Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Lập trường của Mỹ trước việc Pháp tái chiếm Đông Dương (1945 - 1946) [Phần 2]

III.

Sau cái chết của F.D.Roosevelt, người kế nhiệm H.S.Truman từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại; theo đó, H.S.Truman đã xem xét lại một cách căn bản ý tưởng thiết lập chế độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương của F.D.Roosevelt. Mỹ dần thay đổi thái độ, trở nên mềm mỏng hơn và Ngoại trưởng Mỹ E.R.Stettinius đã khẳng định với Ngoại trưởng Pháp Georges Bidault như sau: "Mỹ chưa từng đặt vấn đề nghi ngờ chủ quyền của pháp ở Đông Dương mặc dù một số chính giới ở Mỹ có chỉ trích chính sách trước đây của Pháp đối với khu vực này"[1]. Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng, dù từ bỏ chính sách loại người Pháp ra khỏi mảnh đất này, bỏ qua những nỗ lực mà Tổng thống F.D.Roosevelt theo đuổi một thời gian dài trong giải quyết vấn đề Đông Dương, song Washington vẫn mong muốn Pháp trao cho Đông Dương quyền tự trị[2]. Trong Hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc (8-5-1945), tuyên bố không phản đối chủ quyền Pháp ở Đông Dương, song Bộ Ngoại giao Mỹ yêu cầu Pháp cải thiện điều kiện chính trị, kinh tế ở bán đảo này, bày tỏ hy vọng sớm nhìn thấy một Đông Dương tự trị. Tại Hội nghị Potsdam (7-1945), sự lập lờ nước đôi của Hoa Kỳ về Đông Dương được chứng thực bởi quyết định cho phép người Anh giải giáp quân đội Nhật ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào phía Nam. Điều đó cũng có nghĩa là đã tạo ra một đảm bảo chắc chắc từ phía các nước Đồng minh đối với sự trở lại Đông Dương của người Pháp, bởi hơn ai hết, Anh luôn là nước trung thành với quan điểm duy trì chế độ thuộc địa cũng như kiên quyết ủng hộ Pháp trở về lãnh địa Đông Dương- trên lập trường ấy, việc Anh giúp Pháp tái chiếm Đông Dương là tất yếu.

 Tháng 8-1945, Chính phủ Hồ Chí Minh nắm quyền lãnh đạo đất nước, tuyên bố thành lập nước VNDCCH. Trước đó, sớm nhận thấy vai trò của Mỹ trong giải quyết các vấn đề quốc tế, ngay từ năm 1944, Hồ Chí Minh đã thiết lập quan hệ với tổ chức Office of Strategic Services (OSS) của Mỹ đang hoạt động ở miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, hy vọng rằng hợp tác với Hoa Kỳ có thể mang lại sự ủng hộ của Washington đối với vấn đề độc lập của Việt Nam sau chiến tranh. Sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, tin tưởng ở thiện chí của nước Mỹ, Chính phủ Hồ Chí Minh đã liên tiếp gửi công hàm, thư, điện đến Tổng thống H.S.Truman và Ngoại trưởng G.Byrnes, đề nghị can thiệp, buộc Anh chấm dứt những hành động vi phạm quyền dân tộc của Việt Nam, yêu cầu người Anh thực hiện những nguyên tắc tự do, tự quyết của Hiến chương Đại Tây Dương[3]. Không dưới một lần, Hồ Chí Minh đề nghị nước Mỹ với tư cách là những chiến sĩ bảo vệ công bằng thế giới có những bước đi quyết định ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Đặc biệt, để tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ cũng như một số nước khác, “phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà”[4], Đảng cộng sản Đông Dương đã tuyên bố tự giải tán (11-1945); đồng thời, Hồ Chí Minh tranh thủ mọi cơ hội để bày tỏ với Mỹ về việc Việt Nam hy vọng sự giúp đỡ từ nước này hơn là từ Liên Xô[5].
Trước những yêu cầu khẩn thiết của Chính phủ Hồ Chí Minh, phản ứng của Mỹ là khá bất lợi -Washington đã im lặng. Cánh cửa hy vọng của Việt Nam DCCH từ phía Mỹ đã bị khóa chặt, bởi tin tức OSS gửi về (OSS có mặt tại Hà Nội ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công) đã khẳng định chắc chắn rằng, Việt Minh hoàn toàn là một tổ chức cộng sản[6] và sự kiện Đảng CSĐD giải tán chỉ là một bước đi sách lược. Trong khi đó, từ tháng 8-1945, nước Pháp không ngừng hứa hẹn sẽ cho phép cả Mỹ và Anh tiếp cận, khai thác các nguồn lực kinh tế của Đông Dương sau khi Pháp quay trở lại[7]. Và việc gì đến đã phải đến - vào cuối tháng 8-1945, Tổng thống H.S.Truman chính thức tuyên bố với Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đang ở thăm Washington rằng, Hoa Kỳ ủng hộ sự trở lại Đông Dương của Pháp[8]. Quyết định này của Nhà Trắng được đánh giá là một trong những quyết định có tính định hình tiến trình lịch sử thế giới và khu vực Đông Nam Á trong nhiều thập kỷ sau đó.
Tháng 9-1945, thực hiện nhiệm vụ vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật Bản theo quyết định của Hội nghị Potsdam, quân đội Anh đã tái vũ trang cho tù binh Pháp. Ngày 23-9-1945, được người Anh hậu thuẫn, quân đội Pháp đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện cuộc tái chiếm Việt Nam và Đông Dương. Sự thay đổi thái độ của Mỹ đối với Đông Dương đã tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất định cho Pháp quay trở lại nơi này, nhất là khi Pháp có được sự giúp đỡ của người đồng cảnh ngộ và đồng lợi ích trên vấn đề thuộc địa là nước Anh. Cần nói thêm rằng, dù không chống lại việc Pháp tái lập quyền thống trị đối với Đông Dương, song Mỹ vẫn e ngại quyết định này làm hỏng hình ảnh một nước Mỹ phản đối chính sách thực dân; do đó, tháng 10-1945, khi tuyên bố “không phản đối việc tái lập quyền kiểm soát Đông Dương của Pháp”[9], Mỹ đồng thời khẳng định không ủng hộ người Pháp thiết lập quyền thống trị đối với Đông Dương bằng vũ lực, chỉ chấp nhận cho Pháp lập lại sự kiểm soát ấy trên cơ sở có được sự ủng hộ của dân chúng Đông Dương. Có vẻ như Mỹ giữ thái độ trung lập, không chấp nhận chính quyền VNDCCH cũng không giúp Pháp đánh chiếm Đông Dương để bảo toàn vị thế quốc gia luôn ủng hộ việc thiết lập một thế giới công bằng. Song, nếu đặt thái độ trung lập đó trong bối cảnh của một cuộc đối đầu không cân sức giữa Việt Minh và Pháp, thì thực ra người Mỹ đã nghiêng hẳn và ngầm ủng hộ đồng minh của mình là nước Pháp. Thật vậy, phân tích những diễn tiến trong thái độ của Mỹ đối với Đông Dương, Đô đốc Anh Mountbatten đã chắc nịch khẳng định với Tướng Leclerc: “Với cái chết của Roosevelt, Pháp có thể quay trở lại Đông Dương, vấn đề quản thác quốc tế cho Đông Dương đã trở thành vô nghĩa”[10]. Hoàn toàn vững tâm bởi những chuyển biến có lợi cho mục tiêu quay trở lại Đông Dương, Tổng thống Pháp Charles de D Gaulle tuyên bố: "Lập trường của Pháp về Đông Dương rất đơn giản: Pháp có ý định thu hồi chủ quyền của mình trên toàn Đông Dương. Dĩ nhiên là sự khôi phục đó sẽ kéo theo một thể chế mới, nhưng đối với chúng tôi, chủ quyền của Pháp là vấn đề hàng đầu"[11].
Nhận định về sự thay đổi trong chính sách của Mỹ đối với Đông Dương từ tháng 2-1945, George Herring cho rằng đó là kết quả của những tính toán nhằm nhận được sự hỗ trợ mang tính đòn bẩy của Pháp trong cuộc chiến chống Liên Xô[12]. Không chỉ có vậy, trong khi ủng hộ quyền tự quyết dân tộc, Hoa Kỳ còn bị ràng buộc bởi các mối quan hệ với những đồng minh châu Âu- những quốc gia sở hữu số lượng lớn thuộc địa, đã và đang làm giàu từ những mảnh đất màu mỡ ấy. Chịu tác động, chi phối bởi những phức tạp từ cuộc Chiến tranh Lạnh (dù mới chớm nở song đã hứa hẹn những cạnh tranh, đối đầu quyế liệt) cũng nhu cầu củng cố quan hệ đồng minh để đối phó với một thế giới cộng sản đang mở rộng hàng ngày, hàng giờ và tham vọng chiến lược của Liên Xô ở châu Âu, Hoa Kỳ khó có thể hành động dứt khoát hơn. Thái độ của Washington đối sự việc Pháp tái chiếm Việt Nam còn được đặt dưới lăng kính của các vấn đề châu Âu, nhất là Paris đã một vài lần ý tứ đề cập đến việc rút lui khỏi Kế hoạch Marshall nếu không được bật đèn xanh cho việc trở lại Đông Dương vô điều kiện[13]. Ngoài ra, Mỹ còn lo ngại rằng thoát ra khỏi chế độ thuộc địa, các quốc gia mới giành độc lập có thể nhận sự hỗ trợ từ Liên Xô, rơi vào vùng ảnh hưởng của khối cộng sản –điều đó chắc chắn dẫn đến những thay đổi trong cán cân lực lượng nghiêng về phía có lợi cho Liên Xô; đồng thời, đánh mạnh/làm giảm các nguồn lực kinh tế của các đồng minh của Mỹ, khiến thế giới tư bản bị thu hẹp và suy yếu. Các phong trào đấu tranh đòi độc lập diễn ra liên tiếp, sôi nổi, mạnh mẽ trên nhiều khu vực của thế giới càng củng cố thêm mối lo ngại này của Hoa Kỳ và một nước Việt Nam cộng sản không phải là sự lựa chọn của Washington vào thời điểm đó cũng như nhiều năm sau này.
Viết về cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhiều nhà nghiên cứu thường đề cập đến “một nền hòa bình bị bỏ lỡ”. Một câu hỏi được đặt ra là: Từng có hay không một nền hòa bình bị bỏ lỡ? Câu trả lời là không khi đặt các chủ thể có liên quan trực tiếp và có vai trò quyết định đối với nền hòa bình ấy trên một trục tham chiếu: Pháp không bao giờ chịu từ bỏ Đông Dương, VNDCCH lựa chọn con đường giải phóng dân tộc, đi tới độc lập, tự do dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác –Lênin, còn Mỹ thì bị ám ảnh bởi bóng ma của chủ nghĩa cộng sản và dẫn dắt bởi niềm tin tuyệt đối là phải chống lại bóng ma ấy.
---------------------------------
[1]U.S. Department of State: Foreign Relations of the United States, Government Printing Office, Vol VI, Washington, D.C 1970, p.307.
[2] William Conrad Gibbons:The U.S. government and the Vietnam war, Excutive and Legislative roles and relationships, part I, 1945-1960, Princeton University press, Princeton, New Jersey, 1986, p.21.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.137.
[4] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.19.
[5] William J. Duiker:Ho Chi minh, A life, Hyperion, New York, 2000, p.366.
[6] Office of the Secretary of Defense: United States - Vietnam Relations 1945 - 1967 (The Pentagon Papers), Volume 1, Nimble Books, 2011, p.66.
[7] Gabriel Kolko: The United States in Vietnam 1944-66: Origins and Objectives of an Intervention Objectives of an Intervention, Ibid, p.18.
[8] Gabriel Kolko: The United States in Vietnam 1944-66: Origins and Objectives of an Intervention Objectives of an Intervention, Ibd, p.19.
[9] The Pentagon Papers Gravel Edition, Ibid.
[10] The Pentagon Papers Gravel Edition, Ibid.
[11] De Gaulle bluntly reaffirms French position in Indochina, End Of Empire.asia.
[12] George S. Herring, "The Truman Administration and the Restoration of French Sovereignty in Indochina", Ibid, p.112.
[13] America’s Vietnam War in Indochina, us.history.com