Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Mùa Vu lan, nghĩ về lòng hiếu thảo

                                                                                 

Lễ Vu lan tổ chức tại chùa Cổ Am, Diễn Châu, Nghệ An. Ảnh Kiều Nga

     Tôi sống trên 60 năm và thấy người Việt Nam ngày càng xem trọng ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, hay còn được gọi là Ngày lễ Vu Lan. Trong ngày này, rất nhiều người đi xa muốn trở về nhà. Ai có cha mẹ còn sống thì tặng quà; những người có cha mẹ đã mất thì tưởng nhớ…

     Truyền thuyết về Ngày lễ Vu Lan và ý nghĩa trong đời sống đương đại

     Bất cứ một lễ hội nào trong dân gian đều có những truyền thuyết vây quanh tạo nên sự linh thiêng, huyền bí. Văn hóa dân gian trên toàn thế giới hầu như đều thế. Về ngày Rằm tháng Bảy âm lịch - Ngày lễ Vu Lan cũng không phải là ngoại lệ; thậm chí về ngày này có hai, ba truyền thuyết chứ không phải một. Nhưng tôi thích nhất là truyền thuyết về Đại Đức Mục Kiền Liên (một trong 2 đại đệ tử của Phật Thích Ca) với tấm lòng hiếu thảo đã cứu mẹ của mình thoát khỏi kiếp ngạ quỷ; nghĩa là cứu mẹ thoát khỏi địa ngục.

     Theo truyền thuyết, nhà sư Mục Kiền Liên đã tu luyện thành công nhiều phép thần thông. Lúc đó, mẹ ông là bà Thanh Đề qua đời đã lâu; ông nhớ mẹ và muốn biết bây giờ mẹ ở đâu, tình trạng như thế nào nên ông dùng mắt phép nhìn khắp trời đất để tìm. Ông thấy mẹ mình bị đày xuống địa ngục, bị hành hạ khổ sở, bị bỏ đói nhiều ngày. Đây là hình phạt cho những tội lỗi bà Thanh Đề mắc phải khi mưu sinh trên cõi đời. Thương mẹ, ông Kiền Liên đã đem cơm xuống tận địa ngục để dâng mẹ. Do bị đói ăn lâu ngày, mẹ của ông khi ăn đã dùng một tay che bát cơm của mình để không cho các cô hồn khác đến tranh cướp, vì vậy khi thức ăn đưa lên miệng đã hóa thành than đỏ.

     Mục Liên quay về tìm Phật để hỏi cách cứu mẹ, Phật dạy rằng: “Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày Rằm tháng Bảy là ngày thích hợp để cung thỉnh chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó”. Làm theo lời Phật, Mục Kiền Liên đã lập vu lan bồn (nơi để đồ cúng tế), vận động các chư tăng khắp nơi hợp lực nên mẹ ông đã được giải thoát. Phật cũng dạy rằng, trong chúng sinh, ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng làm theo cách này. Từ đó, Ngày lễ Vu Lan ra đời. Vu Lan là Ngày lễ hàng năm để tưởng nhớ công ơn cha mẹ và tổ tiên - những thế hệ từ muôn kiếp trước. Trong dân gian, đây là ngày trọng lễ nên từng cá nhân, gia đình, dòng họ đều có những hoạt động hướng thiện, nghĩa là tỏ lòng biết ơn tổ tiên, những đấng sinh thành, những người có công với dân với nước, và giúp đỡ những cô hồn bơ vơ... Đây là nền móng cơ bản của những con người có hiếu, có tâm, có đức.

     Ngày lễ Vu Lan không chỉ được hành lễ ở Việt Nam, mà còn được hành lễ ở nhiều nước châu Á khác nữa. Tuy nhiên, trong quan sát của tôi, ở Việt Nam ngày lễ này được tổ chức trang trọng hơn, rộng khắp hơn và có tính xã hội cao hơn. Tôi cho rằng, điều này liên quan đến một sự kiện trong lịch sử hiện đại. Đó là vào năm 1947, ngày 27 tháng 7 (dương lịch) được chọn làm ngày Thương binh - Liệt sỹ: Ngày để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn đối với những người có công với đất nước và thân nhân của họ. Một bên là tháng 7 dương lịch và là ngày lễ chính thức của quốc gia, còn một bên là tháng Bảy âm lịch, là lễ hội dân gian nhưng thời điểm gần nhau và ý nghĩa cũng gần giống nhau; do vậy, dường như đã có sự cộng hưởng trong nhận thức về đạo lý “Uống nước, nhớ nguồn” - người Việt Nam thành kính hành lễ trong cả hai dịp này. Điều này đã in dấu ấn và có ý nghĩa lớn trong đời sống tinh thần, tâm linh của người Việt.

     Liên quan đến nghi lễ trong Ngày lễ Vu Lan còn có nghi thức “Bông hồng cài áo”. Nghi thức này do thiền sư Thích Nhất Hạnh khởi xướng. Ông đã viết về điều này trong cuốn sách được xuất bản từ năm 1962. Theo đó, trong mùa Vu Lan, người ta cài hoa hồng lên áo; những ai còn mẹ thì cài hoa hồng màu đỏ, những ai mẹ đã mất thì cài hoa hồng màu trắng để nhắc nhở về lòng hiếu thảo và tình người. Dù nghi thức này đã được khởi xướng từ gần nửa thế kỷ trước nhưng vì chiến tranh, vì đất nước bị chia cắt nên nghi thức này chưa được thực hiện rộng rãi. Những năm gần đây, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, nghi thức này được thực hiện rộng rãi ở nhiều nơi. Quả thật, trong mùa Vu Lan, nhìn thấy hoa hồng trên ve áo, chúng ta thấy thiêng liêng.

     Giữ lấy lòng hiếu thảo - Cốt lõi đạo đức của người Việt!

     Từ xa xưa, lòng hiếu thảo được được đánh giá thông qua việc biết ơn và phụng dưỡng cha mẹ, thờ cúng tổ tiên của mình. Đây là đức tính quan trọng, là cốt lõi đạo đức của con người. Những người thông thái trong thiên hạ đã từng bàn là làm thế nào để thiết lập một xã hội tốt đẹp bằng cách sử dụng nguyên tắc của lòng hiếu thảo. Lòng hiếu thảo giữ vai trò trung tâm trong triết lý đạo đức của Nho giáo và xuyên suốt trong đời sống tinh thần của người Á Đông từ xưa đến nay. Đến thời hiện đại này, lòng hiếu thảo vẫn được coi là phẩm chất quan trọng của con người.

 

Hình ảnh trong lễ Vu lan tổ chức tại chùa Cổ Am. Ảnh: KN   

     Lịch sử phát triển văn hóa - tư tưởng của loài người đã chỉ ra rằng, lòng hiếu thảo có nghĩa là đối xử tốt với cha mẹ của mình; chăm sóc cha mẹ của mình; có hành vi cư xử tốt không chỉ đối với cha mẹ mà còn đối xử tốt với người ngoài để mang lại danh tiếng tốt cho cha mẹ và tổ tiên; thực hiện tốt các nhiệm vụ và công việc làm để có thể bảo đảm vật chất hỗ trợ các bậc cha mẹ cũng như để thờ phụng tổ tiên; thể hiện tình yêu, sự tôn trọng, phong cách lễ độ; phát huy tình huynh đệ giữa các anh em; tư vấn cho cha mẹ một cách khôn ngoan, trong đó có việc giữ họ tránh khỏi những hành vi phi đạo đức; tỏ lòng thương tiếc, thể hiện nỗi buồn khi cha mẹ mất và thực hiện tang lễ nghiêm cẩn, trọng thị; thờ phụng chu đáo sau khi cha mẹ qua đời…

     Ngày xưa, để được xem là người hiếu thảo, con cái lấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu; tiếp đến thờ vua, giúp nước; sau cùng là lập thân, nghĩa là bản thân thành đạt trong học hành, khoa cử, kinh doanh, buôn bán cũng nằm trong phạm trù hiếu thảo. Hơn nữa, các nhà thông thái nhấn mạnh khía cạnh tinh thần trong việc phụng dưỡng cha mẹ: Bảo đảm đầy đủ đời sống vật chất cho cha mẹ là tốt nhưng chưa đủ, phải thể hiện lòng tôn kính.

     Là người Việt Nam trưởng thành, có lẽ không ai không biết tới câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Những câu ca dao này đơn giản, mộc mạc nhưng đã nói được đầy đủ công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái và cách thể hiện lòng biết ơn của con cái đối với cha mẹ. Đã từ ngàn đời nay, người Việt Nam lấy câu ca dao này làm kim chỉ nam trong cách sống của mình.

     Trong hơn 30 năm trở lại đây, khi kinh tế thị trường phát triển, sức mạnh của đồng tiền được đẩy lên cao; điều này phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện chữ hiếu trong cuộc sống hàng ngày. Không thể không nhắc tới một thực trạng đau lòng là đã nhiều người xem nhẹ chữ hiếu, vì một chút lợi ích vật chất, người ta sẵn sàng làm những việc thất đức, kể cả bạc đãi cha mẹ. Chúng ta đã thấy anh em ruột thịt đâm chém nhau vì tranh giành đất đai; cha mẹ, con cái đưa nhau ra tòa vì tranh chấp tài sản; hàng xóm, láng giềng triệt hạ nhau vì mâu thuẫn… Những điều này diễn ra, buộc chúng ta phải thừa nhận rằng, ở đâu đó chữ hiếu bị bị xem nhẹ, bị lãng quên, bị hiểu sai.

     Hiện nay, vấn đề giữ gìn, phát huy lòng hiếu thảo của thế hệ trẻ đang được đặt ra khá nóng bỏng.

     Việc tuyên truyền, giáo dục về lòng hiếu thảo phải được làm mới

     Đảng và Nhà nước ta đã tuyên bố là tôn trọng tôn giáo, tín ngưỡng và tạo điều kiện để các tôn giáo tồn tại và phát triển. Chúng ta thấy rằng, lòng hiếu thảo gắn với đạo Phật. Vì vậy, đúng ra khi tuyên truyền, giáo dục lòng hiếu thảo, chúng ta phải hiểu điều này. Trong thời cải cách ruộng đất, nhiều đền chùa, miếu mạo ở Nghệ Tĩnh đã bị đập phá. Ở những xã ven biển của huyện Quỳnh Lưu hầu như còn rất ít những ngôi chùa nguyên vẹn, kể cả những ngôi chùa có niên đại hàng trăm năm. Thời gian gần đây dường như có trào lưu quan tâm đến việc phục dựng, xây mới đền, chùa trong cả nước, kể cả ở vùng Nghệ Tĩnh.

     Một ví dụ cụ thể là chùa An Thái (nay thuộc xóm Minh Thành, xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) - một ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ thứ XVIII đã bị đập phá trong cải cách ruộng đất, chỉ còn giữ lại được ngôi nhà lớn để lúc thì làm nhà kho, lúc làm lớp học, khi làm cửa hàng. Nay ngôi chùa đó đã được phục dựng lại, hơn thế nữa một pho tượng Quan Âm Bồ Tát và một tháp chuông to lớn đã được dựng lên trên núi Mỏ Phượng. Ngày dựng tượng, có lãnh đạo của Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nghệ An về dự  (ngày đó ngành du lịch chưa tách thành sở riêng). Ngày đúc chuông, nhiều người dân đã hiến công sức, vàng bạc. Hiện nay chùa An Thái được xem là một trong những ngôi chùa có những hoạt động ảnh hưởng tốt tới đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của nhân dân trong vùng.

     Một số văn nghệ sĩ dường như cũng hiểu vai trò của mình trong việc tuyên truyền về lòng hiếu thảo. Ví dụ, Tân Nhàn - một nữ ca sĩ xinh đẹp, có giọng hát ngọt ngào đã lên kế hoạch thực hiện chương trình âm nhạc có chủ đề hiếu thảo trong mùa Vu Lan 2019. Là một người thấm nhuần đạo hiếu, đã từ lâu, ca sĩ Tân Nhàn đã ấp ủ thực hiện một dự án âm nhạc để tri ân công lao dưỡng dục của cha mẹ, của những người thầy, người cô và đơn giản là những khán giả, thính giả hâm mộ cô.

     Trước khi thực hiện chương trình nghệ thuật này, ca sĩ Tân Nhàn đã lên tham vấn Thượng tọa Thích Minh Hiền - Phó Trưởng ban Văn hóa Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Sau khi nghe mong muốn của ca sĩ Tân Nhàn, Thượng tọa Thích Minh Hiền đã khích lệ và đặt tên chương trình là “Tứ Ân” và xuất hiện với vai trò là cố vấn nghệ thuật của chương trình.

     Sở dĩ chương trình âm nhạc của ca sĩ Tân Nhàn được Thượng tọa Thích Minh Hiền đặt tên là “Tứ Ân” vì đạo Phật dạy các hàng đệ tử phải báo đáp bốn cái ơn lớn là ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn nhà nước, và ơn chúng sanh. Chương trình âm nhạc “Tứ Ân” của Ca sĩ Tân Nhàn  được chia làm 4 phần gồm 18 ca khúc ngợi ca vẻ đẹp, sự biết ơn với quê hương đất nước. Chương trình cũng không thể thiếu những ca khúc nói lên tình yêu thương giữa con người với con người ở trên thế giới này, trong cuộc sống này. Ca sĩ Tân Nhàn mong muốn chuyển tải thông điệp sâu sắc về chữ hiếu. Tân Nhàn là ca sĩ hát rất nhiều bài hát thành công về mẹ. Hình ảnh người mẹ trong đời sống cũng như trong hoạt động nghệ thuật của Tân Nhàn có ý nghĩa rất lớn. Trong chương trình âm nhạc “Tứ Ân”, Tân Nhàn thể hiện 3 bài hát có tựa đề bằng chữ mẹ: “Quê mẹ”, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa”, “Mục Kiền Liên cứu mẹ”. Hi vọng “Tứ Ân” của ca sĩ Tân Nhàn gây được tiếng vang, góp phần làm cho lòng hiếu thảo của người Việt Nam tỏa sáng.

     Khi chúng ta tuyên truyền, giáo dục về lòng hiếu thảo bằng những việc làm cụ thể, mới mẻ, chắc chắn chúng ta sẽ thu được những kết quả khả quan. Trong tình hình và không khí xã hội hiện nay, việc kết hợp giữa những giá trị truyền thống và hiện đại đòi hỏi cách làm mới. Điều này không quá khó, nếu chúng ta hiểu sâu sắc lịch sử, ý nghĩa những ngày lễ dân gian.