Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Giải pháp nào cho “vạc dầu” ở Biển Đông?

 

Nếu Việt Nam không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình khi Trung Quốc đưa ra quan điểm chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến tại Tòa trọng tài, thì chúng ta bỏ mất cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Vì vậy, theo các chuyên gia, Tuyên bố ngày 11/12 vừa qua của Bộ Ngoại giao Việt Nam là một bước đi pháp lý phù hợp trước các diễn biến mới nhất của tình hình trên Biển Đông.

Ngày 15/12/2014 là hạn chót để Trung Quốc đệ trình lên Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc, có trụ sở tại La Haye (Hà Lan), các lập luận pháp lý phản bác đơn kiện của Philippines, liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông. Trước thời điểm “hạn chót” ấy đến, cả Trung Quốc, Việt Nam và Hoa Kỳ đều có những động thái quan trọng trình bày lập trường chính thức của mình về các tranh chấp hiện nay ở Biển Đông. Ngày 5/12, Mỹ ra tuyên bố bác bỏ đòi hỏi phi pháp về đường lưỡi bò của Trung Quốc. Ngày 7/12, Trung Quốc ra “phản tuyên bố” chống chế lại và ngang ngược đòi các nước phải chấp nhận cái gọi là “bằng chứng lịch sử” của Trung Quốc. Tiếp đó, ngày 11/12, trong một tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, Việt Nam xác nhận là đã yêu cầu Tòa án Trọng tài Quốc tế chú ý đến “quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam trên Biển Đông.

Động thái quân sự

Trong khi đó thì ngày 13/12/2014, một bức ảnh vừa được một trang web từ Trung Quốc tiết lộ cho thấy rõ tình hình căng thẳng tăng lên ở Biển Đông. Hai chiến hạm thuộc loại hiện đại của Việt Nam và Trung Quốc đã ở trong tư thế gờm nhau trên vùng biển gần đảo Gạc Ma (Johnson South Reef), thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Theo trang web Anh ngữ “Want China Times” (cũng của Đài Loan), một trang mạng từ Trung Quốc mang tên Diễn đàn Nghiên cứu Nam Hải (tên Trung Quốc gọi Biển Đông) ngày 11/12 vừa qua đã công bố bức ảnh cho thấy tình trạng đối đầu giữa hai chiến hạm của Trung Quốc và Việt Nam. Phía Trung Quốc là chiếc khu trục hạm lớp 053 có tên lửa dẫn đường, được cho là chiếc Thương Châu, còn phía Việt Nam là hộ tống hạm tên lửa tàng hình Đinh Tiên Hoàng thuộc lớp Gepard của Nga.

Theo các nguồn tin trên, chiếc Thương Châu đã được phái đến khu vực quanh bãi Gạc Ma để đối đầu với chiếc Đinh Tiên Hoàng của Việt Nam. Gạc Ma là một trong những đảo đá bị Trung Quốc cưỡng chiếm vào năm 1988 và đang được rốt ráo cải tạo, bồi đắp, mở rộng để có thể biến thành một tiền đồn quân sự của Trung Quốc tại Trường Sa, với đường băng cho phi cơ quân sự và bến cảng cho các tàu chiến. Vào tháng trước, Việt Nam đã cử hai chiến hạm hiện đại nhất của mình là Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ đi thăm hữu nghị 3 nước Brunei, Indonesia và Philippines. Hai chiến hạm này cũng đã ghé qua đảo Song Tử Tây (Southwest Cay) thuộc Trường Sa đang do Việt Nam kiểm soát để thăm hỏi các chiến sỹ Việt Nam đang làm nhiệm vụ tại đấy.

Cũng theo truyền thông Đài Loan, một số quan chức Việt Nam xác nhận rằng chuyến thăm đã không nhằm khiêu khích Trung Quốc, nhưng hình ảnh do Diễn đàn Nghiên cứu Nam Hải nói trên tiết lộ cho thấy là chiếc Đinh Tiên Hoàng đã được gửi đến khu vực đảo đá Gạc Ma để theo dõi các chương trình cải tạo địa hình của Trung Quốc trong khu vực. Chiếc Thương Châu ngay sau đó dường như đã được phái đến hiện trường để bảo vệ cái gọi là “nhân công Trung Quốc đang làm việc tại chỗ”. Tờ “Vượng Báo” nhắc lại: Một khi Trung Quốc xây dựng xong đường băng dài 2 km trên đảo đá Gạc Ma, các chiến đấu cơ Su-30, J-10 và J-11 của Trung Quốc có thể xuất phát từ đấy tấn công mọi mục tiêu trong khu vực eo biển Malacca. Còn khi Trung Quốc hoàn tất các công trình cải tạo đất tại Gạc Ma cũng như là tại các bãi đá khác như Ga Ven (Gaven Reef), Châu Viên (Cuarteron Reef) Tư Nghĩa (Hughes Reef), tất cả sẽ tạo thành hệ thống cứ điểm có thể triển khai quân ra toàn khu vực. Báo chí Đài Loan nêu rõ: Các căn cứ mới của Trung Quốc chỉ cách Thành phố Hồ Chí Minh 830 km, Manila 890 km, miền Tây Malaysia 490 km, Kuala Lumpur và eo biển Malacca 1.500 km.

Chuẩn bị kiện Trung Quốc?

Trong bối cảnh nói trên, tuyên bố cô đọng ngày 11/12 vừa rồi của  Bộ Ngoại giaoViệt Nam mang ý nghĩa thời sự cấp bách. Tuyên bố xác nhận Việt Nam đã yêu cầu Tòa án trọng tài quốc tế chú ý đến “quyền và lợi ích pháp lý” của Việt Nam ở Biển Đông. Theo ý kiến các chuyên gia, tuy đây chưa phải là quyết định khởi kiện đối với các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc như Philippines đã làm, nhưng quyết định của Việt Nam bác bỏ các luận điểm của Bắc Kinh về Biển Đông. Trả lời báo chí về lập trường của Việt Nam liên quan đến diễn biến mới trong vụ Philippines kiện đường lưỡi bò Trung Quốc tại Biển Đông trước Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình xác nhận rằng, Việt Nam đã chính thức bày tỏ quan điểm của mình, đồng thời yêu cầu Tòa Trọng tài quan tâm đến quyền lợi của Việt Nam tại Biển Đông:

“Để bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông có thể bị ảnh hưởng bởi vụ kiện Trọng tài Biển Đông, Việt Nam đã bày tỏ với Tòa trọng tài lập trường, quan điểm của mình đối với vụ kiện và đề nghị Tòa trọng tài quan tâm đến các quyền và lợi ích pháp lý đó của Việt Nam”. Trước đó ông Lê Hải Bình đã lên tiếng cực lực phản đối việc Bắc Kinh mới đây đã tái khẳng định chủ quyền của họ trên hầu như toàn bộ Biển Đông trong bản Tuyên bố lập trường của Trung Quốc về vụ kiện của Philippines: “Lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng nước phụ cận cũng như yêu sách ‘các quyền lịch sử’ của Trung Quốc đối với vùng nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển bên trong ‘đường đứt đoạn’ do Trung Quốc đơn phương đưa ra”.

Đúng như dự đoán, ngay sau các tuyên bố của chính phủ ta, Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bác bỏ các tuyên bố của Việt Nam và yêu cầu Hà Nội thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi trên biển của Trung Quốc. Chữ “thiết thực” trong ngôn ngữ ngoại giao dùng ở đây được hiểu theo cách nhấn mạnh, bao hàm ý nghĩa phải “thực sự”, “triệt để” đáp ứng các yêu sách phi lý của Trung Quốc. Theo Tân Hoa Xã, ông Hồng Lỗi còn nhắc lại yêu cầu Việt Nam nên cùng với Trung Quốc giải quyết tranh chấp bằng đàm phán song phương “trên cơ sở tôn trọng sự thật lịch sử và Luật quốc tế”. Điểm cần cảnh giác trong tuyên bố này là Bộ Ngoại giao Trung Quốc dù có nói đến đàm phán về Nam Sa (tức Trường Sa), nhưng lại không đề cập gì đến đàm phán về Tây Sa (tức Hoàng Sa), mà Trung Quốc đã dùng bạo lực cưỡng chiếm từ hơn 40 năm nay, và giờ đây Trung Quốc ngang nhiên coi đó là lãnh thổ của họ, chứ không phải là đối tượng đàm phán.

Theo các nhà phân tích, dù việc Việt Nam quyết định cầu viện đến Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc trên hồ sơ Biển Đông chưa hẳn là một đơn kiện Trung Quốc, nhưng động thái này là một động thái theo chiều hướng vận động công luận quốc tế chống lại yêu sách chủ quyền quá trớn của Trung Quốc tại Biển Đông. Về ý nghĩa của văn kiện có thể gọi là Tuyên bố lập trường của Việt Nam trên vấn đề Biển Đông, lại được gửi đến Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Giáo sư Thayer nêu bật sự kiện là tuyên bố của Việt Nam tuy không phải là đơn kiện, nhưng đã phản bác toàn bộ luận điểm của Trung Quốc về các tranh chấp trên biển.

Giải pháp nào sẽ bền vững?

Ngay từ khi Manila nộp đơn kiện, Bắc Kinh cho biết sẽ không tham gia vụ này và không thừa nhận vai trò của Tòa án Trọng tài. Có nhiều lý do giải thích vì sao Trung Quốc không muốn ra tòa. Các đòi hỏi của Bắc Kinh không có cơ sở pháp lý vững chắc. Mặt khác, Trung Quốc lo ngại tạo tiền lệ, bởi vì Bắc Kinh có tranh chấp lãnh thổ với nhiều quốc gia, ở trên bộ cũng như trên biển. Cuối cùng, Trung Quốc muốn khai thác thế mạnh của mình trong khuôn khổ đàm phán song phương. Mặc dù tuyên bố không tham gia kiện tụng, nhưng ngày 7/12 vừa qua, Bắc Kinh đã cho công bố tài liệu về lập trường của Trung Quốc. Đây thực chất là một cách tham gia gián tiếp vụ kiện, đồng thời về mặt chính thức, lại không thừa nhận vai trò của Tòa án Trọng tài. Trên website Opiniojuris.org, một diễn đàn trao đổi không chính thức của giới chuyên gia về luật pháp và quan hệ quốc tế, giáo sư Cổ Cử Luân (Julian Ku), đại học Hofstra, Long Island (Mỹ), đã nhận định: “Đây là giải pháp kép tối ưu cho Trung Quốc, bởi vì nếu tài liệu về lập trường (của Bắc Kinh) chi phối Tòa án thì đó là điều tốt cho Trung Quốc. Nếu Tòa án bác bỏ lập luận pháp lý về lập trường và đòi hỏi của Trung Quốc, thì Bắc Kinh có thể nói là họ chưa hề tham gia vào vụ kiện tại Tòa án”.

Các chuyên gia luật quốc tế cũng đều cho rằng, Việt Nam đã lên tiếng đúng lúc để duy trì khả năng bảo vệ quyền lợi của mình trong tư cách là nước bị đường lưỡi bò Trung Quốc tác hại nặng nhất. Bộ Ngoại Giao Mỹ, có thể là để gián tiếp “chống lưng” cho vụ kiện của Philippines, ngày 5/12 vừa qua cũng đã chính thức công bố một báo cáo của Văn phòng đặc trách các vấn đề Đại dương, Khoa học và Môi trường quốc tế (Bureau Oceans and International Environmental and Scientific Affairs), trong đó phân tích rõ ràng các đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông là phi lý và phi pháp. Hai ngày sau đó, ngày 7/12, Trung Quốc đã đưa ra một công bố chính thức về vụ kiện của Philippines và bác bỏ một cách rất ngang ngược vụ kiện ấy. Thật ra, Việt Nam là nước bị thiệt hại nhất vì “đường lưỡi bò” (mà vụ kiện của Philippines chủ yếu là về đòi hỏi phi lý và phi pháp này của Trung Quốc). Do đó, nếu Việt Nam không lên tiếng khẳng định quyền lợi của mình khi Trung Quốc đưa ra công bố chính thức về vụ kiện của Philippines, cũng như trước thời hạn hết được nộp ý kiến, thì Việt Nam bỏ mất cơ hội rất lớn để bảo vệ quyền lợi của chính mình.

Trong bối cảnh phức tạp và bấp bênh nói trên, các giải pháp được coi là bền vững cho các tranh chấp giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN, mà trước tiên là với Việt Nam và Philippines phải là một tổng thể các giải pháp ngoại giao và pháp lý mang tầm khu vực. Tài liệu về lập trường của Trung Quốc (7/12) và bản nghiên cứu về "Các ranh giới trên biển" của Hoa Kỳ (5/12), cho thấy, Bắc Kinh dường như biết trước là các lập luận của họ không thể được chấp nhận, chiếu theo luật pháp quốc tế. Chính vì thế, Trung Quốc tiếp tục tránh giải quyết các tranh chấp bằng pháp lý và theo đuổi phương cách “đàm phán trực tiếp và tham khảo hữu nghị” để qua đó, Trung Quốc có thể sử dụng được sức ép chính trị của mình. Rõ ràng Trung Quốc e ngại giải quyết vấn đề Biển Đông bằng pháp lý vì thiếu hẳn tính chính danh lẫn các cơ sở của chuẩn mực luật quốc tế. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh để đi tới một cách tiếp cận khu vực vẫn chưa thể kết thúc một sớm một chiều, chừng nào mà những nền tảng của “Giấc mơ Trung Hoa” chưa được tái điều chỉnh trên căn bản của lẽ phải và lý trí./.