Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Phan Thanh Giản lời kêu tỉnh

 Danh sĩ, đại thần triều Nguyễn Phan Thanh Giản (1796-1867)

                                        Kêu tỉnh đồng bang mau kịp bước

                                       Hết lời năn nỉ chẳng ai tin

                                                      Phan Thanh Giản “Tự Thán”

     Nói về Phan Thanh Giản (1796-1867) không thể không nói đến Nho giáo Nam Bộ, cái nôi tinh thần của ông.

     Từ giữa thế kỷ XVII, Nho giáo theo chân các chúa Nguyễn vào khai thác đất Nam Bộ. Trước một thiên nhiên hoang sơ, đầy khác lạ của đồng bằng sông Cửu Long, một quần cư đa  sắc tộc của người Việt, Khmere, Chăm, Hoa, Mạ, Nho giáo không khỏi nhạt nhòa tính chính thống của Bắc bộ để thích nghi với cuộc sống vùng đất mới. Trước hết, nó mất dần tính khoa cử để trở thành một nguyên lý sống của dân gian. Tuy nhiên, ở một chiều khác, Nho giáo Nam Bộ lại được bồi thêm một tính chính thống mới, nguyên gốc hơn do các cựu thân nhà Minh như Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mặc Cửu sang cư trú ở Đồng Nai, Mỹ Tho và Hà Tiên. Không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều sách vở khác nhau của nhà Nguyễn, người Việt tự gọi mình là Hán nhân, và áp dụng triệt để thuyết Hoa di với các tộc người thiểu số trong vùng. Hai cực này, dân gian và bác học, dân gian và chính thống ở Nho giáo Nam bộ không hòa vào nhau, mà tồn tại độc lập, riêng rẽ trong một sự vật, hiện tượng, con người. Có thể thấy điều đó ở nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Lại càng thấy rõ hơn ở các nhà nho Minh hương khác, tiêu biểu là Phan Thanh Giản.

     Đọc các ghi chép về tiểu sử Phan Thanh Giản từ góc nhìn Nho giáo Nam Bộ, có thể nêu ra một vài đặc điểm sau: 1. Từ nghèo khó mà đạt đến đỉnh cao tri thức; 2. Là quan lại, thậm chí quan lớn; mà liêm khiết; 3. Là một thân dân mà dám trung thực.

     Ta sinh vốn nhà nghèo

     Lòng mến ưa cổ đạo

     Đèn sách cộng mười năm

    Không chí ở cơm áo

                     (“Biệt gia”, Trúc Khê dịch)

     Mẹ mất sớm, phải ở với ông bà ngoại, Phan Thanh Giản học chữ với một nhà sư. Cha bị đi tù, Phan Thanh Giản lên tỉnh xin tù thay cha. Quan đầu tỉnh thấy ông có hiếu bèn cho học trường Đốc. Năm 1825, Phan Thanh Giản thi đỗ cử nhân. Năm sau, vào Kinh thi đỗ tiến sĩ. Có tư liệu nói ông đỗ vớt, vì Nam Bộ chưa có tiến sĩ nào. Điều này, nếu là sự thật thì cũng không chứng tỏ Phan Thanh Giản kém tài, mà chỉ cho thấy các nhà nho Nam Bộ bấy giờ nói chung và Phan Thanh Giản nói riêng còn chưa bị cái học khoa cử lèn chặt óc, còn có chỗ cho thực học. Việc sau này ông làm Tổng tài Quốc sư quán, chủ khảo nhiều trường thi, chủ biên bộ Đại Nam sự lệ hội điền Khâm định Việt sử thông giám cương mục và Minh Mệnh chính yếu, cũng như sáng tác Lượng Khê thi tập, Lượng Khê văn tập và Lượng Khê bổ di đã đủ nói lên tài năng văn học (theo nghĩa rộng) của ông.

     Làm quan trong chế độ phong kiến toàn trị lương rất thấp, chỉ đủ nuôi sống bản thân. Bởi vậy, để chu cấp cho gia đình và các chi phí xã hội khác, quan lại phải nhờ vào bổng và lộc. Và càng lên cao thì bổng lộc lại càng lớn. Nhà nước dùng hình thức này để “đóng đinh” các thư lại viên vào bộ máy hành chính của mình, nhưng vô hình trung, đã bật đèn xanh, thậm chí chính thức hóa cho tham nhũng. Khiến tham nhũng không còn chỉ nằm ở phạm vi đạo đức nữa, mà đã chuyển sang văn hóa (như văn hóa phong bì chẳng hạn). Trong hoàn cảnh ấy, liêm khiết, tức đồng nghĩa với cam lòng sống với đồng lương còm của mình, là một cố gắng phi thường, hiếm có. Vậy mà Phan Thanh Giản là con quạ trắng ấy. Đã từng ở những chức vụ đầu triều, như thượng thư nhiều bộ, thành viên Cơ mật viện, Kinh lược sứ… nhưng Phan Thanh Giản vẫn sống một cuộc sống vô cùng đạm bạc. Vợ con ở quê vẫn phải tự kiếm sống nuôi nhau. Đến khi chết tư gia vẫn là ngôi nhà tranh vách liếp. Không phải ngẫu nhiên mà Phan Thanh Giản được vua Tự Đức ban cho 4 chữ Liêm, Bình, Cần, Cán, còn Trương Vĩnh Ký thì năm 1889 đã viết: “Người ta không thể nào thấy được một viên chức thanh liêm hơn thế”. Sự thanh liêm này không hẳn xuất phát từ quan niệm “an bần lạc đạo” của Nho giáo, mà từ lòng thương dân, thân dân.

     Tuy làm quan to, nhưng quả thực, Phan Thanh Giản không có “kỹ thuật làm quan” (chữ Trần Ngọc Vương gán cho Nguyễn Du), bởi ông luôn vi phạm các điều cấm kỵ nghề nghiệp: trái ý thượng cấp, thậm chí chính nhà vua. Bởi vậy đường quan lộ của ông nhiều lần thăng giáng. Năm 1831, đang làm Hiệp trấn Quảng Nam, bị thua khi đánh dẹp mọi Chiên Đàn, Phan Thanh Giản bị giáng đi làm Tiền quân hiệu lực. Năm 1836, khi lại làm Bố chánh Quảng Nam, Phan Thanh Giản bị giáng chức vì can vua không nên đi ngự du xứ này, “để dân dốc sức vào việc ruộng nương”. Năm 1838, bị giáng do vào công văn quên đóng dấu quốc bửu. Rồi ít lâu sau đó năm 1839 do bênh vực đồng liêu. Năm 1840 bị giáng vì chấm bài thi sơ sót. Tuy nhiên cũng có nhiều lời tấu của ông được nhà vua theo, có lợi cho dân cho nước. Tin tưởng vào sự trung thực, thẳng thắn của Phan Thanh Giản, các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều tin dùng ông, bổ nhiệm ông vào những vị trí trọng yếu. Và một trong những vị trí quan trọng đó đã đưa ông vào trung tâm của tấn bị kịch thời đại.

     Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh chiếm Đà Nẵng nhằm ép triều đình Huế ký kết một hiệp ước cho Công giáo được truyền đạo và buôn bán được tự do. Thất bại. Giữa tháng 2/1859, Đô đốc de Genoiuly đánh chiếm Gia Định để tạo áp lực cho một thương thuyết mới. Cũng thất bại. Đầu năm 1861, chiến tranh ở Trung Quốc kết thúc. Đô đốc Charner gom quân tăng viện nên đã chiếm được toàn tỉnh Gia Định và chiếm đóng thêm tỉnh lỵ Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Cuối năm 1861, Đô đốc Bonard thay thế Charner chiếm thêm một số vị trí chiến lược nữa, nhưng quân số mỏng, không đủ căng ra để giữ các vùng chiếm đóng. Giữa lúc chúng lúng túng như vậy, thì bất ngờ được tin triều đình Huế xin nghị hòa. Và người được vua Tự Đức cử đi làm việc này là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp.

     Tại sao triều đình Huế lại có hành động không đúng lúc này? Trước đây các nhà nghiên cứu đều cho rằng, nhà vua muốn rảnh tay phía Nam để đối phó với giặc Tạ Văn Phụng ở phía Bắc, nhằm tránh tình trạng “lưỡng đầu thọ địch”. Nhưng nguyên nhân chính hẳn do “con đường lúa gạo” từ đồng bằng Sông Cửu Long ra Phú Xuân từ đầu năm 1862 bị cắt đứt. "Những" thuyền chở lương thực và khí giới phần nhiều bị thuyền Tây dương đốt cháy: từ tháng Chạp năm ngoái tới nay (tức chỉ trong một tháng) cộng mất 25 chiếc thuyền và hơn 20.080 phương gạo” (Đại Nam thực lục chính biên). Trong hoàn cảnh như vậy, triều đình không thể không thương thuyết và không nhượng bộ. Đây chính là chủ trương được cho trước với Phan Thanh Giản. Trong phúc tâu gửi về nhà vua ông viết: “…thần đẳng thấy không được phép kéo dài thêm các cuộc thảo luận sợ làm hỏng việc hòa đàm và gây thêm rắc rối; thần đẳng đã ký tên vào bản thỏa ước”. Hòa ước 5/6/1862 nhượng toàn bộ 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và  đảo Poulo - Condone cho Pháp. Tuy bị nhà vua khiển trách là “thu xếp chưa giỏi” “phần nhiều chưa phù hợp”, nhưng chánh, phó sứ vẫn tiếp tục được giao những trọng trách lớn khác. Bản án thực sự khiến Phan Thanh Giản bị đục tên khỏi bia Tiến sĩ, lột sạch chức tước, trảm giam hậu là khi 3 tỉnh miền Tây bị mất vào tay Pháp tháng 6/1867.

     Chỉ trong có mấy ngày mà quân đội Pháp đã chiếm gọn 3 tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên không tốn một viên đạn. Lý giải sự kiện này các tư liệu của Pháp đều cho rằng Phan Thanh Giản đã thức thời giao thành cho Pháp vì biết rằng dù có chống cự cũng thua mà lại làm tốn xương máu của dân. Thực ra, bất chấp sự đồng ý trả lại 3 tỉnh miền Đông của triều đình Pháp trong chuyến đi sứ của Phan Thanh Giản, thực dân Pháp ở Nam Bộ đã có kế hoạch chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây, bởi đây là con đường thông thương từ Camphuchia (lúc này đã thuộc Pháp) ra cảng Sài Gòn. Bởi vậy, bọn họ đem tàu thuyền đến thành Vĩnh Long, mời Phan Thanh Giản xuống tàu thương thuyết, rồi bất ngờ chiếm thành. Quá tin vào hòa ước, Châu Đốc và Hà Tiên cũng mất theo cách thức tương tự. Như vậy, không chống lại khi “sự đã rồi” thì có, nhưng “dâng đất” thì không. Phan Thanh Giản không phải người “bán nước cầu vinh”, cũng không phải kẻ khiếp nhược trước sức mạnh quân sự của Pháp. Cái nhìn của ông có nguyên nhân sâu xa hơn. Còn sự trừng phạt mà ông phải chịu sau chết chỉ chứng tỏ rằng Tự Đức cần một người chịu tội thay mà trong chế độ quân chủ, khi “đấng con trời” không thể sai, thì chuyện “hình nhân thế mệnh” như vậy là thường tình.

     Nhà Nho Việt Nam "đều lấy luân thường đạo nghĩa làm trọng, nhưng phần nhiều chỉ biết trọng văn chương giữ nền nếp cổ, chứ ít có người có con mắt trông rộng nom xa, có trí phát minh sáng kiến" (Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu). Phan Thanh Giản không thuộc vào đám đông này. Ngoài những phẩm chất thuộc Nho giáo Nam Bộ đã nêu ở trên, Phan Thanh Giản còn có hai lần đi sứ. Một, đi Tàu để thấy được sự bất lực của Nho giáo trước sự đe dọa của phương Tây. Hai, đi Tây để thấy được sự phát triển không chỉ kỹ thuật mà cả xã hội. Thời gian ở Pháp ông đã có dịp trao đổi với các phó đại sứ Bỉ và Thổ Nhĩ Kỳ về vấn đề thuế khóa. Trong  phúc tâu lên vua Tự Đức sau chuyến đi Pháp ông có kiến nghị các biện pháp xây dựng, canh tân đất nước, nhưng không được nghe theo:

            Từ ngày đi sứ đến Tây kinh

            Thấy việc Âu châu phải giật mình

             Kêu tỉnh đồng bang cho kịp bước

             Hết lời năn nỉ chẳng ai tin

                                               (“Tự thán”)

      Như vậy, Phan Thanh Giản là người chủ hòa chứ không chủ bại. Hòa chứ không phải hàng. Hòa là để tìm cơ hội  để canh tân đất nước theo hướng hiện đại. Cùng với các nhà nho khác như Cao Bá Quát, Lý Văn Phúc, Phạm Phú Thứ, Đào Trí Phú…, Phan Thanh Giản là những người đầu tiên. Bi kịch của  Phan Thanh Giản do ông nằm kẹp giữa những kẻ chủ bại và những người chủ chiến, mà họ tuy đối lập nhau về nhãn quan chính trị, nhưng lại giống nhau ở kiểu tư duy. Cái chết tự chọn của Phan Thanh Giản vừa thể hiện sự bất lực của tình thế, vừa sức mạnh của nhân cách.