Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Nỗ lực vãn hồi hòa bình của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa những năm 1945 - 1946

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam, tạo cơ hội, tạo đà cho dân tộc Việt Nam bước vào những chặng đường phát triển quan trọng. Tuy nhiên, ngay sau khi vừa giành độc lập, nước Việt Nam mới đã phải đối diện với tình thế hết sức hiểm nghèo và đối diện với nguy cơ của một cuộc chiến tranh đang đến gần. Trước những thách thức tồn vong của quốc gia, dân tộc, Nhà nước VNDCCH đã tận dụng mọi khả năng có thể để cứu vãn hòa bình.

1- Ngày 23-9-1945, được người Anh hậu thuẫn, quân đội Pháp đánh chiếm Sài Gòn, thực hiện cuộc tái chiếm Việt Nam và Đông Dương. Kiên quyết đứng lên bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được, một mặt, VNDCCH tập trung toàn bộ nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến; mặt khác, chủ trương hòa hoãn và tranh thủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợi để loại trừ chiến tranh. Một trong những đối tượng mà Chính phủ VNDCCH hết sức quan tâm, tìm các biện pháp không chỉ tranh thủ sự ủng hộ (dù hiểu rằng điều này là hết sức khó khăn), mà trong chừng mực có thể, hạn chế tối đa những tác động tiêu cực là Trung Hoa Dân Quốc, nhất là khi 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch còn đang án ngữ trên miền Bắc.

Phục vụ mục tiêu nói trên, Chính phủ VNDCCH đẩy nhanh những cuộc tiếp xúc với đại diện quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại Hà Nội, đồng ý cho những người Việt thuộc các đảng phái dưới ảnh hưởng của Trung Hoa Dân Quốc nắm giữ một số chức vụ trong Chính phủ. Những nhượng bộ đó đã tranh thủ được cảm tình của Tướng Lư Hán - chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân Quốc ở miền Bắc Việt Nam. Viên Tướng này tuyên bố: “…ý riêng tôi, tôi rất biểu đồng tình với sự phản kháng oanh liệt của nhân dân Việt Nam trong Nam Bộ"[1].

Tiếp đó, VNDCCH thực hiện một số nhượng bộ về kinh tế, chấp thuận cho quân đội Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc mua 2/3 số lương thực chuyển từ miền Nam ra[2]; đồng thời, đề nghị Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thúc đẩy quan hệ hai nước, xây dựng quan hệ thân thiện"thành thực hợp tác trên tinh thần bình đẳng (...), tương trợ mà cùng tiến hóa"[3].Ngày 28-10-1945, gửi thư choTưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh khẩn thiết yêu cầu công nhận nền độc lập hoàn toàn của nước Cộng hòa Việt Nam[4]. Chính phủ Hồ Chí Minh cũng quyết định nhượng bộ Trung Hoa Dân Quốc trong việc tổ chức Tổng tuyển cử, cải tổ chính phủ lâm thời và ấn định thành viên của Quốc hội, lùi cuộc tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946, tạo điều kiện cho Việt Quốc, Việt Cách tham gia[5]. Ngày 23-12-1945, Việt Minh tiến hành cải tổ Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời với sự tham gia của nhiều đảng phái khác nhau; theo đó, Việt Quốc, Việt Cách được đặc cách 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử.

Song song với đó, Chính phủ VNDCCH tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn, nhất là hai nước Anh và Mỹ. Hồ Chí Minh gửi thư đến các nhà lãnh đạo Anh và chỉ huy quân đội Anh ở Nam Bộ phản đối việc giúp Pháp tiến hành chiến tranh. Ngày 24-9-1945, gửi thư cho Tổng thống Mỹ Truman, Hồ Chí Minh đề nghị Mỹ can thiệp, buộc Anh chấm dứt những hành động vi phạm quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam, yêu cầu người Anh thực hiện những nguyên tắc tự do, tự quyết của Hiến chương Đại Tây Dương[6]. Ngày 30-9-1945, trao đổi với Thiếu tá Mỹ Patti, Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn Mỹ dàn xếp một thỏa thuận tạm thời giữa Việt Nam với Pháp; khẳng định sẵn sàng thực hiện tự do thương mại với Mỹ và thậm chí phủ nhận quan hệ với quốc tế cộng sản của cá nhân mình[7]. Trong thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ (22-10 -1945), Hồ Chí Minh tuyên bố:Nhân dân Việt Nam chỉ đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn và vì sự tôn trọng sự thực và công lý”[8], đề nghị Chính phủ Mỹ lưu ý bốn vấn đề: 1- Những nội dung liên quan tới Nam Việt Nam phải được thảo luận tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban tư vấn Viễn Đông; 2- Đoàn đại biểu Việt Nam phải được phép tới dự để phát biểu những quan điểm của Chính phủ Việt Nam; 3- Một Ủy ban điều tra phải được cử tới Nam Việt Nam; 4- Nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam phải được Liên hợp quốc công nhận[9]. Nhằm thiết lập quan hệ thân thiện với Mỹ, ngày 17- 10-1945, Hội hữu nghị Việt-Mỹ được thành lập với tôn chỉ thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục giữa nhân dân hai nước[10]. Để giành ủng hộ của Mỹ và các nước phương Tây khác, tháng 11- 1945, Đảng cộng sản Đông Dương quyết định tự giải tán, nhằm “phá tan tất cả những điều hiểu lầm ở ngoài nước và ở trong nước có thể trở ngại cho tiền đồ giải phóng của nước nhà”[11].

Cùng chung ý thức hệ, ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Chính phủ Hồ Chí Minh tìm mọi cách liên lạc với Liên Xô. Liên tiếp từ tháng 9 đến tháng 10-1945, từ Paris, những bức điện khẩn của Hồ Chí Minh liên tục được chuyển tới Moscow. Trong những bức mật điện đó,Chính phủ VNDCCH thông báo về sự ra đời của chính phủ cách mạng ở Việt Nam, đề nghị Liên Xô giúp đỡ. Thay mặt Chính phủ Việt Nam, Hồ Chí Minh lên án mạnh mẽ chính sách phản động, nhu nhược, đầu hàng phát xít Nhật của thực dân Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai và chỉ rõ âm mưu tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp. Hồ Chí Minh khẳng định ý chí quyết tâm của nhân Việt Nam đứng lên chống lại thực dân Pháp, “cương quyết không để cho người Pháp trở lại Đông Dương”[12],đề nghịLiên Xô công nhận nền độc lập và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

 Đối với nước Pháp, ngay sau ngày Việt Nam giành độc lập, VNDCCH đã tìm kiếm giải pháp thương lượng cho việc giải quyết quan hệ Việt - Pháp, luôn bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ thân thiện giữa hai nước; khẳng định sẵn sàng tôn trọng những quyền lợi kinh tế, văn hóa, quân sự của Pháp trên đất Việt Nam. Thay mặt Chính phủ VNDCCH, Hồ Chí Minh khẳng định không chống lại tất cả nước Pháp, người Pháp, chỉ chống lại thực dân Pháp cố tâm dùng võ lực lập lại chủ quyền tại Việt Nam. Đối với những người Pháp yêu chuộng hòa bình, Việt Nam sẵn sàng thương lượng để dung hoà quyền lợi của cả hai bên; những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở Việt Nam, nếu xét ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia sẽ được Chính phủ Việt Nam chuộc lại dần dần. Việt Nam luôn hoan nghênh những người Pháp muốn đầu tư khai thác những nguồn nguyên liệu của Việt Nam, song nhất định phải trên nền tảng thừa nhận nền độc lập của xứ này[13]. Trong hai tháng cuối năm 1945 (tháng 11 và tháng 12), nỗ lực vãn hồi hòa bình với phía Pháp của Chính phủ VNDCCH được đẩy lên một bước mới: VNDCCH gửi cho đại diện Pháp ở Đông Dương một giác thư đề nghị ngừng bắn và công nhận Việt Nam độc lập, đổi lại, phía Việt Nam nhượng bộ cho Pháp những quyền lợi về kinh tế, văn hóa ở Đông Dương (12-11); đề nghị lãnh tụ các đảng phái lớn ở Pháp ngăn chặn chiến tranh và công nhận độc lập của Việt Nam (13-11); tỏ ý sẵn sàng gặp Cao Ủy Pháp ở Đông Dương để xúc tiến thương lượng chính thức (đầu tháng 12-1945).

Cùng với những cố gắng cứu vãn nền hòa bình mong manh, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Xứ uỷ và Uỷ ban nhân dân Nam Bộ chủ trương phát động toàn Nam Bộ đứng lên kháng chiến. Đảng, Chính phủ VNDCCH tổ chức các cuộc mít tinh, tuần hành, tập hợp hàng ngàn người biểu dương lực lượng, tuyên truyền, tổ chức, phát động các đoàn thể cứu quốc, các giai cấp, tầng lớp, các đảng phái, dân tộc, tôn giáo, các cá nhân… yêu nước tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.Hàng vạn thanh niên miền Bắc hăng hái lên đường nhập ngũ; nhân dân miền Bắc tổ chức vận động quyên góp tiền bạc, quần áo, thuốc men... ủng hộ đồng bào Nam Bộ. Thiết tha với hòa bình, song không đánh đổi độc lập tự do, cả nước Việt Nam mới sục sôi tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam được một bộ phận nhân dân thế giới đồng tình.Hội nghị liên Phi ra Án quyết nghị ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam[14]; dư luận Ấn Độ lên án người Anh dùng người Ấn Độ đàn áp nhân dân Việt Nam[15]; báo chí Mỹ chỉ trích chính sách thực dân của Pháp ở Đông Dương.

Trước những nỗ lực của Chính phủ Hồ Chí Minh và lo ngại hiệu ứng từ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đối với các thuộc địa của mình, nước Anh cử đại diện cùng với người Pháp và VNDCCH tổ chức một cuộc thương lượng để đi tới thỏa thuận tạm thời ngừng bắn, tạo điều kiện thương thảo đi đến chấm dứt chiến tranh (1-10-1945). Ngày 5-10-1945, trong điện văn gửi Đại biện Mỹ Robertson tại Trung Quốc, Quyền Ngoại trưởng Acheson nhắc lại quan điểm muốn Pháp có sự đồng thuận của người bản xứ trong việc trở lại Đông Dương[16]. Bên cạnh đó, Anh vẫn  trao cho Pháp quyền quản trị dân sự ở Nam vĩ tuyến 16 của bán đảo Đông Dương (9-10-1945)[17], sử dụng tàn quân Nhật yểm trợ cho Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miền Nam Việt Nam - những sự kiện này cho thấy tính hai mặt trong chính sách của Anh đối với Đông Dương.

Về phía Mỹ, trước những cố gắng của VNDCCH, dù cho rằng cần có sự đối thoại giữa Pháp với người Việt Nam, muốn Pháp có sự đồng thuận của người bản xứ trong việc trở lại Đông Dương[18] và quyết định không can thiệp vào cuộc chiến ở Đông Dương, song Mỹ vẫn cung cấp 8 tàu chiến để Pháp chuyển quân đến Việt Nam (10-1945)[19]. Trái ngược với thái độ của Chính phủ Mỹ, một bộ phận quân nhân Mỹ không đồng tình với việc người Anh giúp Pháp tiến hành chiến tranh, nhiều quân nhân Mỹ ủng hộ việc thành lập Hội hữu nghị Việt-Mỹ …

2- Bước sang năm 1946, tình hình Việt Nam và Đông Dương tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Đầu năm 1946, quân đội Anh bắt đầu chuyển giao quyền kiểm soát toàn bộ Nam Đông Dương cho người Pháp.Sau hơn 6 tháng tích cực đấu tranh bảo tồn nền độc lập vừa mới giành được, nhân dân Việt Nam lại đứng trước những thử thách mới. Trong các cuộc đàm phán với Chính phủ VNDCCH đầu năm 1946 và qua các cuộc tiếp xúc với các quan chức ngoại giao Mỹ, đại diện Pháp khẳng định Pháp không trao độc lập cho Việt Nam[20]. Tiếp đó, Pháp đi một bước đi quyết liệt hơn, ký kết với Trung Hoa Dân Quốc Hiệp ước Trùng Khánh (28-2-1946), trao đổi lợi ích, tiến hành điều đình, thoả hiệp để đưa quân đội Pháp hợp pháp ra miền Bắc Việt Nam "bắt nhân dân Việt Nam nhắm mắt nuốt chửng Hiệp ước Hoa – Pháp"[21].

Trước thoả hiệp giữa Trung Hoa Dân quốcvà nước Pháp, Trung ương Đảng CSĐD quyết định chủ động đàm phán ngay với Pháp để nhanh chóng đẩy 20 vạn binh lính của Tưởng Giới Thạchvề nước. Thay mặt Chính phủ VNDCCH, Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ. "Nếu có lợi cho cách mạng, thì dù có phải thỏa hiệp với bọn kẻ cướp, chúng ta cũng thỏa hiệp"[22] – trên tinh thần ấy, Hiệp định Sơ bộ 6-3 là sự thoả hiệp có nguyên tắc để phá thế bế tắc, vượt qua khó khăn, lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước lớn cũng như mâu thuẫn nội bộ của mỗi lực lượng có mặt tại Việt Nam, nỗ lực một lần nữa vãn hồi hòa bình hoặc ít nhất cũng kéo dài thời gian, trì hoãn khả năng của một cuộc chiến tranh đến sớm. Bên cạnh đó, quyết định “hòa để tiến”, Đảng, Chính phủ VNDCCH “không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức sửa soạn sự chuẩn bị ấy”[23].

Trên thực tế, Hiệp định sơ bộ vừa được ký kết, quân đội Pháp ở Việt Nam đã vi phạm Hiệp định; tuy nhiên, phục vụ mục tiêu bảo vệ hòa bình, VNDCCH chủ trương tiếp tục đàm phán với Pháp; đồng thời, kêu gọi nhân dân thế giới, “nhất là nhân dân Pháp, hãy ủng hộ chính nghĩa làm sao cho bên phía Pháp thi hành đúng bản Hiệp định sơ bộ, để đi đến kết quả hòa hảo cho hai dân tộc và bảo vệ nền hòa bình thế giới”[24].

Một trong những cố gắng vãn hồi hòa bình quan trọng của Chính phủ VNDCCH là chuyến thăm nước Pháp của Hồ Chí Minh với tư cách thượng khách. Tuy không tham gia vào đoàn đàm phán, song tận dụng thời gian, tận dụng mọi cơ hội, bằng uy tín của mình, Hồ Chí Minh gặp gỡ đại diện các đảng phái chính trị, các nhà báo và trí thức nổi tiếng, nhờ cậy những mối quan hệ quen biết tác động đến Chính phủ Pháp, hy vọng cứu vãn nền hòa bình mong manh.

Trong khi đoàn đàm phán của VNDCCH và Hồ Chí Minh đem hết tâm sức để đẩy lùi chiến tranh, thì ở Việt Nam liên tục diễn ra những sự kiện bất lợi và tình hình xấu đi nhanh chóng. Nhằm góp phần ngăn chặn những diễn tiến tiêu cực nói trên, tránh những hậu quả làm hỏng cuộc thương lượng Việt – Pháp, một mặt, Hồ Chí Minh viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Hải ngoạiPháp M. Mutê và Tổng thống Cộng hòa Pháp, yêu cầu can thiệp để quân đội Pháp có những ứng xử phù hợp trong khuôn khổ Hiệp định Sơ bộ; mặt khác, tổ chức họp báo công bố rộng rãi lập trường, quan điểm của VNDCCH. Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Hải ngoại M. Moutet và thư gửi Tổng thống nước Pháp, Hồ Chí Minh bày tỏ sự lo ngại trước những hành động thiếu hữu nghị của quân đội Pháp ở Việt Nam, phản kháng Chính phủ Pháp về các sự kiện quân sự đang diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, chỉ rõ rằng, những sự kiện đó “làm vẩn đục một cách tai hại bầu không khí của cuộc Hội nghị Pháp - Việt sắp tới”[25]. Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ Pháp quan tâm đến và chấm dứt nhanh nhất các sự kiện đau thương đó, nhằm chứng tỏ thiện chí đàm phán cũng như sự chân thành trong xây dựng quan hệ hữu nghị với nước VNDCCH. Những quan điểm dứt khoát, kiên quyết nêu trên được đưa ra kịp thời đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân Pháp, của một số tổ chức chính trị - xã hội và một số chính khách Pháp. Ngày 23-7-1946, để phản đối khả năng G.D’Argenlieu tổ chức Hội nghị thành lập Liên bang Đông Dương (gồm Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Lào, Cambodia), phái đoàn Việt Nam rời cuộc họp[26]. Trong tình thế đó, Hồ Chí Minh nhờ Moutet giúp đỡ để tìm ra công thức nối lại đàm phán và đến cuối tháng 8-1946, cuộc đàm phán được nối lại với hình thức trao đổi công hàm và họp hẹp[27]. Đồng ý đàm phán, song phía Pháp kiên quyết không chấp nhận độc lập của Việt Nam cũng như không xác định chính xác ngày trưng cầu dân ý tại Nam Bộ. Kéo dài hơn 2 tháng (từ ngày 6-7 đến ngày 13-9-1946), sau rất nhiều những căng thẳng và đấu trí, Hội nghị Fontainebleau đã thất bại. Vấn đề sinh tử của VNDCCH – yêu cầu độc lập và thống nhất đã không nhận được sự đồng thuận từ phía Chính phủ Pháp.

Sau khi đoàn Việt Nam lên tàu về nước (13-9), ở lại Paris, Hồ Chí Minhkhông bỏ lỡ thời gian, tích cực làm việc với Moutet rồi với Sainteny. Với sự dung hòa và nhân nhượng của cả hai bên, cuối cùng vào 1 giờ sáng ngày 14-9, Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Moutet chính thức ký Tạm ước 14-9-1946 (Modus vivendi). Với bản Tạm ước này, VNDCCH tiếp tục nhân nhượng Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa. Tuy là biện pháp mang tính ứng phó tình thế, song Tạm ước 14-9 có tác dụng bảo tồn Hiệp định Sơ bộ, kéo dài thời gian hòa hoãn, tránh sự độ vỡ hoàn toàn của Hội nghị Fontainebleau, thêm thời gian để VNDCCH củng cố lực lượng; đồng thời, cũng không loại trừ khả năng nối lại đàm phán chính thức, có nghĩa là vớt lại chút hy vọng về một khả năng hòa bình dù hết sức nhỏ bé và mong manh. Sau Hiệp định Sơ bộ, Tạm ước 14-9 là một bước lùi có tính toán, bước nhân nhượng cuối cùng của VNDCCH, một cố gắng nhằm cứu vãn hòa bình, dù thấy trước nguy cơ khó trách khỏi của chiến tranh.

3- Trong khi đó, theo đuổi chính sách quay lại Đông Dương, Pháp liên tục có những hành độngvi phạm những thỏa ước đã ký kết. VNDCCH liên tục yêu cầu Pháp tôn trọng những điều khoản đã ký kết, kêu gọi tiến hành các cuộc tiếp xúc, đàm phán giải quyết các tranh chấp. Đáp lại thiện chí của Việt Nam, Pháp vẫn làm ngơ và tăng cường khiêu khích.Đầu tháng 12-1946, Hồ Chí Minh gửi thư tới Quốc hội và Chính phủ Pháp chỉ trích hành động vi phạm của Pháp, yêu cầu phía Pháp khôi phục lại tình trạng trước ngày 20-11 và tiếp tục thi hành Tạm ước. Ngày 7-12-1946, tiếp A. L. Moffat - Giám đốc Cục châu Á, Bộ Ngoại giao Mỹ, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định mục tiêu của VNDCCH là giành độc lập dân tộc và bày tỏ mong muốn hợp tác với Pháp.

Bất chấp mọi nỗ lực vãn hồi hòa bình của VNDCCH, cuối cùng, chiến tranh Pháp – Việt vẫn bùng nổ (19-12-1946). Ngày 18 và 19-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng CSĐD họp Hội nghị, quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Ngay trong đêm 19-12-1946, Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, nêu cao và khẳng định quyết tâm: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[28].

Kết thúc chuyến đi lịch sử, ngày 16-9-1946, trở về Tổ quốc từ Paris trên chuyến tàuDumont d’Urville, Hồ Chí Minh nói với Vũ Đình Huỳnh: “Hiện nay ở nước nhà, Chính phủ ta, nhân dân ta đang có thời gian chuẩn bị tinh thần và lực lượng”[29]. Thật vậy,tranh thủ thời gian hoà hoãn, nhân dân Việt Nam ra sức củng cố và phát triển về mọi mặt và dù cuộc chiến tranh là không tránh khỏi, song đó không phải là cuộc chiến vô vọng. Vãn hồi hòa bình, thể hiện thiện chí hòa bình, nhân dân Việt Nam không chỉ tranh thủ được thời gian, biến thời gian thành lực lượng, mà còn làm cho nhân dân Pháp cũng như nhân dân toàn thế giới biết rõ hơn về đất nước, con người và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.Nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến với tư thế chủ động, được chuẩn bị về vật chất và tinh thần, có một niềm tin sắt đá và tất yếu vào một ngày mai toàn thắng.

 Bỏ qua cơ hội lịch sử thiết lập những quan hệ hợp tác bình đẳng giữa Pháp và Việt Nam, Chính phủ Pháp đã làm vỡ tan hy vọng cuối cùng về   một nền hoà bình ở Đông Dương, đẩy những người lính Pháp vào cuộc chiến tương tàn. Cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ ở những năm tháng đó có giá trị thức tỉnh và soi rọi cho không chỉ cho những ngày đã qua mà còn cho hiện tại nóng bỏng hôm nay, khi những thách thức và cơ hội, những khả năng hợp tác đấu tranh luôn thường trực và đan xen nhau. Nó nhắc nhở ta nhìn về lịch sử để càng thêm trân quý hòa bình.

 



[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.149.

[2]Ban Chỉ đạo Biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam; Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam, 1945-2005, tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006, tr.73.

[3]Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Báo Cứu quốc, ngày 3-10-1945, tr.1.

[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.88.

[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.71.

[6]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.137.

[7]Archimedes L. A. Patti: Why Vietnam?Prelude to America’s albatros, University of California press, Berkeley, Los Angeles, London, 1980, p. 368-369.

[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.82.

[9]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.82.

[10]PGS. TS. Phạm Xanh: Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 93-94.

[11]Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.19.

[12]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.79.

[13]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.85-86.

[14]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.71.

[15]Ton That Tien: The foreign politics of the Communist party of Vietnam, A study of Communist tactics, Crane Russak, New York, London, 1989, p.69.

[16]Department of State (US) : Foreign relations of the United States, Diplomatic papers, 1945, Vol. VI, The British Commonwealth, The Far East, United States Government printing office, Washington, 1969, p.313.

[17]T.O. Smith: Britain and the origins of the Vietnam war, UK policy in Indochina, 1943-50, Palgrave Macmillan, New York, 2007, p. 46.

[18]Department of State (US) : Foreign relations of the United States, Ibid,  p.313.

[19]T. .O. Smith: Britain and the origins of the Vietnam war, UK policy in Indochina, 1943-50, Ibid, p. 69-70.

[20]Department of State (US): Foreign relations of the United States, 1946, Vol. VIII, The Far East, United States government printing office, Washington, 1971, p24.

[21]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr. 42 .

[22]V.I.Lênin: Toàn tập, t. 41, Nxb. Tiến bộ, Matxcova 1977, tr. 24.

[23]Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, tr.46.

[24]Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.230.

[25]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Sđd, tr.310.

[26]William J Duiker : Ho Chi Minh: A Life, New York,  Hyperion, 2000, p.199.

[27]William J Duiker : Ho Chi Minh: A Life, Ibid, p.200.

[28]Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.4, Sđd, tr. 480.

[29]Sơn Tùng:Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.108