Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Hà Nội tranh luận đầu 1975 về đường lối chiến lược ở miền Nam

Công văn mật phát hành đầu 1975[1] dành cho lãnh đạo Bộ thống soái Mỹ cho rằng các khó khăn trong ngoài nước sẽ buộc các tướng lĩnh hàng đầu QĐNDVN ưu tiên chủ trương xây dựng miền Bắc. Vẫn theo tình báo chiến lược NSA của Mỹ, dưới sức ép phải đoàn kết nhất trí, nhiệm vụ thống nhất nước nhà thậm chí có triển vọng bị “đóng băng”. NSA đã không lường trước sốc phản vệ ở Sài Gòn gây bởi “chiến dịch Tây Nguyên” - tác động đã giúp phe cách mạng lách “khe cửa hẹp”, giải phóng miền Nam trước khi các thế lực nước ngoài… kịp phản ứng[2].

Trong hầu hết những năm chiến tranh, một đặc tính nổi trội của người miền Bắc là sự hiến dâng nhất mực của họ cho nỗ lực chiến tranh ở miền Nam. Đặc tính này chính là nền tảng của những thành quả mà họ đã đạt được.

Nếu họ quyết định quay lại với một thời chiến toàn diện, họ sẽ cần phải có một thể hiện như từng có, nếu không phải là tốt hơn, của cả ban lãnh đạo lẫn những người được lãnh đạo. Tuy nhiên, cả sự cống hiến lẫn xả thân đều là đáng ngờ hôm nay, hai năm sau ngày ngưng chiến (ý nói Hiệp định Paris).

- Mức độ hăng hái (motivation) của người dân, thậm chí của một số (cán bộ) trong giới quân sự và trong Đảng, ủng hộ một tái khởi động toàn diện, không hạn định thời điểm kết thúc (open - ended) cuộc chiến ở miền Nam, hẳn đang sút kém đáng kể, kể từ ngày ngưng chiến.

- Hiện đang sâu sắc thêm một cuộc tranh luận đã từ lâu rồi, nhưng luôn được giữ kín, về phân bổ thích đáng các nỗ lực giữa lực lượng vũ trang và lực lượng xây dựng kinh tế.

- Cũng đang sâu sắc thêm cuộc thảo luận bấy lâu trong Bộ Chính trị về con đường đúng đắn nhằm giành được toàn thắng ở miền Nam.

Chế độ Bắc Việt đã làm được một công việc đáng ghi nhận, là giữ được dân cư của họ luôn hậu thuẫn cho các nỗ lực chiến tranh từ năm này sang năm khác; nhưng tới 1972, hậu quả tích lũy sau nhiều năm do hỏa lực của phe đồng minh (Mỹ), nhất là không kích, đã gây nên một nỗi lo sợ về thể lực và tâm lý. Một phần trong động cơ của Hà Nội đồng ý ngưng bắn là vì muốn có một thời gian để vực lại tinh thần cho dân chúng.

Tái thiết miền Bắc

Chế độ đã dành cả năm 1973 để thuyết phục người dân rằng vừa giành được một chiến thắng ở miền Nam, gắn với việc Mỹ phải rút quân và trang bị chiến tranh. Chế độ đã tạm gác những đòi hỏi tiếp tục ủng hộ toàn diện, trực tiếp cho “công cuộc giải phóng” miền Nam, và kêu gọi dân cư tập trung chủ yếu vào kiến thiết lại miền Bắc…

Chế độ đang không cố đòi hỏi tinh thần hy sinh trong người dân thường miền Bắc. Những vết thương của miền Bắc do chiến tranh gây nên đã liền miệng, nhưng sự hồi phục về công nghiệp và nông nghiệp trong hai năm qua đạt mức thấp hơn nhiều so với mong đợi.

Sản lượng nông nghiệp năm 1973 đã thấp hơn khá so với những con số tốt nhất của nó trong những năm chiến tranh trước đó, và sản lượng nông nghiệp năm 1974 chắc là thấp. Cùng kỳ, tổng số dân miền Bắc, đã tăng lên 30% so với những năm trước, lại tập trung quá nhiều ở các vùng đồng bằng (nơi đất đai, tài nguyên) đã bị khai thác quá sức…

Dưới sức ép dạng này (về dân số và cạn tài nguyên), và đang được nghỉ đôi chút khỏi những động viên sức người sức của thời chiến, sẽ là tự nhiên khi người Bắc Việt lo lắng hơn về sinh kế, hoặc tỏ ra kém sẵn sàng hơn trước những cảnh báo của chính phủ về lợi ích quốc gia.

Tất cả những điều này không ngụ ý rằng Hà Nội đã mất kiểm soát đối với dân chúng của mình, hoặc Hà Nội không thể tập hợp được lực lượng thông qua một hiệu kèn. Tuy nhiên, sút kém về tinh thần hăng hái hẳn đang củng cố các lãnh đạo nào ở Hà Nội cổ súy một chiến lược tiến từng bước ở miền Nam.

Tiếp cận “từng bước” trong vấn đề miền Nam

Chẳng cần đặt nhiều câu hỏi về việc Bộ Chính trị của Bắc Việt liệu có xem xét ngưng bắn chỉ như một cuộc xả hơi nhất thời, hay giải lao. Do quá nhiều nguyên nhân, như thiệt hại của miền Bắc, thái độ hòa hoãn (detente) của các đồng minh của họ, rồi một niềm tin tưởng rõ ràng rằng sự ủng hộ của Mỹ đối với Việt Nam Cộng hòa chắc chắn sẽ yếu đi rồi mất hẳn, nên Bộ Chính trị ở Hà Nội đã nhất trí với một dàn xếp tạm thời. Những yếu tố trên cũng định hình chiến lược hậu ngưng bắn của họ.

Trước hết, họ tìm cách tái thiết vị thế quân sự của họ ở miền Nam, nhưng chỉ đứng cách một bước khỏi loại bỏ cái ô phòng hộ của thỏa thuận ngưng bắn; đồng thời duy trì các sức ép quân sự và lật đổ lên chính phủ Thiệu, nhằm xúc tiến một triển vọng cho việc Mỹ rút bỏ sự hậu thuẫn (cho chính quyền Thiệu).

Việc áp dụng sức mạnh có cân nhắc như vậy nhằm không ảnh hưởng nặng nề lên đường hướng đối ngoại hòa hoãn của các đồng minh của họ, đồng thời giữ được một mức tàm tạm hỗ trợ về quân sự của Liên Xô và Trung Quốc.

(Mỹ) gần như chắc chắn được là, Bộ chính trị đã nhất trí với chiến lược này. Riêng với những lãnh đạo cứng rắn - chủ yếu là quân nhân - thì họ xem đây như một hoãn binh (respite) cần thiết để phát triển lực lượng vũ trang tới mức đủ sức giáng một đòn quyết định vào chính phủ Thiệu. Một tin tưởng như vậy rõ ràng thuộc về nhân vật đã không tráng kiện như trước, nhưng vẫn quan trọng - Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp.

Đa số các lãnh đạo quân sự khác, ở các mức khác nhau, hẳn nhất trí với Giáp, vì điều quan trọng đã được thể chế hóa đối với tướng lĩnh là: xác lập hoạt động quân sự liên tục, với quy mô ngày cành cao. Trọng tâm của huấn luyện lực lượng vũ trang ở miền Bắc hầu như hoàn toàn hướng vào mục tiêu hiện đại hóa, nhằm giáng một đòn quyết định trong chiến dịch lớn tại miền Nam. Hiện chưa có một dấu hiệu nào đi ngược lại chủ trương huấn luyện như thế trong các sách báo về quân huấn (của QĐNDVN).

Về phía giới dân sự, chiến lược ngưng bắn ở miền Nam được cổ súy trên những cơ sở khác. Các lãnh tụ dân sự, Lê Duẩn và Trường Chinh, đều kiên định hướng tới một toàn thắng ở miền Nam, nhưng hai vị này hẳn khác với các tướng lĩnh về một điểm: tới thời cơ (timing) nào thì tung ra một đòn quyết định.

Các phát biểu của Lê Duẩn cho thấy ông luôn nghiêm túc hướng tới các mục tiêu của xây dựng nền kinh tế XHCN quy mô lớn ở miền Bắc. Việc ông ủng hộ ngưng bắn ở miền Nam hẳn dựa trên tin tưởng rằng ngừng bắn rồi sẽ tạo cho Hà Nội một cơ hội vô cùng thiết yếu để đưa thêm các nguồn lực vào hỗ trợ sứ mạng (xây dựng nền kinh tế XHCN quy mô lớn).

Ông Duẩn là người duy nhất trong số lãnh đạo tối cao, qua các phát biểu của mình, tỏ ra có một nhãn quan rộng về các đường hướng kinh tế trên thế giới, và và một đòi hỏi là Bắc Việt Nam phải cố theo kịp, và tìm được một vị thế tự lực (self-sustainingniche) trong nền kinh tế thế giới.

Trường Chinh là nhà lý luận của Đảng, người tiêu biểu của phong cách Trung Quốc. Như ông vẫn trình bày, một tinh thần cách mạng chân chính và một quan điểm Marxist là quan trọng để đạt các mục tiêu của chế độ, ngang với những đạo quân đông đảo và nhiều máy kéo (tractor). Ông thường chống lại những cuộc tiến công quân sự lớn, và cổ súy một tiếp cận tiến từng bước trong chiến tranh và trong kinh tế.

Một chủ chốt của giới dân sự nữa, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tỏ ra là người chủ yếu thực thi những chính sách đã được Đảng xác lập. Ông không tỏ ra có ảnh hưởng lớn trong nâng cấp đường lối cho Đảng. 

Cho dù không có gì nhiều để đánh giá quan điểm của các nhân vật thuộc tầng thứ hai và thứ ba trong giới lãnh đạo Hà Nội, sẽ không có nguyên do để tin rằng nếp nghĩ (set of mind) của họ lại không bị ảnh hưởng bởi những nhân tố đã từng đúc khuôn cho quan điểm của các nhóm đồng dạng tại các nước cộng sản khác. Các nhân vật chủ chốt không thể đạt tới địa vị của họ mà không trung thành sâu sắc với đường lối của Đảng, nhưng nhiều trong số các lãnh đạo đã đạt tới tầng thứ hai không hẳn nhờ vào sự tinh thông về chính trị, mà là nhờ khả năng tác nghiệp.

Đa số trong những nhân vật triển vọng ở miền Bắc là những người thuộc giới tác nghiệp: Hoàng Anh một chuyên gia (lãnh đạo ngành) nông nghiệp; Nguyễn Côn, chuyên gia về hành chính, người cộng sự chặt chẽ với Phạm Văn Đồng, Trần Hữu Dực, một chuyên gia kinh tế; và Trần Quỳnh, bề ngoài làm sếp khoa học - công nghệ, có quan hệ gần gũi với Lê Duẩn.

Sự trung kiên của những vị này với hoàn thành sự nghiệp cách mạng ở miền Nam chắc khó mà ngờ vực, nhưng nó sẽ chỉ được duy trì trong tâm trí bởi một sách lược đóng góp một lượng hợp lý của các nguồn lực để tiếp tục phát triển kinh tế miền Bắc, và cẩn trọng đóng góp những nguồn lực hạn chế cho toàn thắng ở miền Nam. Tạo thành một nhóm, họ chắc có một thiên kiến đã được thể chế hóa theo hướng một đường lối cân xứng (với hai nhiệm vụ chiến lược) đã được Hà Nội thông qua sau ngưng chiến (sau Hiệp định Paris).

Sôi động “phe diều hâu” ở Hà Nội

Dù tên tuổi và số lượng của những ai (trong giới lãnh đạo) ở Hà Nội sẽ vẫn kiên định với chính sách tiến từng bước (gradualist policy) ở miền Nam có du di thế nào, gần đây thôi họ hẳn nhận thấy hơi ít những biểu hiện thành công của một chính sách như thế.

Cho tới giữa 1974, Chính phủ Thiệu, chí ít, đã làm được nhiều hơn là chỉ giữ đất của mình, và đã đẩy được cộng sản khỏi một số vùng và củng cố được quyền kiểm soát, và tỏ ra có sinh khí tại những vùng nó có ưu thế. Hỗ trợ của Mỹ vẫn mang tính sống còn, và không ai ở Hà Nội có thể dự báo một cách tin cậy về thời điểm mà sự tài trợ sẽ được Mỹ rút hết.

Tuyên truyền ở miền Bắc thể hiện buổi đầu của nhận thức này. Từ giữa năm 1973, những tố cáo của Hà Nội về việc Mỹ tiếp tục “dính líu” và hỗ trợ Thiệu trở nên sâu cay hơn. Và những cực lực lên án các chiến dịch lấn chiếm (nibbling) của Thiệu cũng mạnh hơn. Những lời lẽ mạnh nhất thuộc về báo Quân đội của miền Bắc, trong khi báo Đảng có một lập trường ít khuấy động hơn.

Tới giữa 1974, phát biểu của một số lãnh đạo quân sự và tuyên truyền trên báo Quân đội khiến ta (Mỹ) nghĩ rằng phe diều hâu ở Hà Nội đang thúc giục một áp đặt lớn hơn sức ép về quân sự lên VNCH, tới mức sẽ gồm cả một cuộc tiến công chiến lược như của năm 1972.

Các phát biểu về tình hình quân sự ở miền Nam đã gạt đi sự thận trọng trước đó, và bắt đầu nâng giá (tout) vị thế của phe cộng sản ở miền Nam, rằng chưa bao giờ mạnh như hiện nay. Miền Bắc cũng bắt đầu, một lần nữa, đánh giá thấp (denigrate - chê bai) các năng lực của quân lực VNCH.

Vào giữa tháng 8, báo Quân đội nhân dân tiếp tục phê phán chính sách “hòa dịu” (detente) ở Moscow và Bắc Kinh và kêu gọi, công khai tới mức chưa từng có ở miền Bắc, một chuyển hướng sang một sức ép quân sự trọng đại ở miền Nam. Quan điểm này được xúc tiến theo phong cách khiến người ta có thể cho rằng nó đại diện cho một thành viên của Bộ Chính trị.

Sẽ là có lý khi kết luận rằng cuộc thảo luận về một chiến lược đối với miền Nam đã mạnh mẽ lên và các diều hâu - chủ yếu là nhà binh - đang thúc đẩy quyết liệt để chuyển hướng sang một đường lối quân sự hơn. Sức ép tăng, lên những ai tìm cách trụ lại với chính sách được thông qua trước đây (đạt tiến bộ từng bước trong thực hiện hai nhiệm vụ  chiến lược).

Phản bác lại quan điểm trên (chuyển hướng sang đường lối đấu tranh vũ trang là chủ đạo) đã xuất hiện trên tạp chí Học Tập của Đảng tháng 8 (1974). Tạp chí này, hẳn được kiểm soát bởi Lê Duẩn, đã đăng bài xã luận khẳng định, chỉ khi nào sức mạnh kinh tế của miền Bắc được phát triển thì miền Bắc mới đạt được tiềm năng quân sự đảm bảo một thắng lợi quyết định ở miền Nam.

Bài báo gián tiếp chỉ ra mối nguy của phê chuẩn một chiến lược (tiến công): phải giao phong với không lực Mỹ và đưa đến “những thiệt hại về người và của”. Bài báo kêu gọi tiếp tục chuyển các nguồn lực quân sự sang phát triển kinh tế.

Tại thời điểm này, chưa có quan điểm nào đạt được vai trò chủ đạo, vì thế khi đồng thuận (trong ban lãnh đạo Hà Nội, ngưỡng cửa 1975) đạt được, nó là một thỏa hiệp.

Thời điểm thử thách

Việc tăng dần các hành động chính trị của phe cộng sản đầu mùa thu (1974) ở miền Nam hẳn đã được phê chuẩn ở Hà Nội trước đó, chủ yếu như một trắc nghiệm về sức mạnh của phe Cộng sản và của phe Việt nam Cộng hòa, để rồi một quyết định sẽ được ra trên cơ sở đó. Sự nổi lên của một phong trào công khai chống đối Thiệu như thế hẳn đã làm mạnh tay thêm những ai chống một sự chuyển hướng trọng đại trong chính sách của Hà Nội. Nó chắc đã xúc tác sự đồng thuận của Bộ chính trị về một đợt hoạt động không rộng về không gian, thời gian (short - range).

Các biểu hiện chống đối chắc đã được xem xét bởi các nhà lãnh đạo ở miền Bắc như dấu hiệu đầu tiên của sự sụp đổ không tránh khỏi của chính phủ Thiệu mà họ (ban lãnh đạo Hà Nội) đã thấy trước. Tuyên truyền của Hà Nội nhưng chóng chuyển sang phát biểu một cách lạc quan về các cơ hội đánh đổ Thiệu, và kêu gọi đưa lên một nhân vật kế tục có khả năng đàm phán cho một thỏa hiệp về chính trị.

Từ giọng điệu của tuyên truyền, có thể thấy Hà Nội lại, một lần nữa, đánh giá quá cao biểu hiện của sự bất ổn về chính trị ở miền Nam, như Hà Nội từng, lặp đi lặp lại như thế trong quá khứ - mà rõ nhất là trong quyết định tung ra cuộc tiến công Tết 1968.

Tuy nhiên, những ai cổ súy việc tiếp tục một chiến lược kiên nhẫn với  các sức ép quân sự có chứng mực chắc đang đưa ra một số dẫn chứng, là chiến lược này đã bắt đầu hoàn vốn (pay off). Cùng kỳ, họ có thể tán thưởng một tăng cường, dù vẫn có chừng thôi, trong hành động quân sự của mùa khô 1974 - 1975 (từ tháng 11 đến hết tháng 4) như một phương cách để thổi lên bất ổn chính trị ở miền Nam.

Khoảng cuối tháng 9 - đầu tháng 10 (1974) Bộ Chính trị có lẽ đạt được sự nhất trí trong bước đi này, và (BCT) đã phát lệnh tiến hành chiến dịch này. Mệnh lệnh chiến dịch này hẳn đòi hỏi phải đạt những biển chuyển nhanh trong các giai đoạn đầu (của chiến dịch), cho dù chưa đòi hỏi những đột biến quyết định (major alteration).

- Sau cuộc nhấn mạnh dài hơi về các hành động (đấu tranh) chính trị, phe cộng sản ở miền Nam đã vừa được chỉ thị làm nổi bật đấu tranh vũ trang.

- Các bước tiến hành để tăng cường dòng chảy nhân lực vào miền Nam đã vượt lên so với chỉ tiêu trước đây.

- Các mệnh lệnh yêu cầu các hoạt động quân sự phải được tổ chức và tiến hành mau lẹ, nên xong trước đầu tháng 1 (1975).

Hiện chưa nhận thấy Bộ Chính trị vừa thông qua một chuyển dịch cơ bản về với một chiến lược quân sự quy mô lớn không định về thời gian (open - ended). Những lãnh tụ cổ súy tiếp tục nâng mức ủng hộ (cách mạng ở) miền Nam lên ngang tầm với các ưu tiên khác có thể cảm thấy tình hình là chấp nhận được. Những ai cổ súy một nỗ lực mạnh hơn cũng đang hướng tới hành động vũ trang một cách rõ rệt.

Nếu Thiệu đang tỏ ra dễ tổn thương trước sức ép quân sự như thế, những diều hâu (ở Hà Nội) sẽ đỏi hỏi mạnh mẽ hơn về (thực thi) các biện pháp quân sự nhằm khai thác chỗ yếu của Thiệu.

Với một mong đợi là kế hoạch mùa khô vừa được (Hà Nội) duyệt sẽ không đảo lộn nghiêm trọng cán cân lực lượng theo hướng bất lợi cho Thiệu, thì sắp tới Hà Nội sẽ có những bước đi nào?

Nếu cuộc tiến công vào mùa khô này đem lại cho phe cộng sản nhiều hơn chút đỉnh so với một vài huyện lỵ biệt lập và vài ngưng trệ trong bình định của Chính phủ (VNCH) tại các vùng tranh chấp, thì sức ép của phe diều hâu ở Hà Nội sẽ nâng cao theo hướng chấm dứt những biện pháp nửa vời, và tung ra một nỗ lực gần như dốc hết sức. Tuy nhiên, họ sẽ sa vào những vấn đề và những toan tính mới - những gì khó giải quyết được để ra quyết định tái phát động một cuộc chiến toàn diện, không hạn định thời gian (open - ended) ở miền Nam.

- Các khó khăn kinh tế ở miền Bắc trong trước mắt sẽ còn tăng khá, chứ không giảm, vì thể chắc sẽ tiếp tục và mạnh lên cuộc tranh luận về chuyển các nguồn lực sang hướng một chiến dịch giành lấy miền Nam.

- Có ít nguyên nhân để mong rằng, việc dân ngại ngần hơn, trong đóng góp những hy sinh cần thiết cho tái khởi động trên quy mô lớn cuộc chiến ở miền Nam, tới đây sẽ giảm đi.

- Niềm tin của Hà Nội vào khả năng các đồng minh sẽ cung cấp đủ quy mô cần thiết cho một nỗ lực giành toàn thắng ở miền Nam sẽ tiếp tục giảm xuống khỏi mức (tin cậy) hoàn toàn.

Thấy nói là Miền Bắc hiện có trong tay số vũ khí đã đủ để tiến hành một cuộc tiến công ở tầm cỡ như của năm 1972 và đảm bảo được (tiếp tế cho tác chiến) trong một khoảng thời gian đáng kể. Giả sử họ đang làm như vậy, ngộ nhỡ nỗ lực này không đánh bại ngay được VNCH, thì Hà Nội sẽ tỏ rõ là vi phạm thỏa thuận ngưng chiến, và còn tạo ra một tình huống buộc (Hà Nội) phải phụ thuộc tuyệt đối vào một quy mô tăng lên và một sự đều đặn chắc chắn, về tiếp tế mọi phương tiện chiến đấu, từ các đồng minh của họ (VNDCCH).

Nhưng đây chính là những đảm bảo (từ đồng minh của VNDCCH) mà gần như rõ ràng là hiện nay Bắc Việt khó có được, những đảm bảo mà (Hà Nội) sẽ cần trước khi ra quyết định dốc toàn lực về quân sự tại miền Nam.

Chắc cũng đang có những nghi ngại ở Hà Nội về bản chất của phản ứng của Mỹ trong trường hợp Hà Nội chọn phương án tái khởi động cuộc chiến một cách toàn diện. Tuyên truyền của Bắc Việt vẫn tỏ ra quan ngại, dù rằng Mỹ sẽ làm ra bộ thực thi thỏa ước tại Hà Nội, là Washington sẽ không can thiệp bằng quân bộ, nhưng việc Mỹ tìm cớ để tái sử dụng không lực cả ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam là không thể dễ dàng loại trừ.

Hiện thời, bộ máy tuyên truyền của Bắc Việt Nam đang nhiệt tình lên biểu đồ những khó khăn ngày một chồng chất lên một Washington đang đụng đầu với các nước xuất khẩu dầu lửa, với suy thoái và lạm phát, và với một Trung Cận Đông thường xuyên bất ổn. Những nhân tố trên được mô tả là đang làm suy yếu Mỹ, và xói mòn vị trí thống trị thế giới của nước này. Như thường lệ, những tuyên truyền như thế vẫn kèm theo những cảnh báo là sức mạnh quân sự Mỹ phải được xem trọng và Washington có khả năng tạo ra những “âm mưu” ở ngoài nước Mỹ.

Nếu những cảnh báo trên có biến khỏi những bình luận như thế đi nữa, thì nó vẫn chỉ thị một cảnh báo quan trọng (cho Mỹ), là người Bắc Việt Nam quyết định rằng họ có thể phát động toàn bộ lực lượng tại miền Nam  mà không ngại những nguy cơ nghiêm trọng về cuộc can thiệp (trở lại) của Mỹ.

Tuy nhiên, cho đến khi điều này xảy ra, những nỗ lực chính của mối đe dọa do Mỹ áp đặt, và những bó buộc đã mô tả ở trên chắc sẽ buộc Bắc Việt Nam vẫn phải ngần ngừ:

- Họ sẽ không chọn cách dốc toàn lực vào (giải phóng) miền Nam, trong khi giải quyết cho xong một số khó khăn trong nước, hoặc chờ một sự suy sụp vô cùng thảm hại của chính phủ miền Nam. Sự ngả sang hướng kiên trì (với ngưng chiến) đang tiếp diễn bấy nay (ở miền Bắc) chắc sẽ tuyên dương một số lợi thế hạn chế giành được trong mùa khô này (1975) và sẽ thuyết phục rằng sang năm Thiệu rồi sẽ trở nên yếu kém hơn, do viện trợ kinh tế và quân sự Mỹ trên đà thuyên giảm.

- Ở miền Bắc, ban lãnh đạo sẽ không xác định được nguồn nội lực nào khả dĩ đem lại một hy vọng thực sự, là nếu huy động nó, sẽ giải quyết được các khó khăn về kinh tế, ngoài (nguồn lực là) kiên định tư tưởng về một thắng lợi ở miền Nam.

Sự xáo trộn về tư tưởng đang mạnh lên hẳn vì phải cố duy trì cung cách lãnh đạo tập thể ở Hà Nội. Xuất phát từ điểm tựa của thời đại, ban lãnh đạo tối cao rồi sẽ ổn định về đội hình trong một số năm nữa, và chúng ta sẽ không chờ đợi Lê Duẩn hay một lãnh đạo khác sẽ trở thành lấn át (dominant), đến mức ông ta sẽ một mình định đoạt (dictate) hoàn toàn đường lối chính trị.

Người Bắc Việt quen xây dựng các quyết định trên sự nhất trí cao độ (consensus), thường trên cơ sở thỏa hiệp, và điều này có vẻ chưa thay đổi. Những lô cốt (tư tưởng) đã được thể chế hóa trong quân đội và trong bộ máy hành chính mà hôm nay nghiêng sang hướng củng cố yêu cầu phải nhất trí (quan điểm), luôn trụ vững tại miền Bắc.

Trong tình thế này, việc củng cố sức mạnh hiện tại của VNCH - một sức mạnh hoàn toàn dựa trên viện trợ tương thích của Mỹ, là vô cùng hệ trọng, vì tới một thời điểm nhất định, dù là cũng phải vài năm nữa, quyết định của Bắc Việt “giải phóng” miền Nam sẽ trở thành tương tự như quyết định giải phóng Đài Loan của Bắc Kinh - vẫn là một mục tiêu ý thức hệ quan trọng nhưng luôn bị hoãn lại chưa hoàn thành ngay - vì sự phức tạp về sứ mạng (đảm bảo) sức người sức của, và vì cấn cá nhiều mặt về chính sách cả quốc nội lẫn thế giới, hiện vẫn ngáng đường (đi tới thống nhất nước nhà của Việt Nam).

                                                                                              

 


[1]https://www.cia.gov/library/readingroom/docs/CIA-RDP86T00608R000300090001-0.pdf  Staff notes: Developments in Indochina (Tài liệu mật dành cho Phủ tổng thống Mỹ về tình hình Đông Dương) phát hành 7/1/1975, giải mật 19/4/2005.

[2]Có thể những nhận định “sái bài” như trong tờ trình này đã khiến, từ những ngày cuối cùng tháng 4/1975, trên truyền thông rộ lên loạt bài chỉ trích tình báo Mỹ. Đó là bài CIA, the US Fall – Guy (CIA nhẹ dạ) trên Newsday, 20/4/1975 Our anti - intelligence agency (Cơ quan tình báo ngược của chúng ta)  đăng trên Chicago Tribune 27/4/1975;   Vietnam cover - up: playing war with numbers (Lấp liếm ở Việt Nam: làm chiến tranh bằng những con số) của Sam Adams đăng trên Happer số tháng 5/1975… Các báo khác như Washington Post, London Times, New York Times… cũng có những bài đề cập những khiếm khuyết trong công tác tình báo của Mỹ.