Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Nhân vật Thúy Kiều trên bước đường tu hành

Trong hai tác phẩm Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện, cách xây dựng nhân vật Thúy Kiều ở phương diện tu hành có những nét trái ngược nhau. Mỗi nàng Kiều có một cách tu luyện riêng, nhưng cuối cùng cả hai đều bước ra khỏi cửa chùa. Muốn biết sự khác nhau đó, ta phải so sánh điều kiện tu hành và con đường nhận thức về Phật giáo của nhân vật Thúy Kiều ở hai tác phẩm như thế nào. Muốn biết tại sao chung một kết thúc, ta phải tìm cách giải mã ý đồ xây dựng nhân vật của mỗi tác giả.

Phần một: So sánh nhân vật Thúy Kiều ở phương diện tu hành trong hai tác phẩm

I. Điều kiện tu hành

1.  Quan Âm các

Trong Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân để cho cảnh quan Quan Âm các xuất hiện dưới góc nhìn của chính nhân vật:Thúy Kiều trông ngắm bốn bề, thấy đây là một khu vườn đẹp, có hoa bốn mùa, cảnh vật như xuân, kế theo bên trên lầu thấy thờ một pho tượng Quan Âm đại sĩ. Sau khi hoàn tất các thủ tục nghi lễ, Hoạn Thư dặn thị nữ: Viết kinh không phải là việc tầm thường, các con phải ân cần phục dịch. Nếu có chút gì không chu đáo, ta hỏi được, nhất định sẽ phạt nặng.

Trong Truyện Kiều, Quan Âm các hiện ra từ điểm nhìn của Hoạn Thư:

Sẵn Quan Âm các vườn ta

Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa

Có cổ thụ, có sơn hồ

Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh.

Việc tu hành của Kiều được Hoạn Thư cắt cử người chăm sóc chu đáo:

Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,

Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên hương trà.

2. Chiêu Ẩn am

Trong Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân kể việc Thúy Kiều ở lại Chiêu Ẩn am do sự đồng ý của Giác Duyên. Sau mấy ngày, nhân khi nói chuyện, được sư trưởng nhận làm đạo hữu, Thúy Kiều nghe nói liền tương kế tựu kế, bái nhận ngay Giác Duyên làm đạo huynh. Hai người rất là ý hợp tâm đầu.

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du kể việc Kiều được Giác Duyên đón tiếp niềm nở:

Xăm xăm gõ mái cửa ngoài,

Trụ trì nghe tiếng, rước mời vào trong.

Thấy màu ăn mặc nâu sồng,

Giác Duyên sư trưởng lòng lành liền thương.

3. Thảo am

Kim Vân Kiều truyệnkể, Kiều dù được cứu vẫn lo Đốc phủ dò tìm. Biết thế, Giác Duyên nói: “Em chớ lo! Chị đã dựng sẵn một am ở bên sông để làm nơi cho em dấu mình”. Bèn bảo nhà chài nhân lúc đêm tối chèo thuyền về trước am, rồi dắt Thúy Kiều vào đó ẩn náu, không để một người nào được biết.

Còn ở Truyện Kiều, môi trường tu luyện được Nguyễn Du diễn tả:

Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,

Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư.

Một nhà chung chạ sớm trưa,

Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.

Bốn bề bát ngát xa trông,

Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.

So sánh ba địa điểm tu hành của Kiều ở Quan Âm các, Chiêu Ẩn am, Thảo am, ta thấy Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều xây dựng môi trường tu luyện tương tự nhau. Những môi trường ấy đều phù hợp, thuận lợi cho việc tu hành nhằm gột rửa nghiệp chướng. Về khách quan là thế, nhưng tu luyện được như thế nào là thuộc về yếu tố chủ quan của nhân vật Thúy Kiều.

II. Con đường nhận thức

1. Tu ở Quan Âm các

Trong Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân kể khi Thúc Sinh về Lâm Tri thăm Hoạn Thư, nàng đã đốt hương khấn khứa, miệng đọc mấy câu chú cầu trời:

Tương tư muốn gạt lại càng sầu

Suốt ngày lòng âu sầu

Xa nhau mấy tháng đau thương

Biết đến bao giờ mới gặp nhau

Lầm rầm khấn vái thiên đình

Xin run rủi cho chàng mau chóng hồi trình

Nối lời nguyện ước ba sinh.

Tác giả đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều từ chỗ tin mệnh trời (cầu trời,vái thiên đình) theo quan niệm của Nho giáo, nhưng đến Quan Âm các, nàng lại như người am hiểu về Phật giáo: Thúy Kiều thở dài, nói một mình: “Từ nay thế là bị giam lỏng rồi đây. Người xưa lấy chỗ nhà giam làm nơi ở tốt, biết đâu trong bể ghen tuông lại không mở được một cửa Phật rộng lớn? Hay là kiếp trước tội nghiệp sâu nặng nên nhiều tầng oan trái cứ theo mãi không thôi? Giờ đây chính là lúc ta phải một dạ kiên thành, chép kinh lễ Phật để làm tiêu tan nợ cũ”. Từ đó Thúy Kiều an tâm sao chép kinh quyển ở trên lầu. Qua cách thể hiện này, ta thấy Kiều bước vào con đường tu hành rất đơn giản. Tại đây, nàng có ý thức trong việc xác định mục tiêu tu luyện của mình. Nàng không hề bất ngờ khi vào Quan Âm các, cũng không lạ lẫm khi đến với kinh sách. Thanh Tâm Tài Nhân đã xây dựng một nàng Kiều ngay buổi đầu đã coi Quan Âm các là môi trường giúp mình tu luyện để gột rửa nghiệp chướng.

Truyện Kiềukhác Kim Vân Kiều truyện ở chỗ, khi vào Quan Âm các, Kiều lại không hề coi đó là chỗ dựa tinh thần. Điều này thuộc về ý thức chủ quan của nàng. Bởi thế, những biểu hiện khi Thúy Kiều bắt đầu vào con đường tu hành được tác giả thể hiện bằng ngôn ngữ đầy sự hoài nghi:

Nàng từ lánh gót vườn hoa,

Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.

Nhân duyên đâu lại còn mong,

Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi!

Phật tiền thảm lấp, sầu vùi,

Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.

Từ những câu thơ trên, ta thấy nhân vật Thúy Kiều đã bước vào cửa Phật, nhưng nàng chưa thực sự có ý thức tu hành. Vậy nên Cái cách “xin nhờ cửa không” của Kiều thực chất chỉ là một giải pháp để nàng thoát ra khỏi nhà Hoạn Thư chứ đâu phải nàng coi đó là nơi tu tâm để gột rửa nghiệp chướng (http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/su-bien-doi-ngon-ngu-tran-thuat-cua-nguyen-du-khi-mieu-ta-thuy-kieu-o-cac-khong-gian-khac-nhau ) .

Như thế, về thái độ tu hành của Kiều tại Quan Âm các, Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đã có cách xây dựng hoàn toàn khác nhau. Nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân coi Quan Âm các là điều kiện thuận lợi giúp nàng tu luyện, còn nàng Kiều của Nguyễn Du lại coi nơi này chỉ để nàng lánh gót. Đến đây chắc người đọc ngỡ rằng nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân sẽ thẳng tiến trên con đường tu hành, còn nàng Kiều của Nguyễn Du dễ xa rời nghiệp tu. Nào ngờ chỉ một thử thách nhỏ, khi Thúc Sinh xuất hiện thì nàng Kiều của Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều đã thể hiện sự trìu níu trần tục một cách dễ dàng. Nếu như nàng Kiều của Nguyễn Du chỉ coi việc tu hành là tạm bợ nên không vượt qua cám dỗ thì đã đành, đằng này nàng  Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân, người đã từng xác định mục tiêu việc tu hành rất rõ ràng, vậy mà vẫn không vượt qua, ấy mới là điều đáng nói. Tình tiết truyện này gợi mở cho ta hướng tìm hiểu dụng ý của các tác giả khi xây dựng sự phát triển của cốt truyện theo những cách riêng.

2. Tu ở Chiêu Ẩn am

Trong Kim Vân Kiều truyện, hoạt động của Thúy Kiều tại Chiêu Ẩn am chỉ được tác giả đề cập đến ở khía cạnh: Một hôm, hai người lên gác Ngọc Hoàng, Thúy Kiều ngắm trông phong cảnh, cao hứng vịnh một bài thơ […]. Lại một đêm, Giác Duyên cùng Thúy Kiều, Triệu Không và Bất Hà, bốn người ngồi trên cầu Thăng Tiên cùng nhau uống rượu. Theo đề nghị của Giác Duyên, Thúy Kiều làm thơ, rồi đó, mọi người trò chuyện chén tạc chén thù mãi đến trống năm canh mới tan cuộc. Ở đây, Thanh Tâm Tài Nhân xây dựng hình ảnh Kiều coi việc tu hành như giải trí, cùng đạo hữu chú trọng vào uống rượu, làm thơ. Tại sao ở một môi trường tu hành như thế mà tác giả không hề dành cho nàng một chữ nào hướng vào việc kinh sách? Có lẽ Thanh Tâm Tài Nhân đang xây dựng hình ảnh Thúy Kiều theo chiều hướng giảm dần mức độ tu hành.

Ở Truyện Kiều, việc tu hành của Thúy Kiều được Nguyễn Du diễn tả:

Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,

Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.

Sớm khuya lá bối, phướn mây,

Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.

Tại Chiêu Ẩn am, sự chuyên tâm của Kiều đạt đến mức Kệ kinh câu cũ thuộc lòng, bất chấp thời gian sớm khuya để hướng vào nghiệp tu. Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều theo chiều hướng phát triển hơn so với khi tu ở Quan Âm các. Tìm hiểu quá trình hoạt động của Kiều ở Chiêu Ẩn am, ta nhận thấy trong hai tác phẩm đã hé mở về cách xây dựng nhân vật trên bước đường tu hành mang tính nghịch lí.

3. Tu ở Thảo am

Ở Kim Vân Kiều truyện, tác giả không hề đả động đến việc tu luyện của Thúy Kiều. Truyện chỉ kể đơn thuần việc Giác Duyên cứu, rồi sau đó giúp Kiều ẩn náu, phòng khi Đốc phủ dò tìm. Vậy nên khi gặp gia đình ở Thảo am, họ chủ ý đưa Kiều về, nàng trả lời: chỉ nên hầu sư huynh ở đây tu hành là đủ; còn Giác Duyên trả lời: Em nói thế là sai mất rồi. Em mang đạo phục chỉ là tòng quyền mà thôi. Như thế, ở góc nhìn của sư trưởng Giác Duyên, Kiều đâu phải là người tu hành đúng nghĩa. Nhưng với Truyện Kiều, Nguyễn Du lại xây dựng hình ảnh Thúy Kiều trong tư cách là người tu hành. Nàng đã tu được Nạn xưa trút sạch làu làu, có nghĩa là nghiệp chướng của bản thân được gột rửa.

Dõi theo nhân vật Thúy Kiều ở các không gian tu hành, ta thấy Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân có cách xây dựng môi trường tương tự, nhưng việc triển khai hoạt động của nhân vật lại theo chiều hướng trái ngược nhau. Ở Kim Vân Kiều truyện, Thanh Tâm Tài Nhân đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều từ chỗ ban đầu có ý thức coi việc tu luyện là điều cần thiết để tiêu tan nghiệp chướng, nhưng kết thúc ở Thảo am chỉ là tòng quyền, không còn dấu hiệu của người đi tu. Điều này chứng tỏ rằng Thanh Tâm Tài Nhân không chú trọng trong việc xây dựng kiểu nhân vật hướng về việc tu hành. Còn ở Truyện Kiều, Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều từ lúc ở Quan Âm Các đang coi việc tu hành chỉ đơn thuần về hình thức, nhưng sang Chiêu Ẩn am nàng đã chuyên tâm vào việc tu luyện, và đến Thảo am thì đã trong vai người tu hành thực sự ổn định nghiệp tu của mình. Như thế, trên bước đường tu của Kiều, ta không thể phủ nhận sự phát triển nhận thức về Phật pháp của nàng. Việc tu hành của Thúy Kiều được Nguyễn Du coi là con đường nhận thức, thuộc về bản chất chứ không phải đơn thuần hình thức. Vậy nên khi gặp gia đình, Vương ông có ý định đón Kiều về, nàng đã bày tỏ thái độ quyết liệt:

Nàng rằng: “Chút phận hoa rơi,

Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay,

Tính rằng mặt nước, chân mây,

Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?

Được rày tái thế tương phùng,

Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay!

Đã đem mình bỏ am mây,

Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa

Mùi thiền đã bén muối dưa,

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.

Sự đời đã tắt lửa lòng,

Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!

Dở dang nào có hay gì?

Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi!

Trùng sinh ân nặng biển trời,

Lòng nào nỡ dứt nghĩa người ra đi”.

Giờ đây, trong vai người tu hành, Kiều đã bộc lộ quan điểm rất rõ ràng. Thứ nhất, gặp lại gia đình, với nàng, Được rày tái thế tương phùng/Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay!. Đó chính là hạnh phúc nàng mong muốn. Thứ hai, từ ý thức của mình, Kiều quyết định theo đuổi nghiệp tu Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi!/Dở dang nào có hay gì?/Đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi!. Thứ ba, nơi Thảo am nặng ân nghĩa, bởi Giác Duyên đã tái sinh cuộc đời nàng. Như thế, ranh giới giữa tu hành và trần tục đã được nàng nhận thức rất rõ rệt.

Tìm hiểu con đường nhận thức về Phật giáo của nhân vật Thúy Kiều trong hai tác phẩm, ta thấy Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du có cách xây dựng đầy nghịch lí, vậy tại sao đều chung một kết thúc? Trong khi chuyện nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân bước ra đời thường từ Thảo am chẳng khiến ta ngạc nhiên, thì việc làm tương tự của nàng Kiều trong tác phẩm của Nguyễn Du lại khiến ta thắc mắc: đã có ý thức tu luyện nhằm gột rửa nghiệp chướng, tới mức Nạn xưa trút sạch làu làu, vậy sao trong phút chốc nàng dễ dàng buông bỏ như thế?

Có thể nói, chữ hiếu là lí do căn bản khiến nàng rời Thảo am.

Dù rằng trong thâm tâm Kiều muốn ở lại Thảo am, nhưng điều khiến nàng phải làm trái ý nguyện của mình là lời dạy Tình kia, hiếu nọ ai đền cho đây của cha. Như thế cũng có nghĩa   Kiều phải làm tròn bổn phận về chữ tình, chữ hiếu. Thiết nghĩ, chữ tình thì có thể chạnh lòng, bởi xét cho cùng nàng đang “nợ” Kim Trọng. Nhưng về chữ hiếu, chẳng phải nàng đã đem thân mình ra bán để cứu cha rồi hay sao? Giờ đây, chữ hiếu lại một lần nữa thử thách nàng. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã rất nhất quán khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều trong việc thể hiện chữ hiếu. Cả chặng đường lưu lạc, chữ hiếu luôn quặn thắt trong tâm can nàng .Từ những thống kê sau đây, ta có cơ sở để khẳng định, trong mọi cảnh ngộ cuộc sống, Kiều luôn đau đáu một tình yêu thương dành cho các đấng sinh thành.

Lần thứ nhất

Bước chân bất trắc đầu tiêntheo Mã Giám Sinh, nếm trải cay đắngcuộc đời, những muốn chết đi cho khỏi tủi nhục, vậy mà nàng vẫn phải cố mà sống:

Nỗi riêng tầm tã tuôn mưa,

Phần căm nỗi khách, phần dơ nỗi mình:

“Tuồng chi là giống hôi tanh,

Thân nghìn vàng để ô danh má hồng!

Thôi còn chi nữa mà mong,

Đời người thôi thế là xong một đời!”

Giận duyên, tủi phận bời bời,

Cầm dao, nàng đã toan bài quyên sinh.

Nghĩ đi, nghĩ lại một mình:

“Một mình thì chớ, hai tình thì sao?

Sau dù sinh sự thế nào,

Truy nguyên, chẳng kẻo lụy vào song thân…”.

Lúc này, về lí, Mã Giám sinh đang có được cái quyền làm chồng, bởi y đã bỏ tiền ra mua Kiều làm vợ lẽ. Bây giờ, nếu nàng tính bài quyên sinh thì sẽ bị coi là phá “hợp đồng”, và như thế việc chuộc cha sẽ không thành, cuối cùng mọi cố gắng báo đáp nhằm tròn chữ hiếu trở thành công cốc. Bế tắc, đau đớn về tinh thần và thể xác nhưng Kiều chẳng thể giải quyết theo cách quyên sinh. Thân mình chẳng hề tiếc, cái lo hiện tại của Kiều là Truy nguyên, chẳng kẻo lụy vào song thân. Đó chính là chữ hiếu đầu tiên trên bước đường lưu lạc Kiều dành cho cha mẹ.

Lần thứ hai

Còn chưa ra khỏi quê nhà, lúc Vương ông mở tiệc tiễn hành đưa theo, cùng mẹ trong phòng trọ, Kiều day dứt:

Hổ sinh ra phận thơ đào,

Công cha, nghĩa mẹ kiếp nào trả xong?

Bán mình để cứu cha rồi, vậy nhưng trong suy nghĩ của nàng, nợ sinh thành vẫn chưa trả hết, đạo làm con vẫn còn thiếu khuyết. Lòng Kiều đang day dứt bởi không còn cơ hội phụng dưỡng mẹ cha. Chữ hiếu của Kiều đối với song thânngẫm ra thật sâu sắc.

Lần thứ ba

Tại lầu Ngưng Bích, nơi nàng bị giam lỏng và gài bẫy, giữa mông lung hiu quạnh chưa biết cuộc đời sẽ trôi nổi thế nào, Kiều luôn nghĩ đến cha mẹ bằng nỗi nhớ dằn vặt:

Xót người tựa cửa hôm mai,

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.

Giữa xa xôi cách trở, hình dung cha mẹ ngả bóng chiều tà, Kiều không khỏi xót thương. Bản thân đơn độc, chông chênh trên mỗi bước đường, vậy mà nàng vẫn lo nghĩ đến cha mẹ đang thiếu bàn tay chăm sóc của mình. Nếu thấu tỏ những tâm sự ấy của nàng, hẳn sẽ cha mẹ nàng sẽ rất ấm lòng.

Lần thứ tư

Khi vào lầu xanh lần thứ nhất, dù không chống chọi được hoàn cảnh, trong bất lực, đớn đau, chữ hiếu Kiều dành cho cha mẹ vẫn tròn đầy:

Thờ ơ gió trúc mưa mai,

Ngẩn ngơ trăm nỗi, giùi mài một thân.

Ôm lòng đòi đoạn xa gần,

Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau!

Nhớ ơn chín chữ cao sâu,

Một ngày một ngả bóng dâu tà tà.

Dặm ngàn nước thẳm non xa

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này!

Sân hòe đôi chút thơ ngây,

Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình?

Với Kiều, dù đã hy sinh cho cha mẹ hết thảy những gì có thể, nhưng trong thâm tâm, rất nhiều lần nàng đã coi việc phụng dưỡng cha mẹ đang một phần trách nhiệm thuộc về mình.

Lần thứ năm

Khi Từ Hải chia tay Kiều ra đi, vò võ chờ đợi theo thời gian, ngoài tình cảm dành cho chồng, nàng khôn nguôitrăn trở về song thân. Giữa Đêm thâu đằng đẵng nhặt cài then mây, nàng nghĩ đến cha mẹ trong xót xa:

Xót thay huyên cỗi, xuân già

Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?

Chốc đà mười mấy năm trời,

Còn ra khi đã da mồi tóc sương!

Kiều thổn thức khi nghĩ rằng trong khoảng thời gian mười mấy năm trời đằng đẵng đó, cha mẹ ngày càng héo hắt phần do nhớ thương, lo lắng cho con, phần do thiếu bàn tay chăm sóc, phụng dưỡng của chính nàng.

Lần thứ sáu

Chữ hiếu của Kiều đã được tác giả thể hiện ở nhiều hoàn cảnh. Trong tột cùng sung sướng, chữ hiếu của nàng được tác giả thể hiện ở một phương diện khác. Đó là khi khuyên Từ Hải đầu hàng, Kiều bộc lộ mục đích rất rõ ràng :

Công tư vẹn cả hai bề,

Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.

Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,

Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.

Trên vì nước, dưới vì nhà,

Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.

Trải qua một chặng đường gian nan, Nghĩ mình mặt nước, cánh bèo nên giờ là lúc Kiều tính toán thiệt hơn. Việc công, việc đã được nàng đan xen trong sự hài hòa, cân bằng Một là đắc hiếu/hai là đắc trung. Cách nghĩ này, dù ở mặtnào đó còn thiển cận và sẽ gây nên hậu họa khó lường, nhưng đã chứng tỏ ở góc độ nào chữ hiếu cũng được Kiều đặt lên trên hết.

Lần thứ bảy

Lần này, việc thể hiện chữ hiếu của Kiều được tác giả để ở góc nhìn khách quan nhất, đó là qua lời kể của Giác Duyên:

Phật tiền ngày bạc lân la,

Đăm đăm nàng cũng nhớ nhà khôn khuây…

Mười lăm năm lưu lạc, từ ngày đầu ra đi đến điểm dừng chân cuối cùng nơi Thảo am, chưa lúc nào nàng nguôi nghĩ về cha mẹ. Vì cha, Kiều quyết định bán mình, vậy nhưng dù tận cùng đau khổ, chưa bao giờ nàng ân hận. Vì chữhiếu sâu nặngđến mức ấy, nên nơi Thảoam, khi Vương ông nhắc tớinó, nàng sẵn sàng rời nghiệp tu trở về nhà.

Nhìn nhận tác phẩm ở toàn cục của nó, ta thấy Nguyễn Du đã xây dựng hình ảnh một nàng Kiều trọn vẹn về chữ hiếu. Trân quí biết bao tấm lòng hiếu thảo của Thúy Kiều!Chữ hiếu nàng đã đến mức ấy, vậy mà Vương ông – người làm cha vẫn chưa thể nào đo hết hay sao? Trước lời khóc than của Kiều Từ con lưu lạc quê người/Bèo trôi sóng vỗ, chốc mười lăm năm!, lẽ nào Vương ông không động lòng xót xa về sự mình đầu đuôi của đứa con gái đã vì gia đình mà chấp nhận bao nỗi đớn đau, nhục nhã? Giờ đây, với mong muốn chính đáng của Kiều là hanh thông nghiệp tu và đền đáp ân nghĩa với người đã cho nàng cơ hội tái sinh giữa cuộc đời mà sao Vương ông lại đưa ra cái lí làm cha để nàng khó bề lựa chọn? Ai đền cho đây?. Vì cha, mười lăm năm Kiều sống trong bi kịch, không biết trước sống chết thế nào, ở mọi cảnh ngộ éo le cuộc sống vẫn luôn đau đáu nỗi niềm về cha mẹ, thế vẫn chưa đủ đền đáp chữ hiếu cho cha hay sao mà giờ Vương ông còn đòi hỏi? Phải nói rằng Vương ông là người cha quá ích kỉ. Còn về phía Kiều, vốn sâu nặng về chữ hiếu - theo cách nghĩ của mình, vì thế nàng đã động lòng trước lời dạy bảo - như một sự ràng buộc của Vương ông. Xét về chữ tâm của người con, hoàn cảnh của cha mẹ, việc Kiều trở về là hoàn toàn hợp lẽ. Vẫn biết Kiều rời thảo am vì chữ hiếu, đó là lí do đáng được cảm thông, dẫu vậy ta vẫn tiếc cho cách xử lí tình huống của nàng. Cứ cho rằng việc Kiều trở về là đúng đạo hiếu, nhưng sao nàng không nghĩ đến cha mẹ tuổi già còn có Vương Quan và Thúy Vân, để nàng ở lại tiếp tục nghiệp tu còn trau mình và làm việc có ích cho đời?

Quay lại mười lăm năm, chữ hiếu đầu tiên của Kiều là bán mình cứu cha. Đó là kết quả sự lựa chọn khi nàng chưa trải qua biến cố cuộc sống, đang mới ở tuổi cập kê bột phát. Nhưng bây giờ đã trải qua mười lăm năm vật lộn, tuổi đời gấp đôi, hơn nữa lại ba lần đến chốn cửa Phật, làu làu kinh sách, sao nàng vẫn giải quyết chữ hiếu theo cách ấy? Cái ích kỉ của Vương ông, xét mặt đời thường vẫn không đáng trách, bởi ông chỉ đang trong ngưỡng mới biết cầu (Phải điều cầu Phật, cầu Tiên) chứ đâu đã học hỏi kinh sách để hiểu về Phật pháp. Còn Kiều, đã ba lần nàng bước vào cửa Phật, cũng đã tu đến mức Nạn xưa trút sạch làu làu, ấy vậy mà lí trí vẫn không thắng nổi cảm xúc để rồi dễ dàng bị thuyết phục trước lí lẽ của Vương ông. Có thể nói, tuy đã là người tu hành nhưng Thúy Kiều chưa thực sự giác ngộ về Phật pháp ở chiều sâu, bản chất của nó. Vì thế, nàng không đủ sáng suốt đề ứng xử trước những tình thế xảy ra trong cuộc sống. Chữ hiếu trong Phật giáo luôn được đề cao, nhưng cũng cần hiểu rằng biết vận dụng trong những tình huống cụ thể sao cho hợp lẽ chứ đâu cứ phải cứng nhắc. Trên thực tế, việc Kiều trở về chỉ mới thuận một chiều, đó là sự hi sinh, lòng hiếu thảo.

Trở về nhà theo chiều thuận, ngoài việc làm tròn chữ hiếu với cha mẹ, liệu nghiệp chướng có còn đeo bám Kiều nữa hay không, khi mà nàng bao lần tự mình gây nghiệp? Vốn đã như thế thì khi quay lại với đời thường lấy gì đảm bảo cho việc tĩnh tâm an lạc như người tu hành chốn Thảo am, nơi có sư trưởng Giác Duyên đồng hành? Nếu Kiều trở về bên gia đình, tu tại gia đúng nghĩa thì đó là hồng phúc của nàng và nhà họ Vương. Còn nếu như, tình kia mà Kiều mở lòng đền, thì khác nào nàng lại tự mình vận vào nghiệp chướng. Có thể do chủ quan, Kiều không đủ sáng suốt để lường trước điều ấy. Nhưng ở góc độ khách quan, xem xét ý thức sống của Kiều trước nhiều biến cố, ta không khỏi linh cảm nàng sẽ khó lòng vượt qua những chướng ngại xảy ra khi trở về đoàn tụ cùng gia đình.  

Theo chiều nghịch, Kiều không nghe lời cha (trái với thuyết “tam tòng tứ đức” - gốc nho gia của nàng) để ở lại Thảo am theo đuổi nghiệp tu thì sự thể sẽ ra sao? Cứ tưởng trở về trần tục là trọn vẹn đạo làm con, nhưng nếu như nàng thực sự biết cắt nghĩa chữ hiếu theo cách của đạo Phật, sẽ ở lại Thảo am để tiếp tục tu luyện, chuyên tâm kinh sách thì đó mới chính là cách lựa chọn chữ hiếu trọn vẹn nhất. Vì sao ư? Đến Thảo nàng đã nạn xưa trút sạch, tức là mới chỉ mức rửa tội lỗi của cá nhân nàng chứ đâu đã đến độ tạo phúc. Chữ hiếu đâu bắt buộc cứ răm rắp tuân thủ theo lời cha mẹ, trong phạm vi hạn hẹp gia đình, khi cha mẹ chưa thông tỏ. Mở rộng ra, người tu hành phải biết biến hóa chữ hiếu theo cách, là người sống có ích, tạo nhiều hồng phúc, thơm danh cho gia đình, dòng tộc. Kiều vốn thông minh sắc sảo, giá như nàng biết trau dồi bản thân, lấy tinh thông Phật pháp để truyền dạy cho chúng sinh hướng theo nghiệp lành, làm việc thiện, thì trong vai tu hành, nàng thực sự đã làm một việc có ích cho cộng đồng, xã hội. Đó chính là con đường tạo phúc, một chữ hiếu trọn vẹn nhất mà chỉ có những người am hiểu Phật pháp thực sự mới coi đó làm mục tiêu cho mình. Vậy nên, nếu Kiều không theo lời cha, ở lại Thảo am với tâm nguyện ấy thì cũng đâu phải bất hiếu. Đằng này, Kiều đã trở về và xảy raMột bi kịch ứng xử vô thức trong sự tước đoạt hạnh phúc của người khác mà chính người trong cuộc cũng không hay biết khi mà bản thân họ đang níu giữ lấy nó trong mọi hoàn cảnh, đã để bia muôn đời thì thử hỏi cha mẹ lấy gì mát mặt, và vô hình trung nàng chẳng phải là đứa con bất hiếu hay sao? (“Truyện Kiều”, chưa xong điều nghĩ…Nhà xuất bản Hội nhà văn, xuất bản năm 2016, trang 143). Thực chất, một chữ hiếu trong tôn giáo nói chung và ở đạo Phật nói riêng, việc cắt nghĩa thế nào cho đúng trong từng hoàn cảnh vẫn là điều không hề đơn giản.

Tìm hiểu con đường nhận thức về Phật giáo của nhân vật Thúy Kiều trong tác phẩmTruyện Kiều, ta thấy nàng chưa thực sự giác ngộ để giải quyết những tình huống xảy ra trên con đường tu hành. Mặc dù ý nghĩa việc rời Thảo am của nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện khác nhau hoàn toàn, nhưng đáp số chung vẫn là tu chưa trọn.

Phần hai: Giải mã ý đồ của tác giả khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều trên bước đường tu hành

I. Tác giả Thanh Tâm Tài Nhân

Đọc Kim Vân Kiều truyện, ta thấy Thanh Tâm Tài Nhân xây dựng nhân vật Thúy Kiều trên con đường tu hành rất đơn giản. Ông không hề có ý thức trong việc xây dựng nhân vật hướng vào Phật pháp để gột rửa nghiệp chướng. Vì thế, mức độ tu luyện của Thúy Kiều giảm dần, cuối cùng bước ra trần tục rất đỗi nhẹ nhàng. Điều đó chứng tỏ Thanh Tâm Tài Nhân không quan tâm đến vấn đề Phật giáo trong việc giúp con người hướng thiện. Chính vì thế khi xây dựng tác phẩm của mình, ông chỉ xoay quanh một câu chuyện có tính bi kịch và cách giải quyết ra sao chứ không có ý đồ thông qua nhân vật của mình để gửi gắm vấn đề tư tưởng như ở Truyện Kiều.

II. Tác giả Nguyễn Du

Khác vớiKim Vân Kiều truyện củaThanh Tâm Tài Nhân, Truyện Kiều của Nguyễn Du thể hiện tính tư tưởng rất rõ ràng. Nguyễn Du đã xây dựng nhân vật Thúy Kiều trên bước đường tu hành, từ đấy ông muốn thông qua nhân vật để gửi gắm quan niệm của mình về Phật giáo. 

Nhìn hình ảnh nàng Kiều khi ở Quan Âm các, ta cứ ngỡ nàng coi cửa Phật là nơi để sửa mình. Nhưng từ phía chủ quan, Kiều coi việc giữ chùa chép kinh chỉ là hình thức, Quan Âm các là nơi lánh gót. Đến khi Kiều có ý thức tu luyện tại Chiêu Ẩn am và Thảo am thì nàng gặp phải những chướng ngại khách quan không vượt qua được. Phải chăng đó là cách tác giả muốn đề cập đến con đường tu hành luôn phải đối mặt với trắc trở, không hề dễ dàng từ phía chủ quan cũng như khách quan?

Để hiểu thêm tư tưởng Phật giáo của Nguyễn Du, ngoài Truyện Kiều (thơ Nôm), ta tìm hiểu một số bài thơ chữ Hán của ông. Là nhà nho xuất thân từ một dòng tộc vinh hiển, khi Nguyễn Du có ý thức hướng về Phật giáo, hẳn ông không thể không trăn trở. Có lẽ vì thế mà giữa dòng đời nhiều uẩn khúc, việc thoát tục của Nguyễn Du vẫn đang còn là điều mơ ước, như trong bài “Sơn thôn” ông  đã từng tâm sự:

Na đắc khiêu ly phù thế ngoại

Trường tùng thu hạ tối nghi nhân

(Ước gì thoát được vòng trần tục

Ngồi dưới gốc tùng thú biết bao).

Tuy không có cơ hội xuất gia, nhưng từ vốn sống, tầm hiểu biết và sự trải nghiệm của mình, Nguyễn Du đã bắt đầu chạm được vào chữ tâm trong đạo Phật:

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh

Tỉnh thủy vô ba đào

Bất vị nhân khiên xả

Thử tâm chung bất giao

Túng bị nhân khiên xa

Nhất giao hoàn phục chỉ

Trạm trạm nhất phiến tâm

Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.       

                             (Đạo ý)

Dịch:

Trăng sáng chiếu giếng xưa

Nước giếng không gợn sóng

Không bị người khuấy động

Tâm này thật chẳng động

Nếu bị người khuấy động

Lay động rồi lại dừng

Một cõi tâm lắng đọng

Như trăng soi giếng xưa.

Phật từ trong tâm chứ không phải là hình thức, vì thế, đến với Phật giáo mà không hiểu bản chất thì khác nào mê muội, mù quáng. Mù quáng thì ắt tâm không sáng. Tâm không sáng ắt ma quỉ hiện về. Bởi quan niệm như thế, nên khi đi sứ ở Trung Quốc, bắt gặp “hình thức” chữ nghĩa ở “Đài chia kinh” của Thái tử Chiêu Minh nhà Lương, Nguyễn Du cảm tác bài thơ để bộc lộ quan điểm của mình:

Phật bản thị không bất trước vật

Hà hữu hồ kinh, an dụng phân ?

Linh văn bất tại ngôn ngữ khoa

Thục vi Kim Cang vi Pháp Hoa

Sắc không cảnh giới mang bất ngộ

Si tâm quy Phật Phật sinh ma...

                                              (Đài chia kinh)

Dịch:

Phật vốn là không, vật chấp nào,

Vậy có kinh nào để đặt chia?

Văn linh nào nhờ nơi ngôn ngữ,

Kim cương, Pháp Hoa là kinh gì?

Cảnh giới sắc không mà không tỏ,

Lòng mê theo Phật, Phật thành ma.

Tìm hiểu Truyện Kiều và thơ chữ Hán của Nguyễn Du, ta nhận thấy có mối liên hệ chặt chẽ trong nhận thức về Phật giáo của ông. Phật giáo là nơi cứu rỗi tâm hồn, giúp con người hướng thiện. Phật giáo có ý nghĩa như thế, nhưng để trở thành người đắc đạo quả không hề đơn giản. Từ quan niệm đó, ông muốn làm sáng tỏ vấn đề: Thúy Kiều,một người trưởng thành từ môi trường Phật giáo, nhưng do tâm không tịnh nên dù kinh sách làu làu, cuối cùng cũng chẳng thể nhập tâm. Và khi đã không nhập tâm thì dù có thông tuệ khác thường, trí cũng không được soi sáng để mình có thể lựa chọn con đường đúng. Vì thế, dù trong vai người tu hành ba lần đến chốn cửa Phật nhưng cuối cùng bước chân Kiều không thể yên định chốn am mây. Trên mỗi chặng đường dấn thân vào nghiệp tu, giữa bao chông gai, chướng ngại, nếu người tu hành không vững tâm, không sáng suốt thì con đường ấy ngày càng xa vời vợi, chẳng thể vượt qua để trọn nghiệp tu. Đến cửa Phật cần một chữ duyên - như tự nhiên sinh ra, nhưng có giữ được duyên, nên duyên hay không lại thuộc về ý thức chủ quan của con người trong việc hướng về nó. Phải chăng từ cách xây dựng nhân vật Thúy Kiều trên bước đường tu hành, tác giả muốn bày tỏ ý thức giác ngộ của con người khi hướng tới Phật giáo?