Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

"Dung nạp và khai phóng" hay "Giải phóng tiềm năng con người"

Hơn bao giờ hết, quốc gia dân tộc Việt Nam đang đứng trước những thách thức vô cùng lớn trên con đường phát triển. Những tháng ngày này, theo kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam về góp ý cho dự thảo văn kiên Đại hội lần thứ XII của Đảng, trên các diễn đàn, mọi người đang sôi nổi thảo luận, từ việc nhận thức con đường phát triển đến các hành động, giải pháp cụ thể. Trên tinh thần đó, tạp chí VHNA đã có cuộc trao đổi với các tiến sỹ Hoàng văn Luận và Trịnh Văn Định đến từ Đại học Quốc gia Hà Nội về triết lý phát triển của đất nước. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

 Phan Thắng:Thưa các ông, các ông quan niệm thế nào là một quốc gia phát triển hay một quốc gia kém phát triển?Có quốc gia nào có thể nói là không phát triển không?

TS. Hoàng Văn Luân: Theo tôi biết, từ trước đến nay đã có khá nhiều quan niệm và cách khác nhau để xác định về trình độ phát triển của một quốc gia. Một cách truyền thống, người ta căn cứ vào thu nhập bình quân đầu người (GDP) và sau đó là chỉ số phát triển con người (HDI), v.v.. đề đánh giá các quốc gia phát triển và đang phát triển. “Quốc gia đang phát triển” là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả các quốc gia chưa đạt trình độ của các quốc gia phát triển. Do đó, nó bao gồm cả các quốc gia kém phát triển hay chậm phát triển. Nhưng, suy cho cùng, GDP, HDI, v.v.. chỉ là kết quả hay đầu ra của phát triển. Nên gần đây, các chuyên gia tiếp cận đến những căn nguyên sâu xa hơn: Chỉ số cạnh tranh toàn cầu[1] (Global Competitiveness Index – GCI) với 9 trụ cột, trong đó tôi cho rằng trụ cột “Thể chế” rất quan trọng. Nó, thậm chí, quyết định các trụ cột khác, chẳng hạn trụ cột “Đổi mới và sáng tạo”.

TS. Trịnh Văn Định: Vượt qua tất cả các chỉ số về kinh tế, văn hóa, đẳng cấp, giầu có về vật chất….còn có một quan niệm, hay cũng có thể nói là định nghĩa ấn tượng nhất rằng: Phát triển là quyền tự do (Amartya Sen).

Phan Thắng:Tại sao tương đồng về các điều kiện tự nhiên, và cơ sở xã hội tại cùng một thời điểm nhưng có quốc gia, khu vực phát triển rất tốt, nhanh, bền vững đồng thời lại có những quốc gia khu vực kém phát triển?

TS. Hoàng Văn Luân: Đây là một vấn đề không mới và phần lớn giới nghiên cứu trên thế giới lâu nay đều thống nhất câu trả lời là thể chế. Thể chế, một cách gắn gọn là “luật chơi” của một trật tự xã hội. Trong cuốn sách  Vì sao các quốc gia thất bại – Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng, và nghèo khó (Why Nations Fail – The Origins Of Power, Prosperity, and Poverty), Daron Acemoglu và Jemes A. Robinson đã viện dẫn đến sự phát triển hai miền Nam và Bắc của bán đảo Triều tiên như là bằng chứng.

Không có thể chế, xã hội sẽ loạn vì sự tùy tiện trong hành vi của cá nhân, tổ chức. Sự hiện diện của thể chế tạo ra quy luật của hành vi (Friedrich Hayek[2]). Nhưng vấn đề quan trọng không phải là thể chế mạnh hay yếu mà là giải được bài toán giữa “tự do” và ‘tất yếu” trong một bối cảnh xã hội cụ thể để vừa tránh được tình trạng tùy tiện, phóng túng vừa kích thích tính năng động, sáng tạo của cá nhân và các tổ chức.

Phan Thắng:Có hay không nguyên nhân đến từ vai trò của triết lý phát triển của mỗi quốc gia?

TS. Hoàng Văn Luân: Giải bài toán giữa “tự do” và ‘tất yếu” là câu chuyện của triết học, triết lý tự ngàn xưa. Mặc dù vậy, nó luôn mới vì chân lý là cụ thể trong một “không – thời gian” nhất định.

Mỗi quốc gia, dù công khai hay không, đều có chủ thuyết, hay triết lý phát triển. Nó tạo tầm nhìn, định hướng và nhất quán hóa mọi đường lối, chính sách và hành động của quốc gia đó. Nói gì thì nói nhưng, Triết học Mác mặc dù được “du nhập” nhưng đã trở thành chủ thuyết của cách mạng Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Tính chân lý của Triết học Mác trong không – thời gian ấy là không thể phủ nhận. 

TS. Trịnh Văn Định: Như trên tôi đã dẫn hình ảnh về hai miền Triều Tiên và Hàn Quốc. Hàn Quốc hướng đến nền dân chủ, dân có quyền tự do, và triệt để dân chủ hóa sau giai đoạn độc tài. Rõ ràng, cần khẳng định triết lý phát triển của mỗi quốc gia có vai trò số 1.

Phan Thắng: Triết lý phát triển là gì? Triết lý phát triển quốc gia là gì, theo quan niệm của các ông?

TS. Hoàng Văn Luân:Triết lý phát triển là chủ thuyết triết học hoặc ít nhất là có tính triết học, là lõi (core) của mục đích sống, phương thức tư duy, là nếp nghĩ của cộng đồng dân cư, dân tộc ở một vùng lãnh thổ cụ thể. Nó tạo ra nét độc đáo của mỗi dân tộc, quốc gia và do đó, tạo thành những “mảng mầu” không thể thiếu trong bức tranh đa dạng của văn hóa nhân loại.

Pragmatism (thường được dịch là Chủ nghĩa thực dụng, mặc dù tôi không thích dịch ngữ này) và Instrumentalism (Chủ nghĩa công cụ) là các học thuyết khác nhau nhưng nhất quán với triết lý: Hài lòng, thỏa mãn là thước đo trình độ phát triển của con người. Thế giới hiện tồn là thực nhưng cần phải được thay đổi để ngày càng thoả mãn tốt hơn những ham muốn, nhu cầu của con người. Do đó, con người phải hành động. Không hành động đồng nghĩa với chết. Hành động quan trọng hơn hiện tồn. Mục đích nằm ở tương lai nên các phương tiện, công cụ cần phải được quan tâm ngay ở hiện tại, thậm chí, quan trọng hơn mục đích. Đạo đức nghề nghiệp là tạo ra phương tiện, công cụ ngày càng nhiều hơn và tốt hơn.

Triết lý phát triển không chỉ nằm trong những cuốn sách được đóng bìa da mà thấm nhuần trong đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng của quốc gia. 

TS. Trịnh Văn Định: Gọi triết lý nghe có vẻ hàn lâm và trừu tượng, thực chất nó là một con đường của mỗi quốc gia, họ muốn trở thành đất nước như thế nào, họ cần làm gì ở những giai đoạn cụ thể, ở đó họ đề ra và phấn đấu đạt mục tiêu gì? Và họ làm thế nào, chơi với ai, cách thức như thế nào để có thể đạt được những khát vọng và mục tiêu đề ra.

Phan Thắng: Từ thực tiễn, các ông có thể cho những dẫn chứng về vai trò của triết lý phát triển quốc gia? Triết lý phát triển của Ixrael và Singapor là gì? (Israel và Singapore)

TS. Hoàng Văn Luân:  Khó có thể nói mà không có khảo cứu và càng khó có thể nói ngắn gọn trong một trang giấy. Theo tiếp cận triết lý phát triển như trên và cũng theo Jonathan London, đây không phải là câu chuyện của lý thuyết mà là câu truyện của thực tiễn xã hội.  Một hướng dẫn viên du lịch Malaysia nói rằng người Đồ Đào Nha đã đến và đem lại công ăn, việc làm, sự giàu có cho người dân Malasia. Nghe nói, Singapore đã thiết lập mức lương tối thiểu thấp cùng với việc không có chế độ hưu trí như những “quan hệ công nghiệp - Industrial Relations(sau được thay thế bằng quan hệ lao động - Employment relation) cần thiết để phát triển đất nước khi người Anh đến khai phá. Đó là sự khác biệt về “nếp nghĩ”, quan điểm, và có thể cao hơn là chủ thuyết hay triết lý phát triển.

TS. Trịnh Văn Định: Tôi dẫn chứng cụ thể trường hợp Malaysia. Từ khi trở thành lãnh đạo của Malaysia, Mahathir Mohamad tiếp cận di sản là người dân bản địa Malaysia chiếm phần lớn là ở trình độ học vấn rất thấp, thiếu tác phong chuyên nghiệp. Đất nước chưa phát triển. Tại sao ngày nay họ phát triển như vậy. Triết lý của họ là gì? Chính người đứng đầu Mahathir Mohamad đã viết lại rất cụ thể trong hồi ký của mình. Ông kể rằng, khi đó, so với người dân khác ở Malaysia, người bản địa Malaysia kém rất xa so với dân Tàu và cả người Ấn Độ. Triết lý hay con đường của ông là gì. Ông đi vào điểm khó khăn nhất là ông đánh thức khát vọng của người dân Malaysia, đánh thức khát vọng làm chủ đất nước của chính họ, ông động viên, thôi thúc và nâng cao trình độ từng ngày từng giờ cho họ, tác phong của họ, nâng cao trình độ cho họ và vun cao ý thức tự hào làm chủ đất nước của họ.

Còn Singapore, họ đã quá nổi tiếng. Triết lý để phát triển của họ hay cụ thể hơn là của Lý Quang Diệu đơn giải là bạn phải xây dựng được một chính phủ tinh hoa, hay tầng lớp lãnh đạo tinh hoa, trả lương xứng đáng cho họ. Theo tôi cơ sở cho một triết lý để phát triển như vậy là do Lý Quang Diệu dựa trên nền tảng của hai truyền thống văn hóa Trung Hoa và Phương Tây. Nền độc tài tinh hoa là sự kết hợp nhuần nhuyễn tạo ra thành công của ông. Nhưng có điều, bạn sẽ cai trị gia đình 4 người với một không gian bằng một tỉnh của Trung Hoa dễ hơn và thành công hơn một phả hệ gia đình, gồm nhiều thành phần, nhiều cá tính, quan hệ chằng chịu và nhiều tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, nhiều ẩn ức dồn nén….Ông Lý đã rất hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của dân tộc mình, từ đó đề ra con đường, hay triết lý của riêng quốc gia mình và ông đã thành công.

Với trường hợp Israel, triết lý phát triển quốc gia của họ theo tôi có ba vấn đề mấu chốt: Một là nuôi cá trên sa mạc, và hai là bên ngoài đánh nhau bên trong công ty vẫn làm việc hoặc hết đánh nhau lại làm việc; và ba là tạo cơ hội cho mọi cá nhân “khởi nghiệp” trở thành Quốc gia khởi nghiệp. Nếu có thể nói gọn, triết lý của họ là biến cái không thể thành cái có thể, chẳng hạn nuôi cá ở sa mạc, bên ngoài đánh nhau, bên trong làm việc, hay hết đánh nhau thì làm việc, vừa làm việc vừa đánh nhau.

Phan Thắng: Việt Nam có hay chưa có triết lý phát triển? Nếu có, ông có thể đọc tên, và mô tả diện mạo của nó?

TS. Hoàng Văn Luân: Đây là câu hỏi khó đối với một cá nhân, thậm chí là một thế hệ. Tôi cho rằng trong lịch sử, chắc chắn là có. Nếu không, làm sao cha ông chúng ta tồn tại, thoát ra khỏi hàng ngàn năm Hán hóa và vươn lên, khẳng định mình được. Nên nhớ rằng, Việt Nam là một trong số “bách Việt” không bị Hán hóa.

Còn hiện tại? Kiểm lại từ hai phần thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu lý luận nói chung và các nhà nghiên cứu triết học nói riêng đều tập trung nghiên cứu các triết thuyết Đông, Tây kim cổ. Trong vùng đọc của tôi, tôi chưa thấy công trình nào nghiên cứu và trả lời được câu hỏi “Việt Nam có triết học không?

TS. Trịnh Văn Định: Theo hiểu biết hạn hẹp và theo quan sát cá nhân, chúng ta có triết lý sống và triết lý tồn tại, còn triết lý phát triển có lẽ còn khá mờ nhạt.

Phan Thắng: Các ông phân biệt thế nào giữa, hay là về, chính sách sách phát triển và triết lý phát triển?

TS. Hoàng Văn Luân: Nếu coi triết lý phát triển là cội nguồn thì chính sách phát triển là thể hệ thứ ba nảy sinh từ thế hệ thứ hai: Chiến lược phát triển.

TS. Trịnh Văn Định:Theo tôi, chính sách phát triển mang tính cụ thể và ngắn hạn. Triết lý phát triển mang tính nền tảng, vĩ mô và tính trừu tượng hóa cao hơn. Triết lý được trừu suất trở thành tinh thần cơ bản phát triển quốc gia đó.

Phan Thắng: Thông thường một quốc gia, khi lựa chọn triết lý phát triển, cần dựa trên những nền tảng và cơ sở nào?

TS. Hoàng Văn Luân: Thú thật nhé, tôi thích thú với từ “lựa chọn” của ông. Thứ nhất, lựa chọn theo nghĩa phải chưng cất, khái quát hóa lấy giá trị văn hóa cốt lõi nhất của văn hóa dân tộc cho triết lý phát triển. Bởi, văn hóa với tính cách là phương thức tư duy và hoạt động, gọi chung phương thức sinh sống của một cộng đồng người trong hoàn cảnh địa – kinh tế, địa – chính trị của họ. Các nhà nghiên cứu Nhân học thường gọi đó là tri thức bản dịa. Thứ hai, lựa chọn những giá trị tinh hoa trong kho tàng tri thức nhân loại để triết lý phát triển của quốc gia không lạc dòng chảy của thế giới.

TS. Trịnh Văn Định: Nền tảng cơ bản nhất mang tính chất sống còn là nguyên tắc dựa trên nền tảng thực tiễn, đặc thù của quốc gia đó và trên cơ sở đánh giá trúng nền tảng đó mới có thể đề ra chính sách phù hợp. Cụ thể hơn, cần đánh giá cho được thực trạng về trình độ phát triển của quốc gia đó, trình độ văn hóa, giáo dục, kinh tế của người dân quốc gia mình. Xa rời và không đánh giá trúng những yếu tố nền tảng và cơ sở này triết lý đó sẽ đi đến chỗ vô hình và thiếu mối liên hệ với thực tiễn.

Liên quan đến câu hỏi nền tảng nào xây dựng triết lý phát triển, câu hỏi cốt thiết là, mỗi quốc gia muốn trở thành quốc gia như thế nào?

Phan Thắng: Đúng thế, tôi cho rằng xét cho cùng đây là cốt lõi của câu chuyện. Tôi là ai? Phải xác định được mục tiêu mới hoạch định, mới tìm đường đi tới. Áp vào Việt Nam, tôi nghĩ là mục tiêu thì đã rõ. Ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định thể chế là Cộng hòa – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Mục tiêu là Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Mục tiêu này cho đến nay vẫn không thay đổi.

Trở lại với câu chuyện của thế giới, theo các ông, chúng ta có thể học được gì từ triết lý phát triển của các quốc gia có nền tảng văn hóa, tự nhiên, và xã hội tương đồng?

TS. Hoàng Văn Luân: Về câu chuyện này, theo tôi thì chúng ta hoàn toàn có thể học được từ triết lý phát triển của các quốc gia khác nhau. Ngay cả với quốc gia khác biệt về văn hóa, tự nhiên và xã hội, chúng ta không học “cái” mà học ‘cách”, học cách họ làm, cách họ xây dựng và lựa chọn triết lý phát triển của họ. Với các quốc gia có nền tảng văn hóa, tự nhiên và xã hội tương đồng, chúng ta có thể học cả “cái” và “cách”. Trở lại với từ “lựa chọn” của ông, tôi cho rằng lựa chọn hay chọn lọc cái bên ngoài phải tính tới quy luật đào thải của “cấy ghép”. Nhánh ghép phải có thể nảy nở được từ cái gốc văn hóa dân tộc, trái của nó vừa phải mang hương vị văn hóa dân tộc nhưng vừa nhân hương vị văn hóa dân tộc lên tầm nhân loại.

TS. Trịnh Văn Định:Không cần thiết tìm đâu xa, có mấy quốc gia chúng ta có thể học. Từ Singapore, cái chúng ta có thể học được nhưng không biết có làm nổi không là thiết kế chính phủ tinh hoa. Cái chúng ta học được từ Malaysia là chúng ta hướng vào điểm yếu kém nhất của chúng ta, khắc phục điểm đó. Cái chúng ta học được từ Israel là có thể thích ứng trong mọi điều kiện để phát triển, tạo cơ hội cho sự khởi nghiệp của toàn quốc gia, biến cái không thể thành cái có thể. Cái chúng ta học được từ Nhật Bản là tinh thần làm việc, tính cụ thể trong công việc…

Phan Thắng: Cái yếu nhất trong sự phát triển của chúng ta là gì?

TS. Hoàng Văn Luân: Tôi cho rằng là không khai thác và làm gia tăng giá trị của những yếu tố vốn là lợi thế của Việt Nam.

TS. Trịnh Văn Định: Tôi lại nghĩ là do chúng ta không tạo ra được động lực tinh thần làm điểm tựa cho sự giải phóng năng lượng con người để phát triển, đó là chưa nói chúng ta đang ngày càng bào mòn nó.

Phan Thắng: Nhưng nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng kém phát triển của chúng ta là gì?

TS. Hoàng Văn Luân: Quan sát thế giới, xem nó như một hệ quy chiếu, trở lại với câu chuyện này của nước mình, tôi đoan chắc là do thể chế - trụ cột thứ nhất của năng lực cạnh tranh - không phù hợp, không thúc đẩy trụ cột thứ 9 “Đổi mới và sáng tạo” – trụ cột tạo nên sự đột phá trong bối cảnh kinh tế tri thức, cũng là trụ cột giúp Việt Nam có thể “đi tắt, đón đầu”.

TS. Trịnh Văn Định: Tôi xin nói rõ thêm một ý là do chúng ta chưa giải phóng, khai thác triệt tiềm năng của dân Việt và thu hút được giới tinh hoa trên thế giới.

Phan Thắng: Từ bao đời nay Việt nam vẫn là một nước nông nghiệp. Thế giới quan, nhân sinh quan của dân tộc này cơ bản có gốc gác từ tư duy của nhà nông, của tiểu nông. Theo các ông thì tư duy tiểu nông có ảnh hưởng như thế nào đến chiến lược phát triểnđất nước?

TS. Trịnh Văn Định: Tôi nghĩ lànó kéo tụt mọi sự phát triển, làm méo mó mọi chiến lực phát triển và làm biến dạng những lý thuyết và triết lý phát triển từ bên ngoài du nhập vào.

TS. Hoàng Văn Luân: Tư duy tiểu nôngảnh hưởng xấu đến chiến lược phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và cần phải thay đổi. Không nôn nóng nhưng chúng ta cần phải bắt đầu thay đổi bằng cách đổi mới thể chế với tính cách là tồn tại xã hội.

Phan Thắng: Chúng ta đang có điểm mạnh nào không trong chính sách phát triển và quá trình phát triển?

TS. Hoàng Văn Luân: Trong quá trình phát triển, chúng ta có ít nhất là ba thế mạnh, đó là: Nguốn nhân lực dồi dào, thông minh và có ý chí kiên cường; Có thể cung cấp mặt hàng thuộc “nhu yếu phẩm” cho đời sống hằng ngày của thế giới, nhất là trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay. Hãy tập trung làm gia tăng giá trị của chúng; Và chúng ta có vị trí “Cầu nối” của Đông Bắc Á và Đông Nam Á; “Bến bờ” của giao thương Biển Đông và Thái Bình Dương.

Phan Thắng: Tôi nghĩ điều ông vừa nói là thế mạnh về điều kiện chứ không phải là cái mạnh, điểm mạnh trong chính sách phát triển của chúng ta. Nếu quả thực Việt Nam chúng ta chưa xác định chính thức triết lý phát triển của mình thì theo ông cần xuất phát từ những nền tảng/cơ sở nào, và từ điểm xuất phát nào để tìm kiếm, lựa chọn triết lý phát triển cho mình?

TS. Hoàng Văn Luân: Đây là công việc vô cùng quan trọng và vô cùng khó vì nó có ý nghĩa mở đầu, khai phá, định hướng. Theo tôi, chúng ta cần nghiên cứu thật khách quan, toàn diện văn hóa dân tộc hay tri thức bản địa, trừu tượng hóa, chưng cất giá trị cốt lõi nhất của nó với tính cách là triết học hay ít nhất là Triết Lý Việt. Đây là điểm xuất phát của triết lý phát triển. Có như vậy, Việt Nam mới có thể gạt bỏ được hiện tượng rất xấu nhưng phổ biến là “Phép vua thua lệ làng”. Triết lý, đường lối, chính sách của Việt Nam khó đi vào cuộc sống là do chúng “xa lạ”, thậm chí “quá xa lạ” với dân sinh.

Đồng thời, tôi thấy là chúng ta cần dừng việc tìm hiểu, nhận dạng triết lý, mô hình phát triển của các quốc gia với mục đích là học theo và làm theo mà hãy nghiên cứu cách thức họ tạo dựng triết lý và mô hình phát triển của họ. Hay như đã đề cập, hãy học “cách” chứ đừng học “cái”.

TS. Trịnh Văn Định: Xuất phát từ thực tiễn đất nước ta cơ bản là một nước nông nghiệp, nông dân là chủ yếu, vì vậy, trước hết cần hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chẳng hạn chúng ta đẩy mạnh sao cho cá ngừ của chúng ta được thị trường Nhật chấp nhận. Quả vải của chúng ta được Mĩ chấp nhận. Và cứ thế chúng ta đô thị hóa và công nghiệp hóa ngay tại nông thôn.

Phan Thắng: Các ông có thể thử đề xuất một triết lý cho sự phát triển của Việt Nam?

TS. Hoàng Văn Luân:  Một cách thoáng qua và tạm thời, tôi đề xuất là: Dung nạp và Khai phóng

TS. Trịnh Văn Định: Nếu gọi tên cho triết lý phát triển thì chúng ta cần càng sớm càng tốt phá hủy tư duy tiểu nông, hiện đại hóa tư duy người Việt, trong đó cãi lõi của nó là thiết kế một hệ thống thông minh. Mọi xuất phát của triết lý Việt Nam căn cứ từ thực tiễn Việt Nam tuyệt đối không bốc từ nơi khác về. Những tri thức và thực tiễn thế giới là những tham chiếu cho triết lý phát triển. Nếu có thể gọi tên thì tên gọi của triết lý đó là: triết lý giải phóng tiềm năng của người Việt

Phan Thắng: Thưa ông Trịnh văn Định, tại sao ông lại có lựa chọn và đề xuất này?  

TS. Trịnh Văn Định: Bởi vì, tiềm năng của người Việt vẫn chưa được giải phóng. Khi tiềm năng còn bị trói buộc đất nước chưa thể phát triển.

Phan Thắng: Còn ông Hoàng văn Luân, đâu là nền tảng cơ bản nhất cho sự lựa chọn của ông? Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm lịch sử khi ông lựa chọn?

TS. Hoàng Văn Luân: Theo tôi, người Việt Nam vốn thân thiện, hiếu khách, dung tha. Giá trị văn hóa này là cơ sở tốt để thu hút nhân tâm. Dung nạp không chỉ thu hút, quy tụ cộng đồng các dân tộc của Việt Nam mà còn thu hút Việt kiều và thậm chí, nguồn nhân lực của các quốc gia khác trong bối cảnh di động việc làm hiện nay.

Trong bối cảnh kinh tế tri thức, giá trị gia tăng chỉ đến cùng với sáng tạo. Để giảm bớt, xóa bỏ “trói buộc”, một thể chế khai thông và kích thích sáng tạo là cần thiết. Không khai phóng không thể vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Không khai phóng không thu hút và dung nạp được nhân tài. Không khai phóng không phá bỏ được tư duy, tâm lý tiểu nông trong đó có tâm lý tự ty.Không khai phóng không tạo ra tầm nhìn vượt khỏi “lũy tre làng”. Không khai phóng không vượt bỏ được giáo điều, kinh viện. Không khai phóng không tạo ra được đột phá để “đi tắt, đón đầu”, rút ngắn khoảng cách phát triển. Không khai phóng không đưa được đất nước và dân tộc Việt Nam “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.

Phan Thắng: Theo ông, nếu đã có một triết lý phát triển đúng đắn, khoa học, cần phải làm gì để nó thấm sâu vào xã hội, vào tất cả mọi người dân, mọi tầng lớp xã hội, tạo thành ý chí của cả quốc gia dân tộc?

TS. Hoàng Văn Luân: Thứ nhất là giáo dục, tuyên truyền nhưng không phải là khô cứng với những học thuyết, định đề, luận điểm như hiện nay.

Thứ hai, kiến tạo thể chế, cơ chế sao cho lợi ích của triết lý ấy hiện hữu ngay trong và sau hành động của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức. Theo Mác, chính chiếc “dạ dày” sẽ hằng ngày, hằng giờ nhắc nhở anh ta, chị ta sự tồn tại của triết lý và cái lợi của nó.

TS. Trịnh Văn Định: Tôi lại nghĩ, nếu một triết lý đúng đắn khoa học, mang lại lợi ích cho người dân, cho quốc gia chắc chẳng cần phải làm gì bởi câu chuyện ở đây là cơ chế, hay thế chế bắt chúng ta phải theo, chứ không phải như ta vẫn nghĩ, thể chế phải theo ta vì xuất phát từ chính khát vọng của mỗi người dân thì tự nhiên nó đi vào xã hội, vào trong tâm khảm mỗi người dân, dần hình thành triết lý phát triển đúng đắn.

Phan Thắng: Và cuối cùng, theo các ông, nhân tố quan trọng nhất để triết lý phát triển trở thành “cây đời mãi mãi xanh tươi”, là con đường đưa quốc gia dân tộc đi tới thành công?

TS. Hoàng Văn Luân: Thứ nhất, nếu triết lý phát triển được dựng xây từ triết lý dân sinh như đã đề cập ở trên, thì tự nó đã là “cây đời mãi mãi xanh tươi”.

Thứ hai, chế tài hóa triết lý thành lợi ích. Lợi ích của mọi người, mọi tầng lớp là “cây đời mãi mãi xanh tươi”. Bởi theo Mác, lợi ích không có lý luận. Xin lan man một chút như là dẫn chứng thực tiễn: Chống tham nhũng được tuyên truyền nhiều, ai cũng nhận thức được cần phải chống tham nhũng nhưng chống tham nhũng ở Việt Nam vẫn chưa thành “cây đời”. Trong khi đó, không sách nào, trường nào dạy về tham nhũng nhưng tham nhũng đã trở thành “cây đời”.

Thứ ba, chân lý là cụ thể, không có học thuyết nào, triết lý nào luôn đúng trong mọi không – thời gian. Triết lý phát triển cần thường xuyên đươc tổng kết, “mài dũa” bởi thực tiễn cuộc sống. Giống như văn học dân gian, càng mài dũa bởi dân sinh càng sáng như ngọc.

TS. Trịnh Văn Định: Theo tôi, mấu chốt của vấn đề làCon người và giải phóng tiềm năng con người. Muốn vậy cần có cơ chế, thể chế trong sạch để giải phòng tiềm năng và bảo vệ con người, đặc biệt cần có chính phủ tinh hoa, người đứng đầu xuất chúng. Điều này đặc biệt cần ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Và, nhanh chóng nâng cao trình độ văn  hóa, nhận thức của người dân, đặc biệt nâng cao nhận thức của người dân về quyền tự do, dân chủ.

Phan Thắng: Trân trọng cảm ơn các ông về cuộc trao đổi này. Tôi hy vọng chúng ta sẽ có dịp trao đổi thêm về vấn đề này hoặc liên quan một cách sâu sắc hơn.

 


[1]Cũng có người dịch là Chỉ số cạnh tranh tổng hợp.

[2]Xem Hayek, Friedrich A. Trật tự chính trị của những con người tự do (The Political Order of a Free People), Nhà xuất bản Routledge , Luân Đôn, 1979.