Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ

  1. Khúc Tiên Chúa nhân thời cơ giành độc lập

        Ngót một ngàn năm đô hộ, đất nước ta có những cuộc nổi dậy ở tầm mức lớn, như khởi nghĩa Hai Bà Trưng tồn tại trong vòng 3 năm [40-43], nhà Tiền Lý được18 năm [544-602], cuối cùng rơi vào vòng nô lệ. Phải đợi đến lượt Khúc Thừa Dụ, vị lãnh tụ đầu tiên thuộc họ Khúc, được người đời tôn là Khúc Tiên Chúa(1), đất nước ta bắt mới đầu giành độc lập.

        Sách Khâm Định Việt Sử Cương Mục chép:

        “Tháng Giêng, mùa Xuân. Nhà Đường gia phong chức đồng bình chương sự cho quan Tĩnh Hải quân tiết độ sứ là Khúc Thừa Dụ.

Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu [thuộc tỉnh Hải Dương].Thừa Dụ, tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ và xin mệnh lệnh với nhà Đường; nhân thế vua Đường cho làm chức ấy(2).

        Sử Trung Quốc, Tư Trị Thông Giám Cương Mục của Tư Mã Quang ghi tương tự:

Đường Chiêu Tông Đế năm Thiên Hựu thứ 3 [906]

 Ngày Ất Sửu tháng Giêng [7/2/906], thăng cho Tĩnh hải tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ chức Đồng bình chương sự. 乙丑,加靜海節度使曲承裕同平章事。Tư Trị Thông Giám quyển 265

       Bằng cách nào một thường dân Việt Nam giành được nền độc lập cho nước nhà, được nhà Đường công nhận, phong tước hiệu Đồng bình chương sự, trên danh nghĩa ngang hàng với Tể tướng. Hãy xét về thời, thế, cơ, 3 yếu tố cần cho sự thành công; để tìm hiểu tiến trình thúc đẩy Khúc Thừa Dụ dấy lên, lập nên công nghiệp lớn:

      Thời: bấy giờ Trung Quốc vào thời Đường mạt, Vua Tuyên Tông hoang dâm vô độ, Phiên trấn tại các địa phương nổi lên, trường kỳ tranh quyền với triều đình; đồng thời hoạn quan chuyên quyền, chính trị hủ bại; xã hội suy vi trầm trọng, dân không sống nổi. Năm Đại Trung thứ 3 [859] Cừu Phủ tại miền Đông tỉnh Chiết Giang lãnh đạo nông dân nổi dậy. Đến đời Vua Ý Tông năm Hàm Thông thứ 9 [868], Bàng Huân tại Quế châu [Quế Lâm, Quảng Tây] lãnh đạo quân trú phòng nổi dậy, sử gọi là “Bàng Huân chi loạn 龐勳之變”. Hai loạn này tuy bị triều đình nhà Đường dập tắt sớm, nhưng chúng là tiếng nói đầu tiên báo hiệu cho mối loạn qui mô hơn, đó là cuộc nổi dậy của Hoàng Sào. Một trong những soạn giả Tân Đường Thư, Tống Kỳ(3) có lý, khi nhận xét rằng: “Nhà Đường mất bởi loạn Hoàng Sào, nhưng mối họa bắt đầu từ Quế Lâm 唐亡於黃巢,而禍基於桂林”

      Đời Ý Tông Càn Phù năm thứ 2 [875] Hoàng Sào nổi dậy tại Oan Cú [Hà Trạch thị] Sơn Đông. Tránh lực lượng mạnh của phiên trấn tại vùng trung nguyên tỉnh Hà Nam, Hoàng Sào xua quân về phía Nam, vượt sông Dương Tử, hoạt động tại vùng Lưỡng Hồ, phía nam An Huy, đông Chiết Giang, Phúc Kiến. Năm Càn Phù thứ 6 [879], Hoàng Sào vào vùng phía Nam Ngũ Lãnh, đánh chiếm thành lớn Quảng Châu, bắt sống Tiết độ sứ Lý Điều, quân đến 100 vạn, khống chế đại bộ phận Quảng Đông, Quảng Tây. Tại đây Hoàng Sào bố cáo: Sẽ mang đại quân đến kinh đô Trường An, lật đổ sự thống trị của nhà Đường. Tháng 10, quân Hoàng Sào lên phía Bắc chiếm Quế Lâm [Quảng Tây], rồi dùng bè xuôi dòng sông Tương tiến chiếm Đàm châu [Hồ Nam]. Tiếp tục qua Ngạc châu [Vũ Xương, Hồ Bắc], hướng về Đông tiêu diệt quân của Đại tướng Trương Lân; sau đánh Tín châu [Giang Tây], Tuyên châu [An Huy]. Đường Hy Tông Quang Minh thứ 1 [880], Hoàng Sào cho quân vượt sông Hoài, tiến chiếm Đông đô Lạc Dương, đến năm sau [881] vào chiếm kinh đô Trường An, lập chính quyền Đại Tề với niên hiệu Kim Thống.

      Vua Đường Hy Tông phải rút lui sang đất Kiếm Nam [Tứ Xuyên], thu thập tàn quân chống cự. Bấy giờ Đại tướng Chu Ôn [tức Chu Toàn Trung, sau này cướp ngôi nhà Đường lập nên nhà Hậu Lương] phản Hoàng Sào, theo Đường; quân Hoàng Sào bị tổn thất nặng, nên phải rút ra khỏi kinh thành Trường An,  trở về vùng núi Thái Sơn tại Sơn Đông. Vào tháng 6 năm Trung Hòa thứ 4 [884], tại cốc Hổ Lang, Lai Vu [Lai Vu thị, Sơn Đông], Hoàng Sào giao chiến với tướng Đường, Thời Phổ, quân thua bèn tự tử.

      Cơ: Trong khi Hoàng Sào tung hoành tại Trung Quốc, chính quyền địa phương thuộc Đường tại An Nam Đô Hộ Phủ bị cắt đứt với chính quốc; quân lính nhà Đường làm loạn, tự động bỏ hàng ngũ trở về Ung châu [Nam Ninh], sử chép:

Đường Hy Tông năm Quảng Minh thứ nhất [880],

Tháng 3, quân loạn tại An Nam, Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ thành trốn; các đạo binh thuộc Ung quản tự động rút về.安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸。(Tư Trị Thông Giám, quyển 253)

     Thế: Tiên chúa Khúc Thừa Dụ, một phú hào có học tại đất Hồng Châu [Hải Dương], lấy sự hiểu biết làm sức mạnh [Knowledge is power], chớp lấy thời cơ, vận động nhân dân vốn sẵn lòng căm ghét giặc ngoại xâm từ ngàn năm, đồng loạt nổi dậy; đuổi kẻ xâm lăng ra khỏi bờ cõi, giành lại nền độc lập cho nước nhà.

      Việc làm của Tiên Chúa sáng suốt, bởi biết lợi dụng thời cơ mà tạo thế, bỏ sức ít mà công hiệu nhiều; khi ngoại xâm không còn ý chí chiến đấu, quân lính trên đường rã ngũ, thì việc đuổi chúng cũng dễ như đuổi một bầy gà! Tiên Chúa đã khéo thực hiện nguyên tắc kỳ diệu về sách lược dẫn đến thành công; mà trước Công Nguyên Lão Tử [老子] [chết 553 BC] đã đề ra, tại chương 63 sách Đạo Đức Kinh [道德經] như sau:

Đồ nan ư kỳ dị, vi đại ư kỳ tế; thiên hạ nan sự tất tác ư dị, thiên hạ đại sự tất tác ư tế

(圖難於其易,爲大於其細。天下難事必作於易,天下大事必作於細.)

      Dịch nghĩa:

 Mưu đồ việc khó từ điểm dễ nhất, mưu đồ việc lớn từ cái nhỏ nhất. Việc khó khăn trong thiên hạ hãy ra tay từ chỗ dễ, việc lớn trong thiên hạ hãy bắt đầu từ chỗ nhỏ.

      Giành độc lập cho nước nhà là việc khó, việc lớn nhất; Tiên Chúa đã chọn chỗ dễ là lúc nước cừu địch đắm chìm trong nội loạn để ra tay thành công.

Cùng vào thời trước Công Nguyên với Lão Tử, tại nước Hy Lạp phương Tây, nhà vật lý Archimedes [212 Bc] cũng có câunói nổi tiếng: “Hãy cho tôi một điểm tựa tôi có thể nâng cả trái đất này lên.” (Give me a place to stand and I will move the earth).

      Áp dụng câu nói này với việc làm của Tiên Chúa, thấy rằng Ngài đã dựa vào điểm tựa thời cơ một cách chuẩn xác, thành công bẫy lên được tảng đá nô lệ, đè nặng trên đầu dân tộc ta suốt cả ngàn năm.

      Bấy giờ nền độc lập của nước Việt còn non trẻ, để tránh việc binh đao có thể xảy ra, Tiên Chúa sai sứ sang Trung Quốc cầu phong; việc làm cũng đúng thời điểm; vì Vua Đường đang bị Chu Toàn Trung áp chế, sắp sửa cướp ngôi, nên đành phải chấp nhận Tiên Chúa cai quản An Nam, sau đó phong chức Tiết độ sứ:

Đường Chiêu Tuyên Đế năm Thiên Hựu thứ 3 [906]

Ngày Ất Sửu tháng Giêng [7/2/906], thăng cho Tĩnh hải tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ chức Đồng bình chương sự.乙丑,加靜海節度使曲承裕同平章事。(Tư Trị Thông Giám quyển 265)

       Năm 907, tại Trung Quốc, Chu Toàn Trung, cướp ngôi nhà Đường lập nên nhà Hậu Lương; gọi là Lương Thái Tổ, niên hiệu Khai Bình. Tuy là Vua đầu tiên thời Ngũ Đại, nhưng Lương Thái Tổ còn phải đối phó với các lực lượng cát cứ, lập nên 10 nước nhỏ, sử gọi là “Thập Quốc”. Tình hình trong nước như vậy, Vua Lương cũng không rảnh tay can thiệp vào nước ta, nên sau khi nghe tin Tiên Chúa mất bèn phong cho con là Khúc Hạo làm Tiết độ sứ:

Lương Thái Tổ Khai Bình năm thứ nhất [907],

Ngày Giáp Dần tháng 7 [8-9/907] Tĩnh hải Tiết độ sứ Khúc Dụ chết; ngày Bính Thân cho người con quyền Tri lưu hậu Hạo làm Tiết độ sứ. 使丙申,以其子權知留後顥為節度使。(Tư Trị Thông Giám quyển 266)”

       Mấy năm sau, Tiết độ sứ Khúc Hạo mất, lại tiếp tục phong cho con là Khúc Thừa Mỹ làm Tiết độ sứ:

Lương Thái Tổ ngày Mậu Ngọ tháng 12 năm Càn Hòa thứ 1 [31/12/911].

Ngày Mậu Ngọ tháng 12 [31/12/911],cho Tĩnh Hải Lưu hầu Khúc Mỹ làm Tiết Độ Sứ. 戊午,以靜海留後曲美為節度使。(Tư Trị Thông Giám, quyển 268)

      Khúc Thừa Mỹ không nhạy bén về thời cuộc như ông nội, vẫn tin tưởng rằng giao hảo tốt với nhà Hậu Lương thì yên ổn, không hiểu được tình hình Trung Quốc biến đổi hàng ngày. Bấy giờ thuộc thời Ngũ Đại, trong vòng trên 50 năm [907-960] chia thành 5 triều đại: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu; mỗi triều đại có vài vua nối tiếp trị vì, có triều đại như nhà Hậu Hán vận mệnh ngắn ngủi, chỉ được 4 năm! Trung Quốc tuy có vua tại trung ương, nhưng quần hùng cát cứ lập nên các nước nhỏ, gọi là Thập Quốc. Riêng tại vùng Lãnh Nam tức Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay; phiên trấn Lưu Cung tự động lên ngôi vua vào năm 917, lập nên nước Nam Hán, đóng đô tại Phiên Ngung [Quảng Châu]; Nam Hán là 1 trong Thập Quốc lúc bấy giờ.

      Lãnh thổ An Nam sát nách với nước Nam Hán; vua Nam Hán vốn là tay hiếu chiến bèn sai tướng là Lương Khắc Trinh mang quân sang nước ta, đánh bắt Khúc Thừa Mỹ đưa về Phiên Ngung [Quảng Châu]:           

Đường Minh Tông năm Trường Hưng thứ nhất [930].

Tháng 9 [10/930], chúa Nam Hán sai tướng là Lương Khắc Trinh, Lý Thủ Phu đánh chiếm Giao Châu, bắt Tĩnh hải quân Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ đem về, sai tướng là Lý Tiến giữ Giao Châu.

Tháng 10, tướng Nam Hán, Lương Khắc Trinh vào đánh Chiêm Thành, lấy đồ vật quí mang về. 漢主遣其將梁克貞、李守鄜攻交州,拔之,執靜海節度使曲承美以歸,以其將李進守交州。漢將梁克貞入占城,取其寶貨以歸。Tư Trị Thông Giám, quyển 277

     Triều đại họ Khúc tương đối ngắn, truyền được 3 đời, nhưng đào tạo được các tướng lãnh giỏi như Dương Đình Nghệ(4), Ngô Quyền, có chí thừa kế. Nhờ vậy nước An Nam chỉ tạm thời bị nước Nam Hán chiếm trong vòng 1 năm; Dương Đình Nghệ mang quân từ Thanh Hóa ra, đánh bại Lý Tiến chạy về Trung Quốc, lại tiêu diệt quân tiếp viện của Trịnh Bảo:

Đường Minh Tông năm Trường Hưng thứ 2 [931]

 Tháng Chạp, tướng châu Ái [Thanh Hóa] Dương Đình Nghệ dưỡng 3.000 con nuôi, mưu đồ khôi phục Giao Châu; Chỉ huy Giao Châu, Lý Tiến, biết được, nhưng nhận hối lộ nên không báo tin về nước. Vào năm này Đình Nghệ mang quân vây Giao Châu, vua Nam Hán sai Thừa chỉ Trình Bảo mang quân đến cứu, chưa đến nơi thì thành đã mất. Lý Tiến trốn về, bị vua Hán giết; Đình Nghê mang binh đánh, Bảo thua chết. 愛州將楊廷藝養假子三千人,圖復交州;漢交州守將李進知之,受其賂,不以聞。是,廷藝舉兵圍交州,漢主遣承旨程寶將兵救之,未至,城陷。進逃歸,漢主殺之。寶圍交州,廷藝出戰,寶敗死。Tư Trị Thông Giám quyển 277

      Đến năm Đinh Dậu [937], Kiều Công Tiện làm phản, giết Đình Nghệ, rồi cầu cứu quân Nam Hán sang giúp. Lại cũng chỉ 1 năm sau, tức năm Mậu Tuất [938] Ngô Quyền đại thắng tại sông Bạch Đằng, giết Thái tử Hoàng Thao. Vua Nam Hán Lưu Cung tuy đóng binh yểm trợ tại cửa biển, nghe tin con chết chỉ biết gào khóc, chứ không dám có hành động gì hơn; cái thế độc lập của nước ta đã có cơ sở.

***

      Tiên chúa Khúc Thừa Dụ đã áp dụng sách lược “Việc khó hãy bắt đầu bằng chỗ dễ”, nên tổn thất ít mà thành công nhiều. Đọc qua sử nước nhà, thấy Vua Lê Lợi cũng theo nguyên tắc này, gặt hái được thành công. Trong khi đang vây thành Nghệ An [1426], được tin cánh quân của Lý Triện chiến thắng tại Bắc Hà; bèn giao cho quân địa phương uy hiếp thành này, mang đại quân ra vây Đông Đô [Hà Nội]. Tuy vây mà không cần đánh; nhắm tiêu diệt đạo quân tiếp viện của Liễu Thăng tại ải Chi Lăng, khiến quân giặc thế cùng lực tận phải xin rút quân ra khỏi nước. Giả sử nhà vua câu nệ, đánh từng thành, từng tỉnh, từ miền Trung ra Bắc, sẽ mất thêm thời gian, hy sinh thêm biết bao sinh mệnh.

      Cả 2 vị anh hùng trong lịch sử nước nhà, linh động áp dụng nguyên tắc “Mưu đồ việc khó từ điểm dễ nhất, mưu đồ việc lớn từ cái nhỏ nhất. Việc khó khăn trong thiên hạ hãy ra tay từ chỗ dễ, việc lớn trong thiên hạ hãy bắt đầu từ chỗ nhỏ”; kết quả dành được nền độc lập cho nước nhà.

       2. Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, củng cố nền độc lập [939-944]

      Ngô Quyền người xã Đường Lâm tỉnh Sơn Tây [theo An Nam Kỷ Yếu, quê tại  châu Ái, Thanh Hóa], là tướng giỏi của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, nên được Tiết độ sứ gả con gái cho; rồi cho giữ Ái Châu. Sau khi phản tướng Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ [937], Ngô Quyền mang quân từ châu Ái ra Bắc, đánh Kiều Công Tiễn; Công Tiễn không chống nổi, bèn mang của cải đút lót cho vua Nam Hán để xin cứu viện.

      Đối phó với thù trong giặc ngoài, tướng Ngô Quyền ra tay diệt tan bè lũ Kiều Công Tiễn trước, rồi chuẩn bị chiến trận chống Nam Hán. Vua Nam Hán muốn nhân loạn chiếm nước Việt, bèn sai con là Vạn vương Hoằng Thao mang thủy quân sang đánh, riêng Vua Hán đóng quân tại cửa biển để làm thế yểm trợ. Hậu quả Hoằng Thao chết trận, quân tan, vua Hán khóc ròng, rút quân trở về nước, Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang chép về sự kiện này như sau:

Tư Trị, quyển 281, Tấn Cao Tổ năm Thiên Phúc thứ 3 [938],

Tháng 10, tướng cũ của Dương Diên Nghệ [楊延藝] (5) là Ngô Quyền mang quân đánh Kiều Công Tiễn tại Giao Châu; Công Tiễn sai sứ hối lộ cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Hán muốn thừa lúc loạn đánh lấy, bèn cho con là Vạn vương Hoằng Thao làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ tiến phong Giao vương, mang quân cứu Công Tiễn; vua Hán đích thân đóng tại cửa biển để làm thế thanh viện. Vua Hán hỏi Sùng văn sứ Tiêu Ích về sách lược, Ích tâu:

 ‘Nay trời mưa lâm râm suốt tuần, đường biển xa xôi hiểm trở, Ngô Quyền lại là tay kiệt hiệt, nên không thể khinh địch. Đại quân cần từ từ thận trọng, dùng nhiều hướng đạo dân địa phương, mới nên tiến.’

Vua không nghe, ra lệnh Hoằng Tháo điều chiến thuyền theo sông Bạch Đằng tiến vào Giao Châu. Lúc này Quyền đã giết Công Tiễn, chiếm toàn Giao Châu, rồi mang quân đánh ngược lại. Trước hết tại cửa biển cho chôn cọc vót nhọn có bọc sắt; lại sai khinh binh khiêu chiến rồi giả thua rút. Hoàng Thao xua quân đuổi; chẳng bao lâu thủy triều xuống, tàu vướng cọc sắt không rút lui được, quân Hán thua to, quan quân bị lật tàu chết trôi quá nửa. Hoằng Tháo chết, vua Hán gào khóc, thu tàn quân trở về. Trước đó, Tả lang hầu Dung khuyên vua Hán bớt việc binh để yên dân, nay do dùng binh không phấn chấn, bèn qui lỗi cho Dung, sai phá quan tài phơi thây.”

(楊延藝故將吳權自愛州舉兵攻皎公羨於交州,公羨遣使以賂求救於漢。漢主欲乘其亂而取之,以其子萬王弘操為靜海節度使,徙封交王,將兵救公羨,漢主自將屯於海門,為之聲援。漢主問策於崇文使蕭益,益曰:「今霖雨積旬,海道險遠,吳權桀黠,未可輕也。大軍當持重,多用鄉導,然後可進。」不聽。命弘操帥戰艦自白籐江趣交州。權已殺公羨,據交州,引兵逆戰,先於海口多植大□弋[木+弋dặc: cái cọc],銳其首,冒之以鐵,遣輕舟乘潮挑戰而偽遁,弘操逐之,須臾潮落,漢艦皆礙鐵杙不得返,漢兵大敗,士卒覆溺者太半;弘操死,漢主慟哭,收餘眾而還。先是,著作佐郎侯融勸漢主弭兵息民,至是以兵不振,追咎融,剖棺暴其屍。益,仿之孫也。)

       Một bộ sử khác của Trung Quốc, Tân Ngũ Đại Sử do Âu Dương Tu soạn, cũng chép tương tự:

Năm thứ 10 [937], Nha tướng Giao Châu Kiều Công Tiên giết Dương Đình Nghệ lên ngôi; tướng cũ của Đình Nghệ là Ngô Quyền đánh Giao Châu; Công Tiễn xin quân Nam Hán tiếp viện. Cung phong cho con, Hồng Tháo là Giao vương, ra quân đánh tại sông Bạch Đằng; Cung đóng quân tại cửa biển. Quyền sau khi giết Công Tiễn, đánh ngược ra cửa biển, cắm cọc sắt. Quân của Quyền chờ thủy triều lên bèn rút; đợi thủy triều xuống bèn quay thuyền  lại đánh, thuyền  quân Nam Hán vướng phải cọc đều lật đổ; Hồng Tháo chết, Lưu Cung thu tàn quân trở về.” [Tân Ngũ Đại Sử, Quyển 65, Nam Hán, Thế Gia quyển thứ 5]

(十年,交州牙將皎公羨殺楊廷藝自立,廷藝故將吳權攻交州,公羨來乞師。龑封洪操交王,出兵白藤以攻之。龑以兵駐海門,權已殺公羨,逆戰海口,植鐵橛海中,權兵乘潮而進,洪操逐之,潮退舟還,轢橛者皆覆,洪操戰死,龑收余眾而還。)

      Lợi dụng thủy triều để tranh thắng; điều quan trọng là thời gian phải chính xác. Lịch sử thế giới ca tụng danh tướng MacArthur đã thành công trong cuộc đổ bộ bất ngờ nguy hiểm tại hải cảng Inchon cách thủ đô Seoul Hàn Quốc 25 dặm, vào ngày 15/10/1950; cắt bán đảo Triều Tiên làm 2, khiến quân Bắc Hàn trên đường tấn công tại phía nam bị đánh tan, loại ra ngoài vòng chiến. Các nhà quân sự Bắc Hàn lúc bấy giờ cho rằng cảng Inchon nước cạn không thể dùng tàu đổ bộ, nên không chú ý đề phòng; nhưng họ không tính đến nước thủy triều lên cao trong một vài giờ, và tướng MacArthur đã dám chọn thời gian nghiệt ngã bất ngờ đó để tranh thắng. Thời MacArthur có đồng hồ chính xác từng giây, hải quân Hoa Kỳ thống kê mức thủy triều lên xuống từng phút; mà vẫn bị coi là liều lĩnh. Riêng Ngô vương phải sai người cắm cọc sắt như thế nào để lúc thủy triều lên địch không phát hiện được, thủy triều rút có thể đâm thủng thuyền giặc, rồi thời gian rút lui, thời gian tấn công cần phải chính xác; công việc tính toán về thủy triều cũng phải làm như MacArthur thực hiện khoảng 1.000 năm sau; so sánh như vậy thấy được Ngô vương là một thiên tài về quân sự.

      Cùng một dòng sông, 2 lần đại phá quân địch; một việc ít khi xảy ra trong lịch sử chiến tranh thế giới. Tuy cũng là thủy chiến, cũng đóng cọc trên sông; hơn 300 năm sau [1288] Hưng Đạo vương lại tiêu diệt quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, bắt và giết các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp; chỉ khác một chi tiết là đánh giặc khi chúng rút lui từ trong nội địa Đại Việt ra biển. Một dòng sông khác, cách sông Bạch Đằng không xa; đó là sông Như Nguyệt [sông Cầu], Lý Thường Kiệt từng chế ngự giặc thành công, trong cuộc chiến tranh Lý Tống năm 1076.

      Đất nước Việt Nam ta núi sông hiểm trở không thiếu, tại địa danh sông Chi Lăng [thượng lưu sông Thương], vua Lê Đại Hành dụ bắt giết Hồng Nhân Bảo, chấm dứt cuộc chiến tranh Lý Tống vào năm 981; lại gần 500 năm sau [1427], dưới thời chống quân Minh, tướng Liễu Thăng mang đại quân sang cứu viện, bị nghĩa quân của Vua Lê Lợi đánh tan tại ải Chi Lăng.

      Kỵ binh là sở trường của quân phương Bắc, đạo quân của Nùng Trí Cao dưới thời Tống từng hoành hành tại 2 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông như chỗ không người; chỉ trong vòng 2 tháng, đánh chiếm hàng chục châu quận trong đó có thành lớn Ung châu [Nam Ninh]; nhưng cuối cùng bị Địch Thanh dùng kỵ binh đánh tan trong một buổi sáng, tại cánh đồng bằng phẳng Qui Nhân Phố dưới chân núi Côn Lôn. Trong cuộc chiến tranh Lý Tống Quách Quì dùng 1 vạn kỵ binh; thời nhà Trần, quân Mông Cổ dưới quyền Trấn nam vương Thoát Hoan sử dụng ưu thế kỵ binh hầu mong nuốt chửng nước ta; nhưng địa thế nước ta khó có thể dàn trận lớn bằng kỵ binh, lại bị quân ta đánh tiêu hao người, ngựa, bằng chiến tranh hầm hố, nên hai lần xâm lăng đều bị thất bại. Thời hiện đại gọi xe tăng thiết giáp là kỵ binh [Armoured cavalry], địa thế tại Việt Nam miền Bắc, và Trung phần lớn núi rừng, miền Nam đất mềm nhiều sình lầy, nên thiết giáp chỉ phụ cho bộ binh; chứ không thể dàn hàng ngang hàng trăm chiếc để làm chủ chiến trường, như quân Đồng Minh và Đức từng tung hoành tại sa mạc châu Phi thời Thế chiến thứ 2.

      Trong chiến tranh Nga Nhật năm 1905, hạm đội Nga trú an toàn tại hải cảng Cam Ranh nước ta, Nhật không có cách gì tiêu diệt, cuối cùng phải dùng biện pháp ngoại giao với Pháp, đuổi tàu Nga ra khỏi lãnh hải Việt Nam để đánh. Hải trình huyết mạch quốc tế từ ngàn xưa đến nay chạy dọc theo Biển Đông tức ven biển miền Trung; Cam Ranh nước ta là vị trí chiến lược tối quan trọng, với vũ khí hiện đại có thể kiểm soát hải trình này, và chống lại các thế lực vượt trội ta ngoài biển khơi.

                             ***

      Tóm lại, trong 3 yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa; tổ tiên ta đã phấn đấu hàng ngàn năm để dành phần “địa lợi” cho con cháu; Ngô vương Quyền là bậc thầy muôn đời trong việc dùng địa lợi vào lãnh vực quân sự.

      Sau khi dẹp xong ngoại xâm, năm Kỷ Hợi (939) Ngô Quyền tự xưng Vương, đóng đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ngày nay; lập Dương thị làm hoàng hậu. Dương Hậu là con gái Dương Diên Nghệ; thời Ngô vương Quyền làm nha tướng,  được Diên Nghệ gả con gái cho.

       Năm Giáp Thìn [944], Ngô vương Quyền mất. Lúc bệnh nguy kịch, trối trăng dặn Dương Tam Kha, em ruột Dương hậu, giúp con mình là Xương Ngập nối ngôi.

       Sử thần Lê Văn Hưu đời Trần có lời bàn về Ngô vương Quyền, tuy ngắn nhưng nội dung có thể tóm tắt được sự nghiệp:

Lê Văn Hưu nói:

Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa. Có thể nói là một lần nổi giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đến, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được” [ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngoại kỷ, quyển 5].

     Sau khi Ngô vương mất, Tam Kha cướp ngôi của cháu, tiếm xưng là Bình vương; Xương Ngập sợ, chạy đến Nam Sách Giang, ẩn náu tại nhà Phạm Lệnh Công ở Trà Hương(6). Tam Kha nuôi con thứ hai của Ngô vương Quyền là Xương Văn làm con mình. Các con vợ thứ của Ngô vương là Nam Hưng, Kiền Hưng còn nhỏ, đều theo Dương hậu.

      Tam Kha sai Quan sứ Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc đem quân đi lùng Xương Ngập: trước sau đến ba lần đều không bắt được. Được tin Phạm Lệnh Công đem Xương Ngập giấu trong động núi; Tam Kha cho sục sạo, cuối cùng vẫn không tìm thấy. Tam Kha lại sai Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc cùng Xương Văn đem quân đi đánh hai thôn ở Thái Bình(7) . Khi đi đến huyện Từ Liêm, Xương Văn bảo hai Quan sứ rằng:

 "Đức trạch của Tiên vương (8) ta thấm khắp lòng dân, tất cả các chính lệnh thi hành không ai là không vui lòng theo cả. Chẳng may Tiên vương ta mất đi. Bây giờ Bình vương là kẻ bất nghĩa, tự cướp lấy ngôi, còn tội gì hơn nữa! Nay lại sai chúng ta đi đánh các ấp vô tội kia, may mà được, nếu họ không phục thì làm thế nào?"

       Hai Quan sứ Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc trả lời:

"Tướng quân bảo như thế nào chúng tôi cũng xin vâng mệnh".

       Xương Văn bảo:

"Ý tôi muốn đem quân quay về đánh úp Bình Vương để phục lại cơ nghiệp của tiền nhân, có nên không?".

       Hai Quan sứ đều cho là phải. Bấy giờ mới trở về đánh úp được Tam Kha; mọi người muốn giết đi, nhưng Xương Văn bảo:

"Bình vương đối với ta cũng có ơn, nỡ nào đem giết?"

       Rồi giáng Tam Kha xuống làm Trương Dương công, nhân chỗ ở ấy cho làm thực ấp(9). Tam Kha tiếm ngôi 6 năm.

      Năm Tân Hợi (951], Ngô Xương Văn lên ngôi xưng là Nam Tấn vương; rồi sai Sứ đón Xương Ngập ở tôn Trà Hương về kinh đô, cùng nhau trông coi việc nước. Sau đó Thiên Sách vương Xương Ngập chuyên quyền, nên Nam Tấn vương không tham dự chính sự nữa. Do đó hai anh em có sự xích mích; đến năm Giáp Dần [954], Xương Ngập mất, Nam Tấn vương mới chính mìnhcầm chính quyền; rồi sai Sứ sang xin mệnh chúa Nam Hán là Lưu Thạnh phong chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ kiêm An Nam đô hộ; Tư Trị Thông Giám(10) chép:

“Chu Thế Tông Hiển Đức năm thứ nhất [954]                              

Tháng Giêng [2/954], trước kia Tĩnh hải tiết độ sứ Ngô Quyền mất, con là Xương Ngập lập. Xương Ngập mất, em là Xương Văn [昌文] lập. Tháng này mới bắt đầu xin mệnh Nam Hán; Nam Hán phong Xương Văn Tĩnh hải quân tiết độ sứ kiêm chức An Nam đô hộ.”

(初,靜海節度使吳權卒,子昌岌立。昌岌卒,弟昌文立。是月,始請命於南漢,南漢以昌文為靜海節度使兼安南都護.)

         Năm Ất Sửu [965], Nam Tấn vương đem quân đi đánh hai thôn ở Thái Bình. Quân đến nơi, cắm thuyền, lên bộ đánh nhau; Nam Tấn vương bị trúng tên mai phục chết; trị vì được 15 năm.

        Nhà Ngô mất. Ngô vương Quyền khởi lên từ năm Kỷ Hợi, mất năm Giáp Thìn, được 6 năm [939-944]; Nam Tấn Xương Văn lên ngôi từ năm Tân Hợi đến năm Ất Sửu [951-965], được 15 năm (951-965); cộng tất cả là 21 năm.

         Từ khi Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, thổ hào các nơi đua nhau nổi dậy. Xương Văn tuy lấy lại được nước, nhưng hai anh em bất hòa, không thể thống nhất được; đến khi đi đánh Thái Bình, bị chết trận, từ đó trong nước rối loạn. Một viên tướng người họ Ngô là Ngô Xương Xí tụ tập quân giữ Bình Kiều. Nha tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang. Thổ hào các nơi khác cũng nổi lên mỗi người giữ một nơi, ai cũng xưng hùng trưởng. Sau Tiên Hoàng nhà Đinh nổi lên, dẹp yên được cả, từ đấy giang sơn mới thống nhất.

         Các hùng trưởng cát cứ các nơi, sử gọi là Thập Nhị Sứ Quân, xin liệt kê như sau:

1. Trần Lãm, tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải khẩu [thị xã tỉnh Thái Bình];

2. Kiểu Công Hãn tự xưng là Kiểu Tam Chế, giữ Phong Châu [huyện Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú];

3. Nguyễn Khoan tự xưng là Nguyễn Thái Bình, giữ Nguyễn Gia Loan ở Tam Đái [huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú];

4. Ngô Nhật Khánh tự xưng là Ngô Lãm Công, giữ Đường Lâm [Ba Vì, Hà Tây];

5. Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng Công, giữ Siêu Loại [huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc];

6. Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh công, giữ Tiên Du [tỉnh Bắc Ninh];

7. Lữ Đường tự xưng là Lữ Tá Công, giữ Tế Giang [huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc];

8. Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt [Thanh Trì, Hà Nội];

9. Kiểu Thuận tự xưng là Kiểu Lệnh Công, giữ Hồi Hồ [huyện Sông Thao, tỉnh Vĩnh Phú];

10. Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu [huyện Kim Thị, tỉnh Hải Hưng].

11. Ngô Xương Xí chiếm giữ Bình Kiều [huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa] (11)

12. Đỗ Cảnh Thạc chiếm giữ Đỗ Động [Thanh Oai, tỉnh Hà Tây].

***

        Ba nhân vật lịch sử phải chịu trách nhiệm về mối loạn 12 sứ quân cuối triều Ngô: trước hết phải kể đến Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu, dùng binh đánh dân vô tội; kế đến Ngô Xương Văn vì tình riêng không có thái độ dứt khoát với Dương Tam Kha, nuôi dưỡng kẻ phản bội; riêng Ngô Xương Ngập được em đón về lại giành chức của em. Các biến cố xảy ra khiến nhân tâm chia rẽ, chính quyền mới bắt đầu xây, điều hành lỏng lẻo, không có kỷ cương; đó là nguyên nhân chính gây nên loạn Thập nhị sứ quân.

Chú thích:

1. Khúc Tiên Chúa: Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn chép Thừa Dụ tức Khúc Tiên Chúa; Tiên Chúa có nghĩa là vị Chúa đầu tiên của nước ta.

2. Khâm Định Việt Sử Cương Mục, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch của Viện Sử học, Hà Nội: NXB Giáo Dục, trang 72.

3. Tống Kỳ cùng Âu Dương Tu soạn Tân Đường Thư.

4. Dương Đình Nghệ: vì chữ Đình [廷] và chữ Diên [延] viết giống nhau, nên có sách chép là Dương Diên Nghệ.

5. Dương Đình Nghệ: vì chữ Đình [廷] và chữ Diên [延] viết giống nhau, nên có sách chép là Dương Diên Nghệ.

6. Trà Hương: thuộc huyện Kim Thành, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

7. Thôn Thái Bình: theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: nay thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

8. Tiên vương: Vương trước, chỉ Ngô Quyền.

9. Thực ấp: ấp được phong, có quyền thu thuế và hoa lợi.

10. Tư Trị Thông Giám, Tư Mã Quang, quyển 291.

11. Danh sách và vị trí Thập Nhị Sứ Quân, căn cứ vào Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục tiền biên quyển 5; riêng Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, bản điện tử, trang 34; chép Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều thuộc tỉnh Hưng Yên.