Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Nhịp cầu văn hóa(4)

Vào miền Nam, tạp chí Courrier du Vietnam và sách Kể chuyện đất nước

Sau giải phóng miền Nam, trước tết 1975, tôi vào Sài Gòn. Ngoài việc đi thăm họ hàng, thật cảm động khi được gặp lại những anh em Việt kiều ở Pháp về Hà Nội trước đây, rồi vào miền Nam trong thời chống Mỹ, nay nhận công tác ở các cơ sở, các ngành sau khi tiếp quản. Qua trò chuyện, các anh chị em này giúp tôi hiểu biết rất nhiều. Đặc biệt là chị Anh và anh Dương Quang Trung, từ Pháp về Hà Nội công tác nhiều năm rồi vào miền Nam năm 1965, đi bộ trong rừng, trên đường mòn Hồ Chí Minh, sốt rét vẫn đi, 6 tháng trời mới đến ngoại vi Sài Gòn. Để có giấy tờ nhập vào thành phố, lúc đầu phải ở nhà một nông dân nghèo là cơ sở của ta, đi cấy, đi gặt... như con cháu trong nhà. Vào đến nội đô, chị vốn là bác sĩ, phải thi vào làm y tá ở bệnh viện. Dưới vị trí công khai như vậy, 10 năm ròng rã, chị hoạt động bí mật, vượt qua bao thử thách, suýt bị bắt mấy lần. Anh Dương Quang Trung cũng vậy, 10 năm lăn lộn trong hoạt động nội thành, tóc đã bạc đi rất nhiều. Gặp lại những người tưởng chừng khó mà sống sót qua cuộc chiến đấu một mất một còn giữa nơi trung tâm đầu não của Mỹ - Ngụy, lòng tôi vừa xúc động, vừa tự hào. Tự hào cho tổ chức Việt kiều đã đào tạo ra những con người như thế. Còn nhiều các anh các chị khác nữa. Không thể kể hết, cũng đã không hề tính toán, giá thử ở lại Pháp 10, 15 năm nữa mới về thì chắc sẽ giàu sang hơn nhiều nhưng họ vẫn lựa chọn con đường về với quê hương, không có gì thay thế niềm tự hào được tham gia những năm gian khổ đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc.

 

Ngoài ra, tôi còn gặp nhiều người ở lực lượng thứ ba là các nhà trí thức, các vị linh mục. Tôi còn đến gặp cả một số người ở chính quyền cũ, trong đó có Nguyễn Văn Hảo đã từng làm Thủ tướng ngụy mấy tháng, vì có quen biết từ hồi ở Pháp.

Thành phố này tôi chưa bao giờ đến, từ năm 1973 có ghé ngang qua hồi đi Pháp. Nhưng đi đến đâu cũng có vẻ như quen thuộc, vì trong bao nhiêu năm tôi đã từng dõi theo từng bước cuộc đấu tranh nhiều mặt diễn ra ở từng khu vực. Tôi thấy rõ tính hai mặt của thành phố này: mặt thứ nhất là vốn cách mạng, chuyện đánh Pháp, đánh Mỹ, nơi nào cũng để lại dấu vết; mặt thứ hai là ảnh hưởng ghê gớm, sâu sắc của hai đế quốc xâm lược ăn sâu vào từ tầng lớp trên đến tầng lớp dưới, đặc biệt là tâm lý tiêu xài tràn ngập. Một số câu hỏi được đặt ra: Ai sẽ thắng ai? Khi kể về thành phố này, tôi viết cả hai mặt. Nói đến mặt năng động, tích cực thì các vị lãnh đạo thành phố hân hoan, nhưng nói đến mặt tiêu cực thì các vị tỏ ra không vui lắm.

Nhớ lại lúc ở Hà Nội, tôi được nghe một đồng chí cán bộ cao cấp phổ biến về tình hình kinh tế miền Nam mới giải phóng. Đối chiếu với nhiều tài liệu đã nghiên cứu, tôi thấy rõ đồng chí này không nắm được thực tế của kinh tế miền Nam trong mấy chục năm qua. Không thấy cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đã làm thay đổi kinh tế và cuộc sống như thế nào, nên vẫn lý luận như thời đế quốc năm 1930. Một số anh em vẫn sống với những ký ức của những ngày trước khi đi tập kết, sống theo kỷ niệm của những năm 1945, là miền Nam tràn trề cơm gạo, cá mắm… không thấy sự tàn phá của chiến tranh, dân số tăng lên nhiều, cơ cấu xã hội đã thay đổi, chuyện tá điền, địa chủ lớn không còn nữa.

Về mặt văn hóa tư tưởng, một số anh em bên Ủy ban Khoa học Xã hội nêu vấn đề phải chú ý thuyết hiện sinh. Đúng là trước năm 1975, thuyết này có ảnh hưởng đến một số trí thức Sài Gòn. Theo kinh nghiệm ở Pháp, tôi nghĩ rằng một vài năm nữa ở Sài Gòn, nó cũng qua đi thôi, không có gì đáng lo ngại.

Ngoài Sài Gòn, tôi đã có dịp đi Cần Thơ, Tây Ninh, Phan Rang, Phan Rí, Cà Mau, Bến Tre v.v… đến thăm những cơ sở của đạo Dừa, đạo Cơ đốc và năm 1977, có về vùng Hòa Hảo ở An Giang. Đã có nhiều sách viết về các đạo này, tôi chỉ nêu lên suy nghĩ của tôi là về Khoa học xã hội ở miền Nam, rất cần nghiên cứu vấn đề tôn giáo và vấn đề người Hoa. Rất nhiều đề tài phong phú, và ngay sau giải phóng, còn nhiều nhân chứng vật chứng có thể giúp chúng ta nắm bắt thực tế sâu sắc. Nếu khoa học xã hội làm đúng vị trí của mình là đi trước, nghiên cứu, điều tra xã hội đang vận động để phát hiện vấn đề, nêu lên những điều cần tập trung giải quyết, thì có thể giúp cho lãnh đạo đề ra chủ trương chính sách, đúng, kịp thời. Nhưng trong một thời gian dài, còn có quan niệm khoa học xã hội đi sau, tìm tòi thực tiễn để chứng minh chủ trương do lãnh đạo đưa ra, nên chúng ta đã đi chậm trong khá nhiều vấn đề.

Chuyến đi miền Nam giúp tôi thu thập nhiều tài liệu sinh động, gặp rất nhiều người ở nhiều tầng lớp khác nhau, người làm nghề này, người làm nghề khác. Nhờ đó về sau viết được nhiều bài phóng sự đăng trên báo Nhân dân đến năm 1995 tập hợp lại thành sách dày hơn 300 trang.

Trong bài Mũi Cà Mau đã đăng ở báo Nhân dân, tôi mô tả dòng sông Cửu Long, mà điều thú vị nhất là sự giành giật của con sông tuôn nước ngọt và phù sa về đồng bằng trong mùa lũ, đến mùa khô nước biển mặn lấn trở lại, tạo ra mấy vùng: vùng gần bờ sông nước ngọt quanh năm, vùng bưng (nước lợ) rồi vùng nước mặn gần biển. Tôi hình dung một quá trình tiến bộ về khoa học kỹ thuật và xã hội sẽ bồi đắp miền Tây này rất nhanh, và vẽ ra một tương lai như nhân dân Hà Lan ngày xưa đã bồi đắp cả một vùng sình lầy, đắp đê đào kênh, rồi biến thành đất nước Hà Lan phồn thịnh như ngày nay. Vào đây thấy cảnh mênh mông bát ngát khác cảnh đồng ruộng miền Bắc, không phải là cái đẹp của hoa sen nữa, không phải là “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen”, mà là hoa súng, phải dùng từ nào cho hợp với hoa súng. Sau đó, báo Nhân dân cho biết có hơn 30 bức thư phản đối, nói tại sao lại dám viết hoa súng thay hoa sen, hay là muốn bỏ câu “Nước Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Phải điều tra cho rõ tác giả Nguyễn Khắc Viện là ai, như thế nào? Việc này sau cũng không thành vấn đề gì, nhưng nhắc lại để hiểu thêm nghề làm báo ở ta không đơn giản chút nào!

Sau giải phóng miền Nam, Ban Tuyên huấn có ý kiến tờ Courrier du Vietnam trước ra hàng tuần, nay hòa bình rồi nên ra hàng ngày. Tôi đáp lại là ra hàng tháng chứ không phải ra hàng ngày. Ta chỉ ra báo hàng ngày khi in xong giao tận tay tức thời ngay hôm ấy. Còn báo của ta in xong, dịch xong, gửi ra nước ngoài cũng phải một tuần sau mới đến tay người đọc thì không cần thiết. Thời chiến, tin thời sự dồn dập, ta buộc phải ra hàng tuần. Nay hòa bình rồi, người ta cũng không chờ đón tin Việt Nam như trước nữa, ta cũng không nên ra hàng tuần viết vội, in vội như thời chiến. Sau đó, tờ Courrier du Vietnam chuyển thành báo ra hàng tháng.

Trong dịp tôi sang Pháp năm 1977, nhà xuất bản của Đảng Cộng sản Pháp yêu cầu tôi viết cho một cuốn sách chừng 100 trang giới thiệu đất nước Việt Nam thống nhất để cho người Pháp đọc một cách dễ dàng, sinh động. Chuyến đi sau giải phóng từ Bắc vào Nam, rồi từ Nam ra Bắc, từ biên giới Trung Quốc đến mũi Cà Mau, được tận mắt nhìn ngắm cả một đất nước độc lập tự do liền một dải sau hơn một chục năm bị đô hộ, chia cắt, đã gợi lên trong tôi biết bao cảm xúc dạt dào. Trong dịp buộc phải nằm nghỉ 2 tháng tại bệnh viện do bị viêm phế quản nặng, tôi viết một cuốn sách mỏng, kể lại chuyến đi ấy. Qua mỗi nơi, kể một chuyện hoặc tả đặc điểm phong cảnh, cuộc sống từng vùng. Cuốn sách này dễ xem, dễ hiểu, được bạn đọc hoan nghênh, được dịch ra một số tiếng, kể cả tiếng Bồ Đào Nha. Đây là lần đầu tiên sách tôi được dịch ra tiếng Bồ Đào Nha. Đó là cuốn Vietnam patrie retrouvée.

10 năm sau, anh em Việt kiều về nước khá nhiều, nhiều anh em chưa có dịp tìm hiểu đất nước, tôi đã viết lại nội dung cuốn sách đó bằng tiếng Việt; đó là cuốn Kể chuyện đất nước do Nhà xuất bản Ngoại văn in và tái bản năm 1993.

Theo yêu cầu công tác tuyên truyền đối ngoại, tôi đã được đi đến gần 20 nước ở hầu khắp các châu, từ Á đến Âu, từ Phi đến Mỹ: Campuchia, Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc, Lào, Ý, Tây Đức, Bỉ, Na Uy, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Sénégal, Cuba... Trừ Ấn Độ và Bangladesh tôi đến năm 1971, còn các nước khác, tôi đều đến sau khi đất nước được thống nhất. Ngoài việc tham gia các hội thảo về các vấn đề như chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới... và giới thiệu tình hình Việt Nam, những chuyến đi này đã giúp tôi mở rộng tầm mắt, học hỏi được rất nhiều. Nội dung tuyên truyền đối ngoại khác nhau qua từng giai đoạn. Thời chiến chủ yếu là nêu cao cuộc kháng chiến chính nghĩa và tất thắng của dân tộc, còn sau 1975, phải giải đáp nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh trong tình hình mới.

Tháng 4/1977, tôi trở lại Paris nhân dịp Tổng thống Pháp đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang thăm. Đài, vô tuyến truyền hình Pháp đề nghị đưa lên màn hình một cuộc tranh luận giữa tôi với các nhà báo Pháp về vấn đề thống nhất nước Việt Nam. Khán giả Pháp rất thích theo dõi những cuộc tranh luận kiểu như thế này. Thế là một mình tôi đối chọi với ba nhà báo Pháp. Hồi đó một vài người trong phái hữu và phái tả lúc còn chiến tranh thì có thiện cảm với ta, nhưng họ nghĩ rằng sau khi Sài Gòn được giải phóng, sẽ có hai chính phủ ở hai miền trong một thời gian dài. Khi nước ta thống nhất bầu ra một Chính phủ mới, họ rất cay cú và cho như vậy là miền Bắc xâm chiếm miền Nam. Ý đó thể hiện rõ ngay trong lời đề dẫn: “Ông Nguyễn Khắc Viện nói là cách đây 2 năm, xe tăng Bắc Việt vào chiếm Sài Gòn và từ đấy nước Việt Nam đã thống nhất. Nhân dân Việt Nam phải trả cái giá về sự thống nhất như thế nào?”

Tôi nói:

Chuyện này tôi có thể trả lời rất dễ dàng. Không nói đến bom đạn, vì mọi người đã thấy. Ngay trong gia đình tôi, tôi là người miền Bắc, vợ tôi là người miền Nam, gia đình vợ tôi ở Sài Gòn lâu năm. Năm 1947, phải ra đi. Ở Pháp rồi lại về Hà Nội. Gần 30 năm phải xa gia đình vì Pháp đánh rồi Mỹ đánh, không có tin tức, thư từ gì cả. Vừa giải phóng xong, đường sá vẫn còn đầy bom đạn, đi lại rất khó khăn, vợ tôi vẫn quyết định lao về để tìm cho được gia đình, nhất là bà mẹ già. Được tin ông bố già bị mất trong chiến tranh. Vợ tôi đi rất nhanh, vào đến Sài Gòn, tìm gặp được bà mẹ. Thống nhất đối với nhân dân Việt Nam là như thế.

Tôi không nói luận điểm chính trị như Việt Nam là thống nhất lâu đời v.v... mà đi ngay vào tình cảm gia đình. Đây là một cách tôi thường làm khi đứng trước những người đối địch, vì họ đã sẵn có những quan điểm nhất định, mình không thể thuyết phục ngay được. Nói ở đây là nói với những người thứ ba đương phân vân lưỡng lự chưa hướng về phía nào.

Họ lại nói như là mình lừa đảo: “Hồi đó, tại sao các ông lại đưa ra 2 Chính phủ, Chính phủ miền Bắc rồi lại Chính phủ lâm thời? Bây giờ lại nhập làm một?”

Cái chuyện lịch sử vẫn là lịch sử. Lúc Mỹ đánh chiếm Việt Nam, một nước bị cắt đôi, vùng này cần xây dựng, vùng kia chưa xây dựng được. Hai vùng ở cách xa nhau, nhiệm vụ khác nhau, nên phải có 2 tổ chức để thực hiện nhiệm vụ, còn Việt Nam chỉ có một dân tộc, chỉ có một mục đích đấu tranh giành độc lập và thống nhất. Nếu nói về con người thì cả miền Bắc và miền Nam đều công nhận ông Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc. Nói về quê quán thì ông Phạm Văn Đồng quê ở miền Nam mà ông Nguyễn Cao Kỳ quê lại ở miền Bắc. Điều đó không khác gì hồi Pháp bị Đức chiếm đóng, vùng phía Nam giao cho Pháp quản lý, thành ra có hai vùng. Đức rút đi lại phải nhập lại làm một. Không lý do gì Đức đi rồi lại phải lập hai Chính phủ.

Sau buổi truyền hình ấy, lúc tôi vào một cửa hàng, họ bảo: Hôm trước ông nói ở vô tuyến truyền hình nghe rất là thú vị. Nói chung, nhân dân Pháp đều hoan nghênh thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của chúng ta.

Năm 1978, sau hội nghị ở Đakao về vấn đề phi thực dân hóa, trên đường từ Sénégal về, tôi lại có dịp ghé Paris. Thời kỳ này, dư luận nhiều nước phương Tây xôn xao là không đồng tình với một số chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam. Tờ báo Le monde diplomatique, một tờ báo lớn của Pháp, từ trước đến nay vẫn được cho là khách quan, nghiêm túc và có ảnh hưởng lớn đối với cả thế giới, do bị ảnh hưởng của một số luận điệu tuyên truyền không đúng, đăng một số bài có nội dung xuyên tạc sự thật ở Việt Nam. Ví dụ như nói rằng các trại cải tạo ngụy quân ngụy quyền ở miền Nam còn giữ 80 vạn sĩ quan và lính. Đây là sự bịa đặt hoàn toàn. Vì chính sách của ta không buộc lính phải đi cải tạo, mà chỉ tập trung cải tạo sĩ quan thôi. Mà tổng số sĩ quan do Mỹ ngụy đào tạo trong suốt 20 năm chỉ có 7 vạn thôi. Có một nhà báo nổi tiếng, thời chống Mỹ ủng hộ ta, nhưng không đồng tình với việc nước ta thống nhất ngay sau giải phóng, nên khi nghe tin người di tản, vội vàng tung tin là bà Nguyễn Thị Bình bị đưa đi trại cải tạo. Tất nhiên, tôi phải vạch trần những điểm xuyên tạc đó, nhưng báo Le monde diplomatique không chịu đăng những bài viết của tôi.

 

Qua Trung Quốc

Từ sau Hiệp định Paris (1973) cho đến những năm 1977, 1978, 1979 vấn đề nổi cộm trong dư luận thế giới là quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Nhớ lại năm 1963, lúc từ Pháp về nước, ghé qua Bắc Kinh, cái cảm giác “vừa là đồng chí, vừa là anh em” rất rõ. Nhưng từ năm 1972 về sau, giữa Việt Nam và Trung Quốc xảy ra nhiều sự bất đồng. Hồi giải phóng Sài Gòn, báo chí Trung Quốc chỉ đưa một tin rất nhỏ, trong lúc báo đài quốc tế dồn dập đưa tin. Đến đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ tư (1976), các Đảng lớn các nước anh em đều đến dự, riêng Đảng Cộng sản Trung Quốc vắng mặt. Hồi ở Trung Quốc có Cách mạng văn hóa, chúng ta thấy chuyên gia hoặc công nhân Trung Quốc có những việc làm rất khó hiểu. Thí dụ trước lúc đá bóng, các cầu thủ tập hợp lại đọc một đoạn sách đỏ của Mao Trạch Đông, hoặc trước lúc ăn cũng vậy.

Năm 1977, từ Paris về Hà Nội, tôi có ghé qua Bắc Kinh vài ngày. Cuộc Cách mạng văn hóa đã ngừng. Đến hiệu sách lớn nhất tìm mua một quyển cổ điển như thơ Đường hay Luận ngữ không có. Tìm mua một bức tranh nhà Tống hay về Tưởng Giới Thạch cũng hoàn toàn không thấy. Trong 10 năm Cách mạng văn hóa, không có một sáng tác văn học nghệ thuật nào đáng kể. Tôi nghĩ lại, nếu 10 năm qua Cách mạng văn hóa tràn sang Việt Nam thì chúng ta còn phải gỡ bao điều phức tạp nữa?

Ở phương Tây đã có lúc rộ lên một dư luận chống Việt Nam. Chưa bao giờ chúng tôi thấy căng thẳng như thế. Câu đầu tiên họ hỏi là vì sao giữa Trung Quốc và Việt Nam lại có mâu thuẫn gay gắt đến thế này, như là đang chuẩn bị chiến tranh.

Giải thích vấn đề này không phải là dễ. Chúng tôi phải nghiên cứu kỹ, đi từ lịch sử từ khi hình thành nước Trung Quốc, lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam... để làm sáng tỏ một số vấn đề lớn như: từ thời Tần Thủy Hoàng cho đến các triều đại Minh, Thanh, tư tưởng Đại Hán, muốn làm vua cả thiên hạ, đã ăn sâu vào giai cấp phong kiến thống trị Trung Quốc. Các phong trào nổi dậy chống triều đình từ thời chống Tần Thủy Hoàng cho đến Thái Bình Thiên quốc chống nhà Thanh đều là theo tư tưởng không tưởng của những anh hùng hảo hán, cướp của nhà giàu rồi chia đều ra mà ăn, có tính chất giang hồ, đánh thắng người cầm quyền thì lại lên ngôi vua lập ra triều đại mới. Đến thế kỷ 20, Cách mạng Tân Hợi thất bại. Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khi thành lập cho đến năm 1949 chủ yếu là dựa vào lực lượng nông dân, theo lý luận gọi là Mác - Lênin, nhưng quan điểm là chỉ có nông dân nghèo mới thực sự làm cách mạng, phủ định vai trò của giai cấp công nhân và trí thức. Từ sau khi cách mạng Trung Quốc thành công năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyền cho đến lúc bấy giờ (năm 1978), cuộc đấu tranh nội bộ trong Đảng Cộng sản diễn ra gay gắt. Cuộc Cách mạng văn hóa được đề xướng, bất chấp mọi nguyên tắc, nhằm trấn áp lực lượng chống đối. Chúng tôi cũng nói rõ những tham vọng bành trướng đối với Việt Nam, và đường lối độc lập, tự chủ của Việt Nam, từ đó mà nảy ra mâu thuẫn.

Hè năm 1979, tôi được dịp sang Campuchia. Sau giải phóng, nhân dân Campuchia được trở về làng cũ, thành phố cũ. Phnôm Pênh bị bỏ hoang đã 4 năm, cây cối mọc um tùm, sân vận động vắng teo, lơ lửng giữa sân có một cái ghế, tôi có cảm giác như là một thành phố đã bị bỏ quên, bị vùi lấp, bây giờ các nhà khảo cổ phát hiện trở lại. Đau xót nhất là tất cả anh em trí thức tôi quen ở Paris đều đã bị giết. Nghe nhiều chuyện cảm thấy rùng rợn không thể chịu được. Có một bà phụ nữ nói với tôi là sau khi Pôn Pốt bị đuổi đi, có điều thích là được quyền mặc váy màu xanh, đỏ, thời Pôn Pốt toàn mặc màu đen. Có một bà Pháp lai Campuchia bị bắt đưa về nông thôn lao động, có lúc đói đến mức thấy bất cứ con gì cũng bắt ăn, kể cả gián!

Anh em quen cho biết món quà quý nhất là kính, vì thời Pôn Pốt, anh nào đeo kính là trí thức, là chết, nên phải vứt hết kính. Lúc trở về Phnôm Pênh, kính rất hiếm. Ra chợ thấy cách mua bán rất kỳ lạ, đổi chác hiện vật như thời cổ xưa, đem xà phòng đổi lấy gạo v.v... Báo cáo của Pôn Pốt đã từng khoe là chúng ta đã đến lúc bỏ được tiền tệ. Chuyến này nhờ đi với quân đội nên đến được tận Angkor. Tôi chưa thấy một di tích lịch sử nào mà hùng vĩ, lớn lao như vậy, ở Ấn Độ, ở Pháp, cũng chưa thấy. Có đến hàng ngàn cái đền, hai cái lớn nhất là Angkor Vát và Angkor Thom. Angkor Vát, tháp giữa cao 65 mét, bằng đá, dài hàng kilômét; tường cao 2 mét, chạm từng cái hoa, cái lá, cái chân, cái tay, cái mắt của con người, mà lại chạm vào đá. Không thể tưởng tượng được công sức tiền của, làm bao nhiêu năm mới xong! Không lạ gì khi mà nhân dân Khơme làm xong công trình kỳ vĩ đó thì kiệt sức, và đến thế kỷ 14, bị quân Xiêm (Thái Lan) đánh đuổi, phải chạy về PhnômPênh, bỏ hoang Angkor trong 400 năm. Bốn trăm năm ở một vùng phù sa, cây cối mọc thành rừng bao phủ che lấp tất cả đền. Mãi đến cuối thế kỷ 19, Pháp khai thác mới phát hiện ra trong rừng sâu đấy có cả một thành phố, mới tìm lại được Angkor. Dọc đường, anh hướng dẫn viên du lịch kể chuyện là có 19 hướng dẫn viên du lịch vì biết tiếng Pháp, tiếng Anh, nên bọn Pôn Pốt đã giết mất 17 người.

“Trông người lại ngẫm đến ta”

Việc đi các nước ở các khu vực trên thế giới, có chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế, xã hội khác nhau đã giúp tôi thấy được sự chuyển biến nhiều mặt, nhiều chiều của con người và cuộc sống trong thời đại ngày nay. Tuy không có điều kiện nghiên cứu sâu, nhưng tình hình thực tế ở những nơi tôi đã đến gợi cho tôi nhiều điều suy nghĩ về những vấn đề của Việt Nam, đúng như câu: “Trông người lại ngẫm đến ta”. Tôi chỉ kể lại một vài câu chuyện đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất.

Quý 3 năm 1976, tôi được các bạn bên nước Cu Ba mời sang để bàn việc dịch và in một số cuốn sách về Việt Nam, trong đó có Truyện Kiều, sang tiếng Tây Ban Nha. Bạn dựa vào bản dịch Truyện Kiều bằng tiếng Pháp để chuyển sang tiếng Tây Ban Nha. Tôi làm việc ở đấy 10 ngày. Tôi lấy làm ngạc nhiên về một số điểm, ví dụ như điện thoại công cộng ngoài đường tha hồ gọi, Nhà nước bao hết, không phải trả tiền, Hội nhà văn thì làm một cái như tự nguyện, nhà văn viết sách, báo không lấy nhuận bút nữa, Nhà nước đã trả tiền lương rồi, cứ ngồi mà viết thôi...

Tôi đến Ấn Độ hai lần, lần đầu vào năm 1972 lúc miền Nam đang chiến đấu quyết liệt chống đế quốc Mỹ và miền Bắc (nhất là từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh) đang ngày ngày chống chọi ác liệt với bom đạn Mỹ. Cùng với anh Văn Thân, đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và anh Lê Bá Côn, phiên dịch tiếng Anh, chúng tôi đến New Delhi dự một cuộc hội thảo quốc tế bàn về tình hình chủ nghĩa đế quốc lúc đó là chủ nghĩa thực dân mới. Buổi cuối cùng, bà Gandhi, Thủ tướng Ấn Độ đến dự. Bà trả lời gọn gàng tất cả các câu hỏi của những người tham dự hội thảo. Lần đầu tiên tôi được gặp một người phụ nữ sắc sảo như thế. Nhân dịp đó, tôi cũng xin hỏi bà Thủ tướng (tôi hỏi bằng tiếng Pháp): “Thưa bà Thủ tướng, đối với một nước nhỏ như Việt Nam, chính sách của Mỹ rất nguy hiểm. Đối với một nước lớn như Ấn Độ, chính sách thực dân này có nguy hiểm không?”. Bà trả lời ngay giữa hội thảo: “Ôi ghê gớm lắm, nguy hiểm lắm!”. Tôi cũng hiểu điều này nhưng muốn để bà phát biểu việc chống Mỹ rõ ràng trong buổi hội thảo có đông học giả các nước phương Tây và Mỹ La Tinh tham dự.

Trong buổi thảo luận, tôi có nêu ra một ý kiến về sự hợp tác giữa các nước đang phát triển, tức là sự hợp tác Nam - Nam. Tôi nói đứng về khoa học kỹ thuật, thì các nước đang phát triển có thể quan hệ thuận lợi với Liên Xô và các nước phương Tây. Nhưng các nước đang phát triển ở phía Nam có một điểm chung là ở vùng nhiệt đới. Ấn Độ là một nước lớn, có thể tập trung về khoa học nhiệt đới. Việt Nam và Ấn Độ nên hợp tác trong những lĩnh vực thuộc về khoa học nhiệt đới.

Lúc đó, chúng ta chưa có quan hệ gì chặt chẽ với Ấn độ. Từ đề xuất của tôi ở hội thảo, phía sứ quán Ấn Độ chuyển sang Hà Nội nói là đại biểu Việt Nam phát biểu ở hội thảo như vậy, chính quyền Việt Nam bắt đầu muốn nghiên cứu vấn đề khoa học nhiệt đới cùng Ấn Độ không? Có người hỏi tôi là lúc ra đi anh có thỉnh thị cấp trên không mà anh phát biểu như thế? Tôi bảo tôi không thỉnh thị ai cả, tôi thấy hợp lý thì tôi nêu vấn đề. Về phía Ấn Độ, họ thấy hợp lý thì họ để ý đến. Về sau này, rõ ràng quan hệ giữa ta và Ấn Độ ngày càng tốt. Hai bên đã có sự hợp tác về khoa học kỹ thuật nhiệt đới, đi vào những vấn đề cụ thể như cây lúa, con trâu v.v...

Tháng 2/1979, vài hôm sau khi Trung Quốc tấn công phía Bắc nước ta, lần thứ hai tôi lại được sang Ấn Độ. Tôi được bạn đón tiếp rất nồng nhiệt, bố trí cho một chương trình đi thăm New Delhi và một vài thành phố lớn như Bombay v.v... trong 3 tuần. Bạn hỏi tôi cần thăm cái gì và ở đâu? Tôi trả lời muốn đi thăm một viện Yoga hoặc một vài cơ sở Yoga. Họ ngạc nhiên là đang đánh nhau với Trung Quốc mà thảnh thơi suy nghĩ tìm tòi về Yoga; tôi đáp, chúng tôi có đủ sức vừa bảo vệ đất nước, vừa làm Yoga.

Tôi có dịp được trao đổi với các bạn trí thức, sinh viên; các bạn rất chân thành, nói thật cả mặt thành tựu, cũng như khó khăn, thiếu sót, kể cả những chuyện căng thẳng nội bộ trong các đẳng cấp, trong các dân tộc, không phải cái gì cũng trơn tru cả. Các bạn làm công tác điện ảnh cũng cho biết là Ấn Độ không chấp nhận phim các nước phương Tây như nhiều nước Á - Phi khác, mà chủ trương tự sản xuất lấy phim của mình. Tôi hỏi là vậy phim đồi trụy của phương Tây có ảnh hưởng đến Ấn Độ không? Họ nói là vẫn có ảnh hưởng, vì các rạp tư nhân ở những thành phố lớn vẫn mua những phim có những pha khiêu dâm, bạo lực, để câu khách, nhất là tầng lớp thanh niên.

Đi Ấn Độ về, viết bài về Ấn Độ như thế nào đây? Cũng là vấn đề phải suy nghĩ. Thời ta chưa quan hệ với Ấn Độ, một số anh em viết về Ấn Độ tỏ ra lạnh nhạt. Bây giờ lại ca ngợi hết lời, xem Ấn Độ là thiên đường, cái gì cũng hay, cũng đẹp. Làm báo mà viết một mặt như vậy là không được, nhưng viết thế nào đây để khỏi mất lòng bạn, là việc khó.

Tôi viết lên báo Nhân Dân một bài chung, nhan đề Người bạn lớn. Ý nghĩa là ta đang bị Trung Quốc đánh phá, nhưng có ông bạn lớn, với dân số 700 triệu người, với những mặt phát triển rất quan trọng, cả nông nghiệp và công nghiệp (cách mạng xanh, công nghiệp ôtô, công nghiệp điện tử, công nghiệp vệ tinh...); xã hội Ấn Độ cũng có nhiều mặt rất tốt... Trong bài thứ hai ở số báo sau, tôi thuật lại những cuộc trao đổi, trong đó, các bạn trí thức và sinh viên Ấn Độ đã nói cả những vấn đề chưa giải quyết được như nông thôn còn nghèo khổ, đẳng cấp v.v... Sau đó, đối với tôi, đại sứ quán Ấn Độ vẫn tiếp tục giữ quan hệ thân tình như trước.

Năm 1978, nhân một hội nghị ở Đakao về vấn đề phi thực dân hóa, tôi có dịp đến Sénégal. Sau hội nghị, tôi muốn gặp Tổng thống Sénégal, vì là bạn cùng học ở Paris đã từng quen biết. Ông đại sứ quán của ta sửng sốt: “Trong nước chẳng có chỉ thị gì về việc này, gặp Tổng thống của một số nước có phải chuyện dễ đâu!” - “Tôi đã có hẹn rồi”. Ông đại sứ rất sợ, nhưng sau cũng để tôi đi. Tôi còn rủ anh em sứ quán đi ra vùng nông thôn. Đây là lần đầu tiên anh em sứ quán ta ra ngoài thành phố, đi về nông thôn. Đây là một vùng sa mạc, cây cối thưa thớt, nhà toàn bằng đất sét, không có cửa sổ, chỉ có một cửa để chui vào, tối om. Cả một vùng Xavan, cây cối cằn cỗi, thỉnh thoảng mới có một cây lớn, cây bao báp, tỏa bóng như cây đa của mình.

Từ Sénégal tôi về Paris, qua Italia rồi sang các nước Bắc Âu.

Ở Thụy Điển, phong trào (nhất là trong sinh viên) chống Mỹ rất mạnh. Bất kỳ Đảng nào lên cầm quyền, cũng thường xuyên giữ một mức viện trợ rất lớn cho Việt Nam. Hồi đó, phải nói rằng nước viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam sau Liên Xô là Thụy Điển. Bạn bè ở Thụy Điển rất mong đợi tin về mối quan hệ giữa Trung Quốc và ta như thế nào. Tôi ở có mấy ngày mà có 13 tờ báo đăng bài phỏng vấn tôi, và tôi cũng có lên vô tuyến truyền hình nói chuyện về Việt Nam. Được trả khoản tiền khoảng 2000 cua-ron, tôi bàn với anh em sứ quán dùng tiền đó tổ chức một bữa chiêu đãi rất vui. Sau tôi còn đến thăm nhà riêng của bạn thuộc nhóm sinh viên đã tặng trẻ em Việt Nam 40 vạn cuốn truyện Tấm Cám hồi năm 1973.

Thụy Điển đúng là một nước văn minh, ít dân, một đất nước mất trăm năm không có chiến tranh, mức sống rất cao. Thủ đô là một thành phố yên tĩnh, xe cộ đi lại rất ít, ở ngay bên bờ biển, mênh mông rừng núi, biển hồ, không khí trong lành, ăn ở thoải mái. Sứ quán các nước không có cảnh sát đứng ở cổng, ai muốn ra vào cũng được. Tôi có dịp về nông thôn Thụy Điển, đến thăm một nông trại. Người nông dân chủ nông trại này có 75 héc ta, có trình độ văn hóa đại học. Trong nông trại có máy cày, máy kéo, trâu bò, thuê công nhân làm nửa ngày. Nhà cửa sang trọng không kém gì biệt thự ở thành phố. Cần gì thì gọi điện thoại, người ta đưa đến cho. Nhà ở cánh đồng rộng, không có láng giềng. Qua trò chuyện, ông cho biết, so sánh với nông dân Liên Xô trong nông trang tập thể, thì năng suất và cuộc sống vật chất của gia đình ông cao hơn rất nhiều. Nhưng ông phân vân là con ông học đại học ở thành phố thì nhất định nó sẽ không về nông thôn. Nhất là về mùa đông, không cày bừa gì, tuyết phủ trắng xóa, chỉ có hai vợ chồng ngồi giữa cánh đồng cô quạnh, thanh niên chịu không nổi. Tôi không biết sau này chết, tôi sẽ giao lại cơ ngơi này cho ai?

Có điều lạ là ở Thụy Điển, thành phố cũng như nông thôn không có cảnh nghèo đói nữa, đời sống vật chất, văn hóa rất cao, nhưng số vụ tự sát cũng khá nhiều. Tôi có đến một Viện nghiên cứu về tâm lý, được ông Viện trưởng cho biết tâm lý xã hội hiện nay có nhiều vấn đề rất phức tạp. Stress lớn nhất đối với người Thụy Điển, nhiều khi dẫn tới tự sát là cô đơn, thấy mình cô quạnh quá, gia đình họ hàng không như xưa nữa, mỗi người sống một nơi.

Rời Thụy Điển, tôi sang Na Uy, Phần Lan. Cũng tổ chức mấy buổi nói chuyện, trả lời các báo về vấn đề Trung Quốc và Việt Nam. Ở Phần Lan, một việc đáng nhớ là tôi có bố trí gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Vì thời gian quá gấp nên phải gặp vào chiều chủ nhật. Tôi đến Bộ Giáo dục thì thấy ông Bộ trưởng ở ngoài cổng. Tôi nói: “Làm phiền ông quá, phải xuống ngoài đường đợi tôi”. Ông nói: “Không việc gì cả. Hôm nay cán bộ nhân viên nghỉ hết, họ đưa chìa khóa cho tôi để mở cửa nói chuyện, chứ không phải nghi thức gì”. Ông mở cửa kéo màn che cửa. Ông tự làm mọi việc để tiếp khách, không có vẻ khệnh khạng gì của một vị Bộ trưởng.

Từ Thụy Điển đến Phần Lan, đi bằng tàu thủy. Phòng ăn bày đủ các món, khách muốn ăn gì, muốn ăn bao nhiêu cũng được, đã có trong giá vé cả rồi. Điều này nói lên mức sống cao của các nước Bắc Âu. Nước rộng, dân ít, công nông nghiệp phát triển, và một đặc điểm nữa là tính kỷ luật và ý thức giữ vệ sinh rất cao. Đi ngoài đường không ai vứt một vật gì cả, một mẩu giấy vụn, một tàn thuốc lá cũng không. Ai mà ném một cái gì ra đường, dù không có công an, cảnh sát, thì người bên cạnh cũng không cho phép.

Ấn tượng sâu sắc nhất của chuyến đi này là mối thân tình của các bạn Thụy Điển. Họ rất giản dị, thành thực với nhau, không khách sáo gì cả. Giúp đỡ bảo ban thì cặn kẽ, rất gần gũi, dễ chịu. Mãi về sau này, mỗi khi khách Thụy Điển sang Việt Nam, họ lại tận nhà tôi chơi, từ cán bộ cao cấp cho đến các bạn thanh niên.

Năm 1981, Hội đồng những bộ trưởng của các nước trong tổ chức ACCT họp tại châu Phi, anh Nguyễn Văn Hiếu ủy nhiệm tôi thay anh đến dự. Hôm Tổng thống nước Bê-nanh (nước chủ nhà) chiêu đãi, tôi chú ý đến câu nói của ông: “Ngay chúng tôi cũng không dùng một tiếng dân tộc nào mà dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chung, các văn bản đều dùng tiếng Pháp cả, nhân dân cũng không theo dõi được”. Bê - nanh có 3 triệu dân, tổ chức lãnh đạo cũng như chúng ta. Đi ngoài phố, chúng tôi thấy khẩu hiệu bằng tiếng Pháp theo học thuyết Mác - Lênin. Khi mọi người đón chào Tổng thống, ông giơ tay lên: “Cách mạng nhất định thắng!”.

Chuyến đi này gợi cho tôi một suy nghĩ trước đây chưa từng có là triển vọng một cuộc cách mạng sâu sắc tiến lên chủ nghĩa xã hội có hay không? Trả lời câu hỏi này thật không dễ.

 

Thái lan

Cũng trong năm 1981, tôi sang Thái Lan theo lời mời của một trường đại học lớn nhất ở Bangkok. Hồi đó, quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan cũng khá căng thẳng, nhưng sở dĩ tôi được mời sang vì số trí thức ở các trường đại học không phải ai cũng bằng lòng với chế độ đương thời. Nhiều người cũng nhận thấy tình hình khủng hoảng, sự bế tắc của chế độ, nên đang suy nghĩ tìm con đường đi tới. Họ muốn tìm hiểu người láng giềng gần gũi là Việt Nam. Trong những anh em này, có một số đã học ở Pháp, chịu ảnh hưởng của sách báo tiến bộ về khoa học xã hội của Đảng Cộng sản Pháp và những tư tưởng của học thuyết Mác. Tôi trình bày những vấn đề của Việt Nam và cũng được anh em trả lời một cách thẳng thắn những điều tôi hỏi về tình hình Thái Lan.

Rõ ràng Bangkok năm 1981 có sự phồn vinh hơn ta về văn hóa, đường ra sân bay, những cửa hàng, khách sạn lớn không kém gì ở Âu châu, hàng hóa rẻ hơn nhiều. Tôi hỏi: “Báo chí phương Tây nói ở Bangkok có nửa triệu gái điếm, chuyện ấy xuyên tạc hay đúng sự thật?” - “Đó là sự thật, nước tôi phát triển, đặc biệt là du lịch, thu ngoại tệ khá nhiều nhờ vấn đề này nên sinh ra nạn mại dâm quy mô lớn như thế. Người ta ở Âu châu đều biết rõ chuyện gái mại dâm ở Thái Lan, qua một phim khiêu dâm nổi tiếng được chiếu tại một rạp điện ảnh lớn ở Paris từ sáng đến 10 giờ đêm trong 7 năm liền”.

Tôi nói làm thế nào mà lắm gái mại dâm thế? Sau đó, tôi đến Chiêng Mai mới thấy rõ vấn đề này hơn. Sau khi nói chuyện nhân dân Việt Nam đánh Pháp, đánh Mỹ ở trường đại học Chiêng Mai, vị giáo sư giảng kinh tế dẫn tôi đến một xã. Những năm vừa qua, nông dân ở đây đã áp dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật. Những hộ có từ 5 ha trở lên, sử dụng máy móc, thuốc trừ sâu, phân hóa học..., lúa gạo làm ra được nhiều, kịp thời bán trên thị trường, thu nhập tăng, đời sống khá lên. Những hộ ít ruộng hơn khoảng độ 1 ha, nếu dùng máy móc, phun thuốc hiện đại, thì lúa gạo bán ra không đủ bù lại chi phí sản xuất và chi tiêu cho đời sống. Mà chi tiêu cho đời sống bây giờ thì không như ngày xưa. Bây giờ may áo xấu con nó không mặc, xe xấu nó không đi. Chi tiêu cao mà thu nhập thấp dẫn đến tình trạng phá sản, ruộng đất dần dần bán cho người khá giả, rồi buộc phải bỏ làng ra đi. Số người này ùn ùn về Bangkok. Đầu tiên là những con trai con gái, đi kiếm việc làm để gửi tiền về cho bố mẹ ở quê. Đến Bangkok rồi làm gì? Có dịp đến nhà một vị Bộ trưởng, thấy có 35 người ăn ở trong nhà. Đó là những thanh niên nông thôn không tìm được việc làm, may thì kiếm được chỗ giúp việc các nhà giàu có, không thì cầu bơ cầu bất. Con gái thì đi làm gái điếm. Đó chính là cái gốc sinh ra tệ nạn gái điếm.

Một số giáo sư kinh tế kể lại cho tôi nghe một số nét về tình hình Thái Lan. Trước đây, bao nhiêu năm dưới chế độ quân phiệt độc tài, tục lệ cổ truyền khi vào rạp điện ảnh để xem phim, trước lúc chiếu phim, xuất hiện hình ảnh nhà vua, tất cả khán giả đều đứng dậy. Tại trường đại học, ở phòng họp các giáo sư, có một bàn thờ Phật, thờ vua, thờ cờ Tổ quốc. Trong các cuộc hội nghị, trước lúc họp, tất cả các giáo sư đều đứng lên chào Phật, nhà vua và cờ Tổ quốc...

Từ năm 1973 - 1976, phong trào dân chủ, trí thức, nông dân nổi dậy. Đảng Cộng sản lớn mạnh. Nhưng đến năm 1976, phe phản động bên hữu lại trồi lên, tổ chức phát xít chém giết sinh viên ở Bangkok. Năm 1976, thanh niên, sinh viên ở Bangkok ra đánh du kích, theo Đảng Cộng sản Thái Lan lúc đó hoàn toàn Mao-ít. Bộ phận lãnh đạo Đảng Cộng sản Thái Lan là người Hoa, nên họ hướng về Bắc Kinh, không chống Mỹ mà chống Liên Xô, không chống bọn quân phiệt trong nước, mà chống lại Việt Nam. Anh em trí thức không hiểu như thế nào cả. Số trí thức theo Đảng Mao-ít ra chiến khu, nhưng không được tin cậy, thu dụng, lại trở về Bangkok. Sau đó Đảng Cộng sản yếu đi. Những năm 1980 Đảng Cộng sản và phong trào du kích lớn mạnh lên.

Việc trao đổi với anh em trí thức ở Thái Lan cũng giúp tôi hiểu thêm những vấn đề của các nước thuộc thế giới thứ ba, những vấp váp khó khăn trong bước đường đi lên.

 

Nghĩ về giáo dục

Từ khi còn đi học đến cả mấy chục năm công tác ở Pháp và trong nước, một trong những vấn đề tôi chú ý tìm hiểu học hỏi và suy nghĩ là vấn đề giáo dục.

Qua nghiên cứu tôi được biết là hệ thống giáo dục của Pháp từ thời Đệ tam cộng hòa 1881 cho đến 1959 được phân chia thành 2 hệ:

Hệ Primaire cho con em nhân dân lao động, gồm 6 năm tiểu học, 4 năm trung học, 3 năm tú tài, tổng cộng là 13 năm (trường Pháp - Việt ở Việt Nam cũng thuộc hệ này). Hệ này đào tạo theo hướng rèn luyện kỹ năng, tập phát âm đúng, viết đẹp, đúng chính tả, ngữ pháp, tính toán theo các quy tắc đâu ra đấy.

Hệ Lycée secondaire cho con em tầng lớp khá giả. Hệ này học văn hóa là chính chứ không học kỹ năng, viết nhiều khi sai chính tả, viết không đẹp, tính toán không rõ, nhưng bàn luận văn hóa cao xa lại giỏi hơn, khái quát hơn về những khái niệm trừu tượng. Con em nhân dân lao động học theo hệ Primaire, nếu không lên đến tú tài, tùy trình độ, có thể đi làm công nhân, văn thư, kế toán..., còn muốn thành bác sĩ, kỹ sư... phải học tú tài rồi thêm mấy năm đại học. Thực tế con cái nhà lao động không mấy ai theo được đại học vì như vậy phải đến 26, 27 tuổi mới làm ăn được (con trai phải đi nghĩa vụ quân sự 2 năm).

Học sinh theo học hệ Lycée từ bé 6 - 7 tuổi đến khi đỗ tú tài cả nước Pháp có khoảng 150 nghìn, nên mỗi lớp chỉ độ 10 - 15 em, thầy giáo là giáo viên đặc biệt, có khi là Thạc sĩ trực tiếp dạy. Sau 1959 chỉ có lại một hệ thống, do hai yếu tố sau: thứ nhất là cuộc đấu tranh để dân chủ hóa nền giáo dục, tạo điều kiện cho nhân dân lao động có thể vào hệ thống thi tú tài và sau này trở thành trí thức, cán bộ cao cấp; thứ hai là sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật sau đại chiến thế giới lần thứ II, đòi hỏi một số lớn cán bộ, công nhân, nhân viên Nhà nước phải có trình độ đại học, nên không hạn chế chỗ học Lycée như trước nữa. Sau khi chỉ có một hệ thống, số học sinh không phải là hàng nghìn mà là hàng triệu. Hệ thống học trước đây dành cho thiểu số nay phải đáp ứng cho đại trà trong thời đại kiến thức khoa học ngày càng mở rộng dồn dập, nên nảy sinh khủng hoảng trên ba mặt: chương trình, giáo viên và cơ sở vật chất. Chương trình ngày càng nặng, chỉ có con em nhà trung lưu khá giả có điều kiện vật chất, văn hóa từ lúc bé mới có thể tiếp thu được còn con em nhà lao động, dù được học chung lớp, chung thầy nhưng ở nhà không có điều kiện thuận lợi nên không nhích lên được, khó lòng vào được đại học. Trẻ con mỗi đứa có năng khiếu khác nhau, không kham nổi một chương trình ôm đồm quá nhiều môn, đâm ra chán học. Các giáo sư đại học đều nhận định rằng chất lượng học sinh phổ thông và đại học ngày càng kém. Đây thực chất là sự khủng hoảng của nhà trường: xã hội bước vào thời đại khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, tạo ra một cuộc sống mới, mà chưa tìm ra được đường lối giáo dục phù hợp

Sự khủng hoảng về giáo dục là vấn đề của cả thế giới, ngay các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ cũng không thể thoát được. Cách mạng khoa học kỹ thuật tiến rất nhanh mà nhà trường thì vẫn là nhà trường của xã hội cũ, không ăn khớp được với cách mạng khoa học kỹ thuật và với tâm trạng của thanh niên trong cuộc sống sôi động hiện nay. Tài liệu về nghiên cứu giáo dục của các nước thế giới thứ ba cũng nhấn mạnh tình trạng khủng hoảng này. Đối với các nước nghèo thì lại càng nguy hiểm hơn nữa vì không đủ điều kiện vật chất, phương tiện giảng dạy, mà lại áp dụng rập khuôn, bê nguyên xi chương trình nội dung, phương pháp giáo dục ở các nước giàu.

Sau khi tôi về nước (1963) ở Pháp có ra một cuốn sách về cuộc khủng hoảng trong giáo dục trên thế giới. Tôi thấy quyển đó rất hay, đề nghị cho dịch ra để nghiên cứu. Nhiều người phản ứng, nói rằng khủng hoảng giáo dục là ở các nước tư bản, còn ở Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa, không có khủng hoảng, nhà trường của chúng ta rất là ưu việt. Thế hệ người lớn và thế hệ thanh niên đều thống nhất về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Cuốn sách này không cần thiết đối với ta. Cuối cùng rồi cuốn sách này cũng được dịch ra. Nhưng không biết có nhiều người đọc không và nó có tác động gì đến suy nghĩ của chúng ta về cải cách giáo dục hay không.

Tôi đã từng giới thiệu ra nước ngoài những điểm ưu việt của nền giáo dục của chúng ta. Thứ nhất là chúng ta đã dùng chữ quốc ngữ vào tất cả các bậc học và tất cả các ngành. Nhiều nước Á, Phi chưa giải quyết được vấn đề này, thường coi Việt Nam là điển hình gương mẫu. Thành tựu này là kết quả của những cố gắng rất lớn trong biết bao nhiêu năm để tạo ra được hàng vạn từ chuyên môn, thuật ngữ. Đây là một công trình lớn về ngôn ngữ hiếm có trong một thời gian tương đối ngắn.

Thứ hai là một không khí hiếu học từ trẻ con thanh niên cho đến bố mẹ đều hào hứng, say sưa học và xây dựng trường học. Điều này bắt nguồn từ truyền thống hiếu học vốn có của nhân dân ta, đồng thời cũng được thúc đẩy thêm bởi động cơ học tiến tới đỗ bằng nọ bằng kia để được vào biên chế nhà nước, coi như có chỗ đứng suốt đời.

Nhưng mặt khác, cũng có rất nhiều vấn đề phải cải tiến. Bậc học nào cũng có nhiều chuyện phải bàn.

Trong lịch sử giáo dục ở ta cũng như ở các nước ngành mẫu giáo bao giờ cũng phát triển sau phổ thông, nên khi mẫu giáo xuất hiện thì phổ thông đã có nề nếp truyền thống lâu đời. Những người phụ trách mẫu giáo đều từ tiểu học chuyển sang, nên đem phương thức phổ thông áp dụng cho mẫu giáo. Những kinh nghiệm của các nước cho thấy đưa những kiến thức phổ thông vào mẫu giáo là hoàn toàn thất bại, trẻ em nó không nghe. Phải từ nghiên cứu tâm lý trẻ em lứa tuổi mẫu giáo để có nội dung phương pháp phù hợp.

Bậc phổ thông trung học nên học cái gì và học như thế nào cũng là vấn đề phải xem lại. Kinh tế phát triển đòi hỏi một nguồn nhân lực, công nhân giỏi nghề rất đa dạng, nên đối với lứa tuổi 14-15 trở đi, cái chính là đào tạo ngành nghề chứ không phải tất cả đều học trung học theo kiểu tú tài để tiến lên đại học. Có dịp đi vài huyện ở nông thôn miền Bắc, một đồng chí Bí thư Huyện ủy khoe rằng huyện của ông ta có mấy trường cấp ba có đến 3000 học sinh cấp ba, vài năm nữa tốt nghiệp lớp 10 và sẽ vào đại học. Tôi hỏi: “Thế có bao nhiêu lớp học đào tạo cán bộ hợp tác xã, chăn nuôi, thú y, trồng trọt?”. Ông Bí thư Huyện ủy cho biết có 150 học sinh về các ngành nghề đó. Tôi hỏi: “Giữa 2 con số, một bên là 3000 học sinh cấp 3, một bên là 150 học sinh học nghề trung cấp cho toàn bộ nông thôn này, đồng chí có suy nghĩ gì không?”. Đồng chí ấy rất tự hào, nói chẳng có vấn đề gì cả. Số học sinh trung học ở khắp nơi dồn về đại học, việc tổ chức thi đại học, học đại học, đỗ đại học xong rồi sử dụng như thế nào, đây thật là vấn đề rất đáng quan ngại.

Cơ cấu tổ chức và phương pháp ở bậc đại học cũng cần được nghiên cứu. Ở ta đại học theo kiểu ồ ạt không phân cấp. Nên chăng có sự phân biệt đại học trung bình và đại học xuất sắc. Những công việc đòi hỏi nghiệp vụ tương đối đơn giản hơn, cụ thể hơn có thể chỉ cần đại học trung bình. Đây là số đông, nên học ít lý luận cơ bản, mà cần hành nghề vững tay. Còn nếu công việc đòi hỏi tầm nhìn khái quát của người ở cương vị lãnh đạo, hoặc để giảng dạy, nghiên cứu, lại cần có người đại học xuất sắc. Đây chỉ là số ít, cần được học kỹ về lý luận, khoa học cơ bản...

Điểm nữa là cán bộ trung cấp giỏi không nhất thiết phải có đại học. Ví dụ trong ngành y, những y tá giỏi lẽ ra vẫn tiếp tục làm y tá, rồi bồi dưỡng thêm những kỹ năng cần thiết và nâng lương tương xứng. Y tá giỏi được vài năm, cho đi học thành bác sĩ, rút cục cái vốn học cơ bản của y tá không đủ để làm bác sĩ giỏi, cuối cùng y tá cũng không giỏi mà bác sĩ cũng không giỏi. Nhiều người có bằng cấp đại học mà cũng không có giá trị.

Từ những thực tế như trên tôi viết bài: Chúng ta đang lạm phát đại học đăng ở tập san Nghiên cứu giáo dục. Năm 1968 bài này gây một phản ứng khá mạnh trong các giới đại học, các giới lãnh đạo các ngành văn hóa, bảo là anh này nói xấu chế độ. Kể ra hồi đó nếu Tổng biên tập không phải là đồng chí Lê Liêm thì chắc là bài ấy không được đăng.

Với mong muốn đóng góp ý kiến vào việc cải cách giáo dục, năm 1973, tôi có nộp một đề án khá dài cho Ủy ban cải cách giáo dục do ông Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch.

Hồi ấy có một số anh em trong ngành giáo dục phao tin rằng tôi có thể về làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Tôi biết là không thể có chuyện ấy. Nếu có thì tôi sẽ cố gắng cải cách theo hướng mà tôi đã đề xuất. Nói cho vui thôi, chứ đấy là chuyện mơ tưởng. Kinh nghiệm làm trong Ngoại văn chỉ có 70 người thôi, thay đổi một chút gì về tổ chức còn vất vả, huống hồ thay đổi cả một ngành, với hàng nửa triệu giáo viên, bao nhiêu cơ cấu, cấp này cấp khác, chắc sẽ đụng chạm rất lớn. Thật đúng là một chuyện mơ tưởng, như các ông Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, có quá trình cách mạng, học vấn cao, khả năng giỏi, làm đến cấp Bộ trưởng Bộ Đại học, Bộ trưởng Bộ Y tế, nhưng đến lúc muốn thay đổi một vấn đề gì rồi cũng khó.

Mơ tưởng cải cách giáo dục không thành, tôi chỉ làm được một việc là đưa Nhà xuất bản Phụ Nữ in cuốn Ngây thơ. Nội dung có hai phần: một phần về tâm lý trẻ con, đại ý nói trẻ con vừa ngây thơ dại dột vừa ngây thơ nhạy cảm, giáo dục mẫu giáo phải làm sao cho nó hết “ngây”, nhưng đừng làm cho nó hết “thơ”; phần 2 có chương giáo dục hoạt động tiến tới giáo dục sư phạm, đề xuất nên dành cho trẻ con tính chủ động hơn.

Trở lại năm 1977, sau khi bị ốm phải nằm bệnh viện 2 tháng, tôi mượn cớ ấy, đề nghị cho rút bớt công việc. Thực ra trước diễn biến mới của tình hình trong nước và trên thế giới, tôi thấy có nhiều vấn đề để suy nghĩ.

Đến năm 1978, tờ Le Courrier du Vietnam được tách ra, giao lại cho anh Nguyên làm Tổng biên tập, Nhà xuất bản Ngoại văn giao lại cho anh Hữu Ngọc. Tôi vẫn phụ trách, nhưng chỉ như làm cố vấn.

Mấy năm sau đó cho đến năm 1981, tuy vẫn phải đi một số nước, làm một số việc nhất định về đối ngoại, nhưng thực chất đã là giai đoạn chuyển tiếp từ sự hoạt động tuyên truyền quốc tế sang nghiên cứu những vấn đề bức xúc của đất nước trong thời kỳ mới.