biệt từ các phương pháp khác nhau để nghiên cứu cùng một đối tượng nào đó, giống như việc xác định một điểm chưa biết dựa trên hai điểm đã biết trong phép đạc tam giác (ND).

37 Ở đây tôi không chỉ nói đến việc kế thừa và bán điền sản cá nhân theo nghĩa thông thường. Điều quan trọng hơn là châu Âu thường diễn ra các vụ chuyển nhượng đất đai (kèm theo cư dân) có mục đích chính trị, thông qua những cuộc hôn nhân của vương triều. Các công chúa khi kết hôn cũng mang đến cho chồng lãnh địa công tước và các công quốc nhỏ; và những chuyển nhượng này được thỏa thuận và “ký kết” một cách chính thức. Khẩu hiệu Bella gerant alii, tu, felix Austria, nube! [Hãy để kẻ khác gây chiến, còn ngươi, nước Áo hạnh phúc, hãy cưới nhau đi] sẽ không thể tưởng tượng được trong các nhà nước châu Á thời kỳ tiền thực dân.

38 Về sự hấp thu dạng thức tưởng tượng này của tầng lớp cầm quyền Thái, xem Thongchai, “Nước Xiêm được kiến tạo trên bản đồ”, tr. 387. “Hơn nữa theo những bản đồ lịch sử này, địa thể (geobody) không phải là một đặc tính của thời hiện đại mà phải lần về hơn một ngàn năm trước. Các bản đồ lịch sử bởi vậy giúp bác bỏ những giả định nào cho rằng dân tộc chỉ xuất hiện trong quá khứ gần và ngăn chặn những quan điểm cho rằng nước Xiêm hiện đại là một sản phẩm lịch sử không liên tục. Chúng cũng bác bỏ những quan điểm coi mối quan hệ với các cường quốc châu Âu là nguyên do tạo nên Xiêm”.

39 Việc sử dụng những tự sự này không phải là một thủ đoạn mánh lới. Tại tất cả các thuộc địa Đông Nam Á, các nhà dân tộc chủ nghĩa sơ kỳ, về mặt nhận thức, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc “mô thức”của nhà nước thuộc địa cũng như các thiết chế của nó. Xem chương 7 của sách.

40 Trong những tác phẩm của Nick Joaquín, một nhà văn xuất sắc hiện nay của Philippines -đồng thời cũng là một nhà ái quốc không thể nghi ngờ -ta có thể thấy biểu tượng này đã tác động mạnh mẽ như thế nào đến những đầu óc phức tạp nhất. Đề cập đến tướng Antonio Luna, người anh hùng bi kịch trong cuộc đấu tranh chống Mỹ giai đoạn 1898-1899, Joaquín viết rằng ông nhanh chóng “đóng một vai trò đã thành bản năng của di dân châu Âu trong ba thế kỷ: bảo vệ hình trạng Philippines khỏi sự xâm phạm của các thế lực ngoại quốc”. Một vấn đề của những người anh hùng [A Question of Heroes], tr. 164 (In nghiêng của tác giả). Điều ngạc nhiên là ở chỗ khác, ông cũng nhận thấy “những đồng minh, những nhà cải đạo và lính đánh thuê người Philippines của Tây Ban Nha được phái đi để chống lại những cuộc nổi dậy của người Philippines lại có thể giữ cho quần đảo này tiếp tục thuộc về Tây Ban Nha và Thiên chúa giáo, nhưng họ cũng giữ cho quần đảo khỏi tan rã”; và rằng họ “đang đấu tranh (bất chấp mọi ý đồ của người Tây Ban Nha) để duy trì sự thống nhất của người Philippines”. Sđd, tr. 58.

41 Khoảng trắng (“white space”): Một hình ảnh xuất hiện trong đoạn đầu tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối[Heart of Darkness] của Joseph Konrad. Marlow, nhân vật chính, hồi nhỏ say mê các tấm bản đồ, có thể bỏ ra hàng giờ đồng hồ để ngắm các “khoảng trắng” trên bản đồ -những vùng đất xa xôi, hoang vắng, chưa khai thác mà Marlow mơ ước được đặt chân tới. Nhưng khi lớn lên Marlow nhận ra các khoảng trắng ngày càng trở thành những nơi tăm tối (space of darkness) do sự khai thác, xâm phạm của con người, đặc biệt là các thế lực thực dân phương Tây nhờ ưu thế của khoa học, công nghệ. “Khoảng trắng” bởi vậy biểu thị các không gian xa cách, chưa bị thực dân hóa; chúng ngày càng thu nhỏ do sự xâm phạm của chủ nghĩa thực dân. Liên hệ với thói quen tô màu trên bản đồ đế chế mà tác giả đề cập ở trên, các “khoảng trắng” chính là những vùng đất chưa bị thực dân đánh dấu bằng màu sắc trên bản đồ (ND).

42 Nguyên văn “remained Conrad-white” - vẫn hoang sơ như các “khoảng trắng” mà Conrad mô tả, tức chưa có sự xâm nhập của người da trắng (ND).

43 Xem Robin Osborne, Chiến tranh bí mật của Indonesia: Đấu tranh du kích ở Irian Java [Indonesia’s Secret War: The Guerrila Struggle in Irian Java], tr. 8-9.

44 Liên bang Indonesia: Tên đầy đủ là Cộng hòa Liên bang Indonesia (The Republic of the United States of Indonesia), nhà nước liên bang tồn tại từ tháng 12 năm 1949 đến tháng 8 năm 1950. Đây là nhà nước Hà Lan chuyển tiếp cho Indonesia, kết quả của bốn năm đấu tranh giành độc lập của Indonesia (1945-1949) và một hội nghị bàn tròn Hà Lan -Indo diễn ra vào tháng 8 và tháng 9 năm 1949 tại La Hay. Do những nỗ lực từ phía La Hay, Tây New Guinea vẫn thuộc quyền kiểm soát của Hà Lan cho đến 1963 (ND).

45 Kể từ 1963 nhiều sự kiện đẫm máu đã diễn ra ở Tây New Guinea (nay được gọi là Irian Java - Đại Irian) mà nguyên nhân nằm một phần ở chính sách quân sự hóa của nhà nước Indonesia từ sau 1965, một phần ở các hoạt động du kích có lúc hiệu quả của cái gọi là OPM (Tổ chức Papua Tự do). Song những hành động tàn bạo này không là gì so với tội ác của Jakarta ở Đông Timor, thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha. Theo ước tính, trong ba năm đầu sau cuộc xâm lược 1976 của Indo, một phần ba trong số 600.000 cư dân Đông Timorđãbị chết vì chiến tranh, đói ăn, bệnh tật và “tái định cư”. Theo tôi, sẽ không sai khi cho rằng sự khác nhau này bắt nguồn một phần từ sự vắng mặt của Đông Timor trên biểu trưng [tức bản đồ biểu trưng - ND] của Đông Ấn Hà Lan cũng như biểu trưng của Indonesia trước 1976.

46 Osborne, Chiến tranh bí mật của Indonesia, tr. 2.

47 Xem chương 6 của sách, tr. 110.

48 Biểu hiện rõ nhất điều này là tên của tổ chức du kích dân tộc chủ nghĩa chống Indonesia, Organisasi Papua Merdeka (OPM, Tổ chức Papua Tự do), được đặt theo tiếng Indonesia.

49 Arnold Ap (1946-1984): Nhà nhân chủng học, lãnh tụ văn hóa Tây New Guinea, giám tuyển Bảo tàng Đại học Cenderawasih (thuộc tỉnh Papua, Tây New Guinea), nổi tiếng với các nghiên cứu và các hoạt động trình diễn liên quan đến văn hóa Tây New Guinea, đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc. Lo ngại ảnh hưởng ngày một lớn của Ap đối với chủ nghĩa dân tộc Tây New Guinea, chính quyền Indo đã bắt giam Ap vào năm 1983 và sát hại ông, bằng một phát súng vào lưng, không đầy một năm sau đó (ND).

50 William Jones (1746-1794): Nhà ngữ văn học người Anh, thẩm phán Tòa án tối cao Anh tại Calcutta (thủ phủ Ấn Độ thuộc Anh trước 1911) từ 1783 đến 1794. William Jones là một học giả chuyên về Ấn Độ cổ đại, đặc biệt nổi tiếng với những nghiên cứu về mối quan hệ giữa các ngôn ngữ Ấn - Âu (ND).

51 Năm 1811, quân đội của Công ty Đông Ấn Anh đã giành được toàn bộ thuộc địa Hà Lan ở Đông Ấn (Napoléonđã sát nhập Hà Lan vào Pháp trước đó một năm). Raffles cai trị ở Java đến 1815. Công trình bất hủ của ông Lịch sử Java [History of Java] được xuất bản vào năm 1817, hai năm trước khi ông thành lập Singapore.

52 Việc bảo tàng hóa Borobudur, quần thể tháp Phật giáo lớn nhất thế giới, là một ví dụ tiêu biểu cho quá trình này. Năm 1814, chính quyền Raffles đã “phát hiện” ra nó và khai quật nó từ trong rừng sâu. Năm 1845, nghệ sĩ, nhà thám hiểm người Đức Schaefer -một người biếtcách tự quảng cáo -đã thuyết phục các nhà đương cục Hà Lan ở Batavia chi tiền để ông tiến hành chụp những bức ảnh đầu tiên bằng phương pháp Daguerre. Năm 1851, Batavia cử một nhóm viên chức nhà nước do kĩ sư công chính F.C. Wilsen dẫn đầu tiến hành một điều tra mang tính hệ thống các bức phù điêu của Borodudur và xây dựng một bộ thạch bản hoàn chỉnh và “khoa học”. Năm 1874, Tiến sĩ C. Leemans, Giám đốc Bảo tàng Cổ vật ở Leiden, đã xuất bản, theo chỉ đạo của Bộ Thuộc địa, chuyên luận khoa học quan trọng đầu tiên về Borobudur; ông dựa chủ yếu vào các thạch bản của Wilsen vì chưa từng thăm di chỉ này. Trong những năm 1880, nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp Cephas đã tiến hành một điều tra ảnh chi tiết bằng phương pháp hiện đại. Năm 1901 chính quyền thực dânđã thành lập một Ủy ban Khảo cổ (Oudheidkundige Commissie). Từ 1907 đến 1911, nhờ sự tài trợ kinh phí của nhà nước, Ủy ban này đã giám sát quá trình phục nguyênhoàn chỉnh các bảo tháp do một tổ công tác tiến hành dưới sự chỉ đạo của kĩ sư công chính Van Erp. Rõ ràng để ghi nhận sự thành công này, chính quyền đã nâng Ủy ban, vào năm 1913, thành Sở Khảo cổ (Oudheidkundigen Dienst). Cơ quan này đã duy tu cẩn thận di tích Borobudur cho đến cuối thời kỳ thực dân. Xem C. Leemans, Borobudur [Boro-Boudour], tr.ii-lv; và N.J. Krom, Dẫn nhập nghệ thuật Hindu-Java[Inleiding tot de Hindoe-Javaansche Kunst], I, chương 1.

53 Phó vương Curzon (1899-1905), một người yêu thích cổ vật, Groslier viết, người “truyền cảm hứng” cho Sở Khảo cổ Ấn Độ(Archaeological Survey of India), đã nói về điều này một cách ấn tượng: “khai quật và phát hiện, phân loại, phục chế và mô tả, sao chép và giải mã, coi trọng và bảo tồn... tất cả đều là bổn phận của chúng ta”.(Foucault hẳn cũng không thể nói hay hơn). Năm 1899, Sở Khảo cổ Miến Điện (Archaeological Department of Burma) -khi đó là một phần của Ấn Độ thuộc Anh -được thành lập và nhanh chóng bắt tay vào phục dựng Pagan. Trước đó một năm, Viện Viễn đông Bác cổ được thiết lập tại Sài Gòn, gần như đồng thời với sự ra đời của một Ban quản lý Bảo tàng và Di tích Lịch sử Đông Dương (Directorate of Museums and Historical Monuments of Indochina). Ngay sau khi Pháp giành được Siemreap và Battambang từ tay Xiêm vào năm 1907, một Ủy ban Bảo vệ Angkor (Angkor Conservancy) được thiết lập nhằm nghiên cứu và bảo tồn các di tích cổ vĩ đại nhất của Đông Nam Á. Xem Bernard Philippe Groslier, Đông Dương [Indochina], tr. 155-7, 174-7. Như đã đề cập ở trên, Ủy ban Khảo cổ của Đông Ấn Hà Lan được thành lập vào năm 1901. Sự trùng khớp của các thời điểm -1899, 1898, 1901 -  không chỉ cho thấy sự quan sát nhau nhạy bén giữa các thế lực thực dân đối đầu mà còn cho thấy những thay đổi lớn đang diễn ra bên trong chủ nghĩa đế quốc vào bước chuyển của thế kỷ. Đúng như dự đoán, nước Xiêm độc lập đã đi theo xu thế khu vực chậm hơn. Sở Khảo cổ của Xiêm phải đến 1924 mới được thành lập, còn Bảo tàng Quốc gia Xiêm phải đến 1926. Xem Charles Higham, Khảo cổ học Đông Nam Á lục địa [The Archaeology of Mainland Southeast Asea], tr.25.

54 Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) bị đóng cửa do phá sản vào năm 1799. Tuy nhiên sự thành lập thuộc địa Đông Ấn Hà Lan phải tính từ năm 1815, thời điểm nền độc lập của Hà Lan được Liên minh Thần thánh khôi phục và Willem I của Nhà Orange được đặt vào ngai vàng Hà Lan (ngai vàng này được Napoléon và người em độ lượng Louis lập ra đầu tiên vào năm 1806). Công ty Đông Ấn Anh vẫn tiếp tục tồn tại đến Binh biến Ấn Độ 1857.

55 Thành lập Ủy ban Khảo cổ cũng là chính quyền (vào năm 1901) từng phát động “Chính sách Luân lý” mới dành cho quần đảo Đông Ấn, một chính sách lần đầu tiên có mục đích thiết lập một hệ thống giáo dục phương Tây cho đông đảo cư dân thuộc địa. Cùng với việc xây dựng bộ máy giáo dục hiện đại, Toàn quyền Paul Doumer (1897-1902) đã thành lập một Ban quản lý Bảo tàng và Di tích Lịch sử Đông Dương. Ở Miến Điện, giáo dục cao đẳng bắt đầu mở rộng trên quy mô lớn – từ1900 đến 1940 số lượng học sinh trung học tăng tám lần, từ 27.401 lên 233.543 người, số lượng sinh viên đại học tăng 20 lần, từ 115 lên 2365 người - cùng thời điểm Sở Khảo cổ Miến Điện đi vào hoạt động. Xem Robert H. Taylor, Nhà nước ở Miến Điện [The State in Burma], tr. 114.

56 Chịu ảnh hưởng một phần từ kiểu tư duy này, đội ngũ trí thức, chuyên gia khảo cổ và quan chức Thái thủ cựu ngày nay vẫn khăng khăng cho rằng kiến thiết nên Angkor là những người Khom huyền thoại. Nhưng người Khom đã biến mất mà không để lại dấu vết nào và dĩ nhiên họ không hề có liên hệ với những người Campuchia bị coi thường hiện tại.

57 Một ví dụ tiêu biểu nhưng xuất hiện muộn là công trình Nghệ thuật Indonesia cổ đại [Ancient Indonesian Art] của học giả Hà Lan A.J. Bernet Kempers, người tự nhận là “cựu Giám đốc Khảo cổ tại Indonesia [nguyên văn]”. Ở trang 24 và 25 của sách chúng ta tìm thấy các bản đồ chỉ vị trí các di chỉ cổ. Bản đồ thứ nhất đặc biệt đáng chú ý, bởi hình dạng chữ nhật của nó (phía đông được phân định bởi kinh tuyến 141) dù muốn hay không cũng bao hàm đảo Mindanao của Philippines, bắc Borneo của Malay thuộc Anh, Malaya bán đảo và Singapore. Bản đồ này không hề chỉ các vị trí di tích và thực tế không đánh dấu một địa danh nào, ngoại trừ cái tên duy nhất không rõ nguồn gốc “Kedah”. Sự dịch chuyển từ Hindu giáo - Phật giáo sang Hồi giáo bắt đầu từ bản đồ 340.

58 Có thể xem một số bức ảnh sinh động về mô hình này trong Kambuja, 45 (15 tháng 12, 1968).

59 Thảo luận này dựa trên những tư liệu được phân tích đầy đủ hơn trong Ngôn ngữ và Quyền lực, chương 5.

60 Panopticon: Một kiểu nhà tù tháp tròn do triết gia người Anh Jeremy Bentham (1748-1832) thiết kế, trong đó các buồng giam được bố trí theo hình tròn, ở giữa đặt một gác canh để giám sát tù nhân. Nhà tù này được thiết kế sao cho lính canh có thể quan sát được tất cả tù nhân nhưng tù nhân lại không thể biết mình bị quan sát, vì vậy ngay cả khi không có lính canh trong gác tù nhân vẫn bị đặt trong cảm giác bị theo dõi (ND).

61 Một hệ quả tiêu biểu về mặt chính sách của những tưởng tượng Nhà Kính - một hệ quả mà cựu tù chính trị Pramoedya từng cay đắng nhận ra - là thẻ căn cước phân loại mà toàn bộ công dân Indonesia đến tuổi trưởng thành luôn phải mang theo ngày nay. Thẻ căn cước này giống như điều tra nhân khẩu - nó biểu thị một dạng điều tra nhân khẩu về mặt chính trị, với những dấu hiệu đặc biệt dành cho những đối tượng bị liệt vào phần tử “lật đổ” và “phản bội”. Điều đáng chú ýlàdạng thức điều tra nhân khẩu này chỉ hoàn thiện sau khi Indonesia giành được độc lập dân tộc.

62 Nguyên văn “historical depth of field”: “Depth of field” (độ sâu của trường) là thuật ngữ nhiếp ảnh, chỉ vùng khoảng cách trong không gian mà mọi vật thể thuộc về nó đều hiện ra rõ nét trên ảnh. Ở đây tác giả ám chỉ chiều sâu lịch sử. Bản tiếng Nhật dịch là “chiều sâu lịch sử của trường”, bản tiếng Trung dịch là “trường vực có chiều sâu lịch sử” (ND).