Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Khái niệm "hành động" trong triết học của Hannah Arendt (I)

Hannah Arendt được biết đến như một trong những triết gia về chính trị học quan trọng nhất của thế kỷ XX. Paul Ricoeur cho rằng, kiệt tác đầu tiên của bà là cuốnNhững nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị và kiệt tác thứ hai chính là cuốn The human condition, trong đó bà bàn đến khái niệm « hành động » mà chúng tôi sẽ giới thiệu ở đây. Sự khác biệt là ở chỗ, nếu cuốn thứ nhất khiến cho Arendt ngay lập tức trở thành nhà tư tưởng chính trị hàng đầu, thì cuốn thứ hai là một tác phẩm triết học thuộc loại nền tảng dù vẫn giữ mối liên hệ với lý thuyết chính trị.

Cuốn The human condition (chúng tôi tạm dịch là « Điều kiện làm người ») là một nỗ lực suy tư của Arendt nhằm triết luận về « đời sống hoạt động » (Vita activa). Ngay đoạn mở đầu chương I của cuốn sách, bà viết : « Tôi đề nghị dùng thuật ngữ vita activa để chỉ ba dạng hoạt động căn bản của nhân loại : lao động (travail), tạo tác (oeuvre) và hành động (action). Chúng là những hoạt động căn bản vì mỗi hoạt động trong số này tương ứng với những điều kiện nền tảng trong đó đời sống được ban tặng cho con người trên trái đất này »[1].

Lao động là hoạt động đáp ứng sự tồn tại sinh học, điều kiện của lao động chính là bản thân sự sống. Để sống, để nuôi dưỡng cơ thể mình, con người buộc phải lao động. Vì thế, lao động tương ứng với phần tự nhiên, sinh học của con người ; và Arendt dùng chữ « animal laborans » (động vật lao động) để chỉ người lao động.

Tạo tác là một dạng hoạt động khác. Nó tương ứng với phần phi tự nhiên trong đời sống nhân loại. Các sản phẩm của hoạt động tạo tác là phần đóng góp của con người cho thế giới tự nhiên. Chúng được làm ra từ các chất liệu của tự nhiên nhưng chúng là đồ vật nhân tạo. Điều kiện của tạo tác là việc con người thuộc về thế giới này. Cụ thể hơn, con người tiến hành các hoạt động tạo tác vì nó thuộc về thế giới, và nó trở thành « homo faber » (con người tạo tác).

Hành động là dạng hoạt động thứ ba của nhân loại. Ở bài này chúng tôi sẽ đặc biệt tập trung phân tích khái niệm «hành động », ở một số khía cạnh căn bản của nó.

 

Hành động đồng nghĩa với hành động chính trị

Trong hệ quy chiếu của Arendt, ba dạng hoạt động căn bản này (lao động, tạo tác và hành động) bị quy định bởi điều kiện chung nhất cho sự tồn tại của con người : sự sống và cái chết, tính khả sinh (natalité) và tính khả tử (mortalité). Cái chết khiến cho đời sống mang sắc thái phù du, nó đánh dấu sự tàn lụi không thể tránh khỏi ; và vì thế các hoạt động tạo tác cho ra đời các sản phẩm có thể tồn tại lâu dài, nhằm chống lại tính phù du và hữu hạn của kiếp người. Còn hành động mang một chức năng khác : « Trong khi tập trung vào việc thành lập và duy trì các thiết chế chính trị, hành động tạo ra điều kiện cho sự bảo lưu ký ức, nghĩa là tạo ra Lịch sử »[2].

Hành động tạo ra Lịch sử. Chính trong nghĩa này mà hành động là dạng hoạt động tiêu biểu nhất cho chính trị. Trong ba dạng hoạt động căn bản của con người thì hành động gắn bó chặt chẽ nhất với tính khả sinh (chúng tôi sẽ làm rõ hơn trong phần sau của bài này). Hành động mang trong nó tính khả sinh như một sự đối lập với tính khả tử, như là để chống lại tính khả tử. Hành động là nỗ lực của con người khả tử để chống lại cái chết đã được quy định cùng với sự ra đời của nó, để chống lại cái chết chờ đợi nó ở cuối hành trình và rình rập nó bất kỳ lúc nào trên hành trình sống của nó.

Đối với Arendt, hành động là phạm trù trung tâm của các suy tưởng về chính trị. Vì sao ? Câu trả lời của Arendt rất rõ ràng, dựa trên các thành tựu của triết học chính trị thời cổ đại : con người là loại động vật xã hội, động vật chính trị. Ngoài đời sống cá nhân, gia đình, thuộc phạm vi riêng tư, con người còn tham gia vào đời sống chính trị, thuộc phạm vi công cộng. Hai hoạt động có tính đặc thù đối với đời sống chính trị, được xác định từ thời Aristote, đó là hành động và phát ngôn.

Arendt cũng phân biệt hai khái niệm : chính trị và xã hội. Theo bà, việc đồng nhất chính trị và xã hội là một sự nhầm lẫn. Bà nhận thấy rằng sự phân biệt giữa phạm vi gia đình và phạm vi chính trị đã có cùng với Thành đô thời cổ đại, nhưng phạm vi xã hội thì không phải riêng tư, cũng không phải chính trị, và nó chỉ xuất hiện về sau, vào thời hiện đại, khi mà Nhà nước-dân tộc trở thành hình thái chính trị phổ biến.

Arendt tìm cách giải quyết một « khó khăn đặc biệt » (chữ dùng của Arendt), đó là phân định phạm vi gia đình và phạm vi chính trị. Và bà đi tới chỗ nhận diện sự khác biệt căn bản mà chúng tôi trình bày ngắn gọn sau đây (và sẽ trở lại với vấn đề này vào một dịp khác) :

Trong phạm vi gia đình, con người sống cùng nhau, liên kết lại với nhau do bị thúc đẩy bởi các nhu cầu thiết yếu của sự sống, và bởi yêu cầu phải đảm bảo sự di truyền và bảo tồn của loài người. Gia đình và các hoạt động của nó đáp ứng những ràng buộc và nhu cầu tất yếu.

Trái lại, phạm vi chính trị là phạm vi của tự do. Triết học Arendt đồng nhất chính trị với tự do. Hiểu được điều này thì sẽ hiểu vì sao bà cho rằng trong các chế độ toàn trị không có chính trị. Chính trị không thể tồn tại khi không có tự do, chính trị bị huỷ diệt khi tự do bị huỷ diệt. Đồng thời ta cũng hiểu vì sao trong các chế độ toàn trị không có hành động : bởi vì hành động được hiểu là hành động chính trị, và hành động là biểu hiện của tự do, một khi bản thân chính trị và tự do đã bị huỷ diệt thì không thể có hành động.

 

Tính chất số nhiều (Pluralité) là  điều kiện của hành động và phát ngôn

Nếu sự sống là điều kiện của lao động, sự-thuộc-về-thế-giới là điều kiện của tạo tác, thì tính chất số nhiều của nhân loại là điều kiện của hành động và phát ngôn. Arendt nhấn mạnh nhiều lần rằng trên trái đất này có nhiều người sinh sống, chứ không phải chỉ có một người. Nhân loại luôn tồn tại ở dạng số nhiều.

 Bà nhận thấy rằng tính chất số nhiều của nhân loại là điều kiện cốt yếu cho hành động và phát ngôn. Vì con người đông đúc trên thế giới này nên họ cần phải phát ngôn và hành động. Tính chất số nhiều này dẫn tới hai đặc điểm của loài người : bình đẳng và riêng biệt. Arendt giải thích : « Nếu con người không bình đẳng với nhau thì họ không thể hiểu nhau, cũng không thể hiểu những gì trong quá khứ và không thể chuẩn bị được cho tương lai. Nếu con người không có tính riêng biệt, mỗi một cá thể tự phân biệt với mọi cá thể khác, trong hiện tại, quá khứ hay tương lai, thì có lẽ họ không cần cả ngôn từ lẫn hành động để làm cho người khác hiểu mình. Chỉ cần dấu hiệu và tiếng động để thông báo các nhu cầu hay ham muốn tức thời và giống hệt nhau »[3].

Arendt phân biệt giữa tính cá thể (individualité) và tính khác biệt (altérité). Tính khác biệt là một đặc điểm quan trọng của tính chất số nhiều. Nhưng tính khác biệt là đặc điểm của những gì có thể tăng về số lượng một cách thuần tuý và đơn giản ở các đồ vật vô cơ (ví dụ : hai cái bàn khác nhau nhưng y hệt nhau). Trong khi mà mọi đời sống hữu cơ thì đều thể hiện sự riêng biệt (chẳng hạn hai cái cây hay hai con mèo : vừa khác nhau vừa riêng biệt). Nhưng chỉ có con người là có khả năng diễn tả sự riêng biệt này, và có khả năng và có ý thức tự làm cho mình thành ra riêng biệt. Con người vừa có tính khác biệt, vừa có tính riêng biệt ; và ở con người hai đặc điểm này trở thành tính độc nhất (unicité). Do vậy, nghịch lý của tính chất số nhiều của con người là ở chỗ : nhân loại nhiều, đông (hiện nay thế giới có hơn 7 tỷ người), nhưng mỗi người lại là độc nhất, duy nhất, không ai giống ai cả.

Nhưng làm thế nào để biết được mỗi người là độc nhất ?

Câu trả lời của Arendt là : Lời nói và hành động giúp làm hiển lộ bản sắc và tính độc nhất của mỗi cá thể.

Lời nói và hành động làm phát lộ tính chất cá thể duy nhất. Nhờ lời nói và hành động mà con người tự làm cho mình trở nên riêng biệt, thay vì chỉ đơn giản chỉ là phân biệt với người khác. Đó là cách thức con người xuất hiện trước người khác, không chỉ như là một đối tượng vật lý, mà với tư cách là con người. Chính là thông qua hành động và phát ngôn của mình mà mỗi người tự khẳng định mình như một cá thể duy nhất, tự phân biệt mình với số đông tạo nên loài của mình. Nếu sống mà không nói năng và không hành động, thì đó có thể nói là chẳng khác gì chết (« morte au monde », theo cách nói của bà). Đó không còn là cuộc sống của con người, vì người ta không còn sống giữa những người khác.

 

Hành động có nghĩa là sinh ra lần thứ hai

Arendt khẳng định : «Chính là bằng lời nói và hành động mà ta tham gia, hoà nhập vào thế giới người. Sự gia nhập vào thế giới người được xem như là sinh ra lần thứ hai, cùng với nó mà ta khẳng định và đảm bảo cho sự xuất hiện vật lý của ta trên đời này khi được sinh ra. »[4].

 Lần sinh ra thứ nhất, sự xuất hiện vật lý của ta ở trên đời này không phụ thuộc vào ta, không do ta quyết định. Chính là cùng với hành động mà ta có thể quyết định tự sinh ra mình một cách chủ động, có ý thức. Hành động mang lại ý nghĩa và giá trị cho sự tồn tại vật lý của ta. Cơ thể vật lý của ta hình thành nhờ bố mẹ ta, nhưng nhân vị và giá trị người của ta do chính ta quyết định bằng hành động của mình.

Điều đáng nói là chúng ta không bị bắt buộc phải hoà nhập vào thế giới người, như là bắt buộc phải lao động để sinh tồn. Chúng ta cũng không bị bắt buộc phải cam kết đảm bảo tính lợi ích như khi chúng ta thực hiện hoạt động chế tạo. Hành động không bị điều kiện hoá bởi người khác. Động năng của nó đến từ đâu ? Từ việc chúng ta đến với thế giới này, kể từ thời khắc chúng ta sinh ra đời. Mỗi người sinh ra là một sự khởi đầu, riêng biệt, một sự khởi đầu tự nhiên. Chúng ta hành động là để đáp lại sự khởi đầu sinh học của mình bằng một sự khởi đầu có ý thức, bằng cách bắt đầu một điều gì mới mẻ từ sáng kiến riêng của chúng ta. « Hành động, theo nghĩa chung nhất, có nghĩa là đề ra một sáng kiến, thực hiện (như từ Hy lạp « archein » nêu rõ các nghĩa : « bắt đầu », « dẫn dắt » và có thể cả « chỉ huy » nữa), thúc đẩy vận động (nghĩa gốc của từ Latinh agere). »[5]. Bằng việc được sinh ra ở trên đời này, con người là những kẻ mới đến, những kẻ sáng tạo, vì thế nó đề đạt các sáng kiến và đi tới chỗ hành động.

Arendt cho rằng trong bản chất của nó, sự khởi đầu bao hàm một cái gì mới mẻ mà trước đó không có. Thế nên sự khởi đầu luôn có tính bất ngờ, gây ngạc nhiên. Bà viết : « Việc con người có khả năng hành động có nghĩa là người ta có thể chờ đợi ở nó điều bất ngờ, và con người có khả năng thực hiện những điều bất khả. ». Vì sao có điều này ? Vì mỗi người là duy nhất, mỗi con người ra đời chính là một điều duy nhất mới mẻ xuất hiện trên thế giới này. « Đối với cái con người duy nhất này, ta thực sự có thể nói rằng trước đó không có ai cả »[6].

Để diễn giải ý này, Arendt trích một câu của Thánh Augustin : « Để có sự khởi đầu mà con người được tạo ra, trước nó không có ai cả ». Trong quan niệm của Arendt, sự khởi đầu này khác với sự khởi đầu của thế giới, vì đây không phải là sự bắt đầu của một cái gì, mà là sự bắt đầu của một ai đó, mà bản thân « ai đó » này là kẻ sáng tạo. Cùng với sự sáng tạo ra con người mà thế giới hình thành nguyên tắc khởi đầu. Đối với Arendt, đây chỉ là một cách nói, để nói rằng nguyên tắc sáng tạo và nguyên tắc tự do được tạo ra cùng với sự ra đời của con người, chứ không phải là trước khi có nó. Trước khi có con người thì không có « ai » cả, vì thế không đặt ra vấn đề tự do. Chữ « ai » của Arendt rất quan trọng. Trước khi có con người có thể có « cái gì » đó, nhưng không có « ai » cả. « Ai » cũng chính là yếu tính làm nên con người trong tư cách là con người, chính là nhân vị của mỗi người.

Suy tư về vấn đề nhân vị dẫn Arendt tới chỗ khám phá ra mối quan hệ giữa hành động và lời nói mà chúng tôi sẽ trình bày trong phần sau của bài này.

Sài Gòn, ngày 1/9/2018

(Còn nữa, kỳ sau đăng tiếp)


[1]Hannah Arendt, La condition de l’homme moderne, bản dịch tiếng Pháp của Georges Fradier, Calmann-Lévy, 1961, tr.41.

[2]Ibid., tr.43.

[3]Ibid., tr.231-232.

[4]Ibid., tr.233.

[5]Ibid., tr.233.

[6]Ibid., tr. 234.