Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

NGUYỄN DU: Nàng Kiều

Đã có ai trong những người đàn ông da trắng có học trước năm 1945 biết rằng có một nền văn chương Việt Nam? Và những người này là ai? Đó chỉ là một nhóm rất nhỏ của các nhà Hán học, nhà sưu tầm sách và – các chuyên gia thực dân; bởi Việt Nam không tồn tại trong mắt của người đàn ông da trắng, mà chỉ có một xứ thuộc địa Pháp mang tên Tonkin, nằm ở một chốn xa lắc xa lơ thuộc vùng „Hậu Ấn“. Một xứ sở của chùa chiền, bàn đèn hút thuốc phiện, của những thổ dân sống trên những con sông chảy luồn lách giữa những khu rừng hoang vu ẩm ướt – liệu ở đó có thể có văn chương? Hay thậm chí văn hóa? Ngay cả công trình „Lịch sử văn học thế giới minh họa“ của Johannes Scherr (xuất bản lần đầu năm 1851) cũng chỉ nhắc tới văn học Việt Nam trong tương quan với văn học Annam – với vỏn vẹn tất cả là 18 dòng. Một trong ba tác phẩm được nêu tên cụ thể ở đó là „‘Kim Vân Kiều tân truyện‘ – rõ ràng là dựa trên một chất liệu cũ và thấm đẫm chất giang hồ“. Tác giả dường như là khuyết danh, bởi không được nêu tên. Rõ ràng là thất bại của các nhà thực dân ở Điện Biên Phủ đã làm thay đổi nghiệp –  „số phận của con người được quy định bởi hành động của nó“ – của nền văn học Việt Nam đến mức hiện chúng ta đang có trong tay tác phẩm trường ca dân tộc kinh điển của Nguyễn Du (1765-1820) với tên gọi bằng tiếng Đức „Das Mädchen Kiều“ (Nàng Kiều) qua một bản dịch Đức ngữ với chất lượng nghệ thuật rất cao.

Những rung động tình yêu dịu dàng nhất và các vẻ đẹp thiên nhiên được mô tả trong bản trường ca Việt Nam khiến ta liên tưởng đến „Hermann và Dorothea“ của Goethe, người đồng thời của Nguyễn Du. Nhà thơ Việt Nam đã sáng tạo nên một tác phẩm mà „chất giang hồ thấm đẫm“ thực ra đã được bộc lộ như một sự phê phán mang tính hiện thực cao độ đối với xã hội đương thời.

Cốt truyện như sau: Kiều, con gái cả của một viên quan bậc thấp, bán mình để cứu bố mẹ khỏi nanh vuốt của một kẻ tội phạm là một nhà buôn giàu có. Nàng đã phải trải qua mọi đau đớn của một gái làng chơi, mà đỉnh điểm là cuộc tự sát không thành, cho đến khi sau nhiều năm trời gặp lại vị hôn phu cũ là chàng Kim, người theo ước nguyện của Kiều đã cưới em gái của nàng là Vân. Mối kết giao đầu tiên đã chứng tỏ là mãnh liệt hơn; và như vậy đôi tình nhân sống cuộc đời tiếp theo cùng với người em gái giàu lòng cảm thông trong một tình bạn đẹp đẽ nhất. Sau phần mô tả cuộc sống hạnh phúc, tuy có phần đơn sơ của một gia đình công chức, rồi mối tình đầu của nàng Kiều xinh đẹp và có năng khiếu nghệ thuật là câu chuyện kể đầy biến cố, thương cảm (và gay cấn) về con đường lưu lạc đau khổ của một nàng Kiều bất lực. Con đường ấy của Kiều dẫn nàng đi qua tất cả các giai tầng, đỉnh cao và vực sâu xã hội; mọi sự hạ nhục, xúc phạm và bạo hành chỉ càng làm củng cố thêm phần cốt lõi trong nhân cách của nàng: đức nhân ái và ý thức công bằng.

Bản trường ca sâu đậm tinh thần nhân đạo chủ nghĩa mang đến cho người đọc thật nhiều ấn tượng ngạc nhiên:Có bao nhiêu âm giai và nhịp điệu, có bao nhiêu hình ảnh thi ca yêu kiều, xác thực và cô đọng và hành động đầy kịch tính trong một quy mô vừa phải! Số lượng trang sách có thể gây ra một sự ngộ nhận, bởi từng dòng của tác phẩm được viết bằng thơ tự do nhiều lúc chỉ bao gồm hai, ba hay bốn chữ. Vậy mà có bao nhiêu cảm xúc, ý tưởng và minh triết dân gian đã được kết tinh lại trong những câu thơ cô đọng và dường như không có dấu vết của một sự dụng công nào!Tính chuẩn xác của các hình ảnh khiến người đọc thường xuyên có cảm giác mê hoặc.

„Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.“

Phải chăng bài thơ này – như một sự đúc kết nội dung tinh thần của bản trường ca – cũng tương ứng với lời kêu gọi của Goethe, rằng „con người hãy cao thượng, tương ái và nhân từ“? Như thi hào vĩ đại nhất của chúng ta, Nguyễn Du không thể chỉ ra lối thoát khỏi thảm cảnh cho dân tộc mình. Tuy nhiên giá trị và vẻ đẹp trong tác phẩm của ông không vì vậy mà bị suy xuyển, nó chạm vào ta như một chiếc đũa thần, truyền lại tình người ấm áp và mang đến cho ta cả khoái cảm về vẻ đẹp nghệ thuật cổ điển. Nhà thơ đã làm cho những nhân vật của ông thân thuộc tới mức khiến ta quên bẵng rằng thực ra đây là một thế giới „xa lạ“.

Tại điểm này chúng tôi thật khó tránh được cám dỗ phải đề cập đến chủ đề „Phương Đông – phương Tây“ mà giáo sư Heinz Herz đã phân tích trong cuốn sách có nhiều đóng góp với tiêu đề „Phác thảo cho một phê phán về quan niệm lịch sử của phương Tây“. Cả Nàng Kiều cũng giúp chúng ta có được một cảm quan lịch sử xác thực. Tác phẩm này điều chỉnh lại “thế giới quan” của “người đàn ông da trắng” (ít nhiều vẫn còn lẩn khuất trong mỗi chúng ta). Bản trường ca này đã làm cho người dân Việt Nam trở nên gần gũi với ta trên phương diện nhân sinh, khiến chúng ta can dự một cách mạnh mẽ hơn vào cuộc đấu tranh của họ chống những kẻ áp bức ngày hôm nay.

Ai muốn đánh giá kết quả công việc của các dịch giả, người đó phải biết nói ngôn ngữ của Nguyễn Du. Chúng tôi chỉ có thể khen ngợi bản tiếng Đức mà chúng tôi cho rằng đây là một thành tựu nghệ thuật đáng kể trên mọi phương diện. Ngược lại, chúng tôi thiết nghĩ rằng có thể từ bỏ các minh họa mô phỏng theo kỹ thuật vẽ bằng bút lông của Việt Nam, bởi chúng dường như chỉ tạo nên một cảm giác đèm đẹp, mà chẳng nói lên được bất cứ một điều gì. Xin cám ơn nhà xuất bản và tất cả những ai đã đóng góp cho sự ra đời của cuốn sách này.

Bản dịch từ tiếng Việt với lời nói đầu và chú thích của Irene và Franz Faber. Minh họa của Renate Göritz. Berlin: Rütten & Loening 1964. 294 trang, giá 11,70 Mark

Nguồn:

Der Bibliothekar (Thủ thư), Tạp chí ngành thư viện, năm thứ 19, số 6 – tháng 6 năm 1965, trang 639-640

Ghi chú của người dịch:

Trong quãng thời gian từ 1997-2010, vào một trong những nhiều lần gặp gỡ và trò chuyện với nhà báo, nhà thơ và dịch giả Franz Faber (1916-2013), ông đã trao cho tôi một bản thảo đánh máy một bài phê bình về công trình dịch Truyện Kiều ra tiếng Đức của ông và vợ, bà Irene Faber. Bản dịch Truyện Kiều của Irene và Franz Faber với tên gọi „Das Mädchen Kiều“ („Nàng Kiều“) lần đầu tiên được in vào năm 1964 tại Nhà xuất bản Rütten & Loening (Berlin, CHDC Đức). Bài phê bình bản dịch, theo ghi chú ở đầu bản thảo đánh máy, được công bố vào năm 1965, và tác giả Johannes Schellenberger – như Franz Faber cho tôi biết – là một nhà phê bình Thụy Sỹ. Trong bài tham luận „Về bản dịch tiếng Đức ‚Das Mädchen Kiều‘ của Irene và Franz Faber“ trình bày tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Nguyễn Du tổ chức tại Hà Nội vào ngày 08.08.2015, tôi đã trích dẫn nhiều chi tiết từ bài viết của tác giả J. Schellenberger. Bản tham luận này về sau được in lại trong sách Truyện Kiều song ngữ Đức – Việt (Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội 2015).

Gần đây, do nghi vấn được một nhà văn và dịch giả có uy tín chia sẻ với cá nhân tôi về nguồn gốc của bài phê bình, với sự hỗ trợ từ nhiều phía, đặc biệt là của Bundesarchiv (Viện Lưu trữ Liên bang Đức), tôi đã tìm được bản gốc của bài viết này (ảnh chụp đăng ở đầu bài). Sau khi đối chiếu bản gốc với bản đánh máy, có thể xác nhận bản đánh máy – ngoại trừ một lỗi chính tả nhỏ (viết nhầm tên Nguyễn Du thành „Nguên Du“) – hoàn toàn trùng khớp với bản gốc. Tuy nhiên trên bản gốc do Viện Lưu trữ Liên bang chụp lại (ở trang 560) lại có thể thấy rõ tạp chí „Der Bibliothekar“ (Thủ thư), nơi đăng bài viết của J. Schellenberger, có cơ quan chủ biên là „Zentralinstitut für Bibliothekswesen“ (Viện nghiên cứu trung tâm về ngành thư viện) và được ấn hành tại „VEB Bibliographisches Institut“ (Xí nghiệp quốc doanh Viện Thư mục học), một nhà xuất bản từ điển nổi tiếng ở Leipzig, thuộc CHDC Đức cũ.

Như vậy, hoàn toàn đã rõ ràng, „Der Bibliothekar“ (Thủ thư) là một tạp chí ấn hành ở CHDC Đức, mà không phải là ở Thụy Sỹ như tôi đã nhầm lẫn trước đây. Vậy liệu còn có thể có khả năng tác giả Johannes Schellenberger là một người Thụy Sỹ, nhưng bài phê bình của ông lại được đăng trên một tạp chí CHDC Đức? Về việc này tôi đã có thư hỏi nhà nghiên cứu văn học TS. Carsten Wurm, tác giả công trình „150 năm Rütten & Loening“ (tức NXB đã ấn hành lần đầu tiên bản dịch „Nàng Kiều“ vào năm 1964) và nhiều cuốn sách khác về lịch sử văn học CHDC Đức. TS. Wurm đã thông báo cho tôi biết ông Johannes Schellenberger sinh năm 1907 tại Chemnitz, mất năm 1980, từ 1936 rời khỏi nước Đức do chế độ Đức Quốc Xã, tị nạn chính trị tại Praha và Anh Quốc, từ 1946 sống ở Berlin, là biên tập viên tại nhiều nhà xuất bản khác nhau của CHDC Đức, từ 1954-1963 là Thư ký Hội nhà văn CHDC Đức.

Trong lần trao bản thảo đánh máy của tác giả Schellenberger cho tôi, dịch giả Franz Faber đã ở độ tuổi trên 90, việc nhầm lẫn về một chi tiết cụ thể là điều hoàn toàn có thể xảy ra, tuy nhiên trách nhiệm hoàn toàn thuộc về phía tôi khi công bố và sử dụng tư liệu mà thiếu một sự kiểm chứng kỹ lưỡng. Tôi xin chân thành cám ơn các chuyên gia đã hỗ trợ trong việc xác định nguồn gốc và tác giả của bài phê bình, thành thật xin lỗi các đồng nghiệp và các bạn đọc, đặc biệt là tác giả Johannes Schellenberger, về sai sót đáng tiếc này.

Đồng thời, tôi quyết định dịch toàn văn bài viết của ông, với hy vọng qua đó cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm một tư liệu hiếm hoi, có từ cách đây hơn nửa thế kỷ về lịch sử tiếp nhận quốc tế đối với Truyện Kiều, đặc biệt trong khu vực nói tiếng Đức. Trong bài viết tác giả có một số nhầm lẫn, chẳng hạn về ý nghĩa của các khái niệm địa lý như Tonkin hay Annam, hay ở một vài chi tiết trong phầm tóm tắt cốt truyện. Tuy nhiên, những khiếm khuyết như vậy lại giúp cho ta có thể hình dung rõ hơn về tính xác thực của một văn bản, về những ấn tượng và cảm xúc mà theo tôi là rất chân thành được truyền tải từ đó – tất nhiên là không kể đến sai sót trong thông tin về xuất xứ của tác giả, như là hệ quả một sự bất cẩn của người biên khảo.

Trương Hồng Quang, Berlin ngày 28.08.2018