Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Quan hệ Việt - Nhật thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (II)

Tượng Nguyễn Hoàng tại bảo tàng tỉnh Quảng Trị Tượng Nguyễn Hoàng tại bảo tàng tỉnh Quảng Trị

II)Quan hệ giữa chính quyền Đàng Ngoài với Nhật Bản

Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ xứ Thuận Hóa năm 1558 thì chỉ sau 12 năm, ông đã biến vùng đất Thuận Quảng (Thuận Hóa-Quảng Nam) thành một khu vực thương mại phồn thịnh. Sách Đại Nam thực lục tiền biên viết về năm 1572 như sau:” …Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn …” (Sách đã dẫn – NXB Sử học – Hà Nội 1962, trang 36). Tuy nhiên quan hệ Việt-Nhật lại mở đầu bằng một sự kiện trớ trêu. Một trong những người Nhật có mặt sớm tại Đàng Trong bị nhận diện lầm là cướp biển phương Tây. Sách Đại Nam thực lục tiền biên chép về năm 1585 như sau: “ tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý đi năm chiếc thuyền lớn, đến đậu ở cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ sáu lĩnh hơn 10 chiến thuyền tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan hai chiếc thuyền giặc…” (sđd – trang 37). Sự việc xảy ra khi Nguyễn Hoàng đang có mặt ở Đông Kinh (Thăng Long) để giúp vua Lê thanh toán những dinh lũy cuối cùng của dòng dõi Mạc Đăng Dung. Sau khi ông trở lại Thuận Quảng vào năm 1600, với tước Đoan Quốc Công, thì cũng kịp nhận ra rằng “tướng giặc nước Tây dương” lại là một người Nhật có tên Bạch Tần Hiển Quý (Shirahama Kenki) và ông đã nghĩ ngay đến việc sử dụng người này như một sứ giả để liên lạc với chính quyền Nhật Bản đương thời. Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch năm 1601, Nguyễn Hoàng nhờ Hiển Quý mang thư và tặng phẩm về Nhật dâng lên Đức Xuyên Gia Khang (Tokugawa Ieyasu), người về sau làm Tướng quân Mạc phủ. Trong bức thư đầu tiên này, người đứng đầu hai xứ Thuận Quảng cố giải thích khác đi sự kiện đáng tiếc liên quan đến Bạch Tần Hiển Quý, cho rằng việc đánh đuổi ông ta vào năm 1585 chỉ là sự hiểu nhầm giữa hai bên, kỳ thực Hiển Quý là một thương nhân lương thiện. Tặng phẩm Đoan Quốc Công gửi biếu Đức Xuyên Gia Khang gồm có kỳ nam, lụa, mật ong, lôi mộc, con công. Phần cuối của bức thư lại là phần chính: Nguyễn Hoàng  “xin giúp cho 4 thứ quân khí, để dùng vào việc nước (sinh, diêm, sơn và khí giới)…”

 Thư trả lời cho Nguyễn Hoàng của Đức Xuyên Gia Khang, cũng vào năm 1601, được in trong tập Dị quốc vãng lai ký. Nội dung thư báo cho Đoan Quốc Công biết là phía Nhật đã nhận đủ quà tặng, đặc biệt trong phần cuối có nhắc rõ chế độ cấp phép buôn bán dưới hình thức châu ấn trạng: ”… Sau này thuyền nước tôi đến đất ông lấy ấn tín này làm tin, nếu không không nên nhận. Những binh khí của nước tôi đem tặng đây, thật như lông ngỗng xa từ ngàn dặm … “ (tạp chí Văn Hóa Á châu – Sài Gòn, số 3-4.1958, trang 19). Thư trao đổi trong năm 1603 không có gì đáng nói ngoài việc phía Nhật Bản yêu cầu chính quyền Đàng Trong bảo vệ cho các thương nhân Nhật sang buôn bán, và việc tặng hảo cho Nguyễn Hoàng số binh khí gồm 10 cây dao lớn. Song qua năm 1604, đã thấy khá rõ thâm ý của Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng đối với chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài khi ông viết cho Đức Xuyên Gia Khang: “…Từ năm nay trở đi, các thuyền thông thương chỉ nên đến nước tôi, tiện việc mua bán, còn các xứ Thanh Hoa, Nghệ An với nước tôi là thù địch, mong rằng Quốc vương  đã có lòng yêu nhau, thì nên cấm hẳn các thuyền buôn qua lại với các xứ ấy….” (Văn Hóa Á Châu – Tài liệu đã dẫn, trang 21). Lời lẽ trong thư không che giấu với cả người nước ngoài lòng tị hiềm của chúa Nguyễn với chính quyền Lê-Trịnh mà bề ngoài ông vẫn tự coi mình đang thống thuộc. Câu “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được ông sử dụng với tất cả ý nghĩa tích cực nhất, với mưu đồ biến Đàng Trong thành một vương quốc tách biệt hẳn với Đàng Ngoài. Mưu đồ đó được cụ thể hóa bằng lời trăng trối của Nguyễn Hoàng cho con nối nghiệp là Nguyễn Phúc Nguyên:” …Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang (Hoành sơn) và sông Gianh (Linh giang) hiểm trở, phía Nam có núi Hải vân và núi Đá bia (Thạch Bi sơn). Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời…” (Đại Nam thực lục tiền biên – sđd,  trang 44). Vì thế, có thể nói rằng ngay từ đầu thế kỷ 17, Nguyễn Hoàng đã sớm tận dụng mối quan hệ với Nhật Bản để ít nhất đạt đến hai mục tiêu, một là trao đổi sản vật lấy binh khí cần cho những cuộc xung đột Nam Bắc có thể xảy ra, thông qua hình thức tặng hảo, và hai là giành lấy ưu thế về thương mại với Đàng Ngoài bằng cách cô lập hay giới hạn đến mức tối đa số thương nhân Nhật Bản đến vùng này. Song qua những thư trao đổi ban đầu đó, ta còn khám phá thêm một điều quan trọng nữa, đó là phố Hiến, Hưng Yên không phải là nơi duy nhất tiếp đón thương nhân nước ngoài, bên cạnh đó, còn có hai trung tâm thương mại khác, tuy nhỏ hơn, ở Thanh Hóa và Nghệ An là nơi thương nhân Nhật thường tìm đến.
    Có lẽ tự thấy như thế chưa đủ củng cố mối quan hệ Việt- Nhật, năm 1604, Nguyễn Hoàng nhận một thương nhân Nhật, đồng thời là phái viên đầu tiên của chính quyền Tokugawa tại Đàng Trong, tên Châu Mộc Di Thất Lang (Hunamoto Yabeiji) làm con nuôi. Trong một thư đề ngày mồng 6 tháng 5 (âm lịch) năm 1606 gửi cho một giới chức Nhật Bản tên Bản-Đa-Thượng Dã-giới-chính-Thuần (Honda Kozukenosuke Masazumi), chúa Nguyễn đã viết:”Nhận được thư ông như được thấy mặt, gần đây tôi thấy Gi-Thất-Lang, đức thật trung hậu, tôi nhận làm con nuôi, và kính đến cả khách bạn, đem lời khuyên bảo, thể theo ý ông, nên Gi-Thất-Lang về nước, tôi nhớ mong lắm….”
(Văn Hóa Á Châu – tlđd – trang 23).
    Sau khi Nguyễn Hoàng qua đời năm 1813, con là Nguyễn Phúc Nguyên lên kế nghiệp, được đời sau gọi một cách đơn giản là chúa Sãi. Ông tiếp tục mối quan hệ với Mạc phủ và vào năm 1619, đã công bố việc gả một công nữ cho một thương nhân Nhật Bản tên Hoàng MộcTôn Thái Lang (Kimura Sotaro) (sẽ kể rõ trong  một phần sau). Tuy nhiên việc thương mại Việt-Nhật dưới thời Nguyễn Phúc Nguyên đã không được mấy suôn sẻ. Giữa thập niên 1810, tức không lâu sau khi ông kế nghiệp Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng, chính quyền trung ương Nhật Bản trục xuất toàn bộ giáo sĩ phương Tây đang được phép truyền đạo ở nước này và áp dụng chính sách cấm đạo Cơ Đốc triệt để hơn bao giờ hết. Cũng từ đó, việc cấp châu ấn trạng bị hạn chế dần. Năm 1627 nổ ra cuộc xung đột lần đầu giữa hai chính quyền Trịnh-Nguyễn, quan điểm của chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng thận trọng hơn. Chúa liên tục yêu cầu các thương nhân Nhật chỉ buôn bán với Đàng Trong thôi. Nhưng rồi lệnh này cũng không tồn tại được lâu. Năm 1635, chính quyền Nhật Bản cấm toàn bộ thương thuyền ra khỏi lãnh hải nước Nhật. Tuy nhiên, lúc bấy giờ vẫn còn một số thương nhân Nhật không về nước mà ở lại Đại Việt, Chân Lạp, Philippines để buôn bán với người bản xứ, với một qui mô chật hẹp hơn rất nhiều. Năm 1644, Trung Quốc trải qua một biến động lớn, nhà Minh bị nhà Mãn Thanh thôn tính, nhiều cựu thần nhà Minh bất phục tân triều, lần lượt bỏ xứ ra đi. Năm 1679, gần 3.000 người Hoa đi theo hai cựu thần nhà Minh là Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài) và Dương Ngạn Địch xuôi thuyền đến Đàng Trong, xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho nương náu. Chúa Nguyễn đã cho họ vào vùng đất Trấn Biên (Biên Hòa) và Mỹ Tho để khai khẩn, lập nghiệp. Nhân dịp này, nhiều thương nhân Nhật cũng đi theo đoàn người Nam tiến đó, vào sinh sống ở đất Đông Phố (đúng ra là Giản Phố) (Biên Hòa, Gia Định). Năm 1695, một người phương Tây là Thomas Bowyear ghé lại Hội An, có kể lại là ông chỉ gặp 4 hay 5 gia đình người Nhật ở đó. Đầu thế kỷ 20, còn một số kiều dân Nhật sống ở Sài gòn, nhưng không rõ họ có phải là hậu duệ của những người Nhật đã qua buôn bán ở nước ta bằng châu ấn thuyền hay không.

 

III. Quan hệ giữa chính quyền Đàng Ngoài với Nhật Bản
    Trong khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng mở đầu mối quan hệ chính thức giữa Đàng Trong với Nhật Bản từ năm 1601 thì đến gần một thập kỷ sau, chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài mới khởi đầu những cuộc trao đổi thư tín. Năm 1610, vua Lê Kính Tông tự xưng là Đại Đô thống nước An Nam gửi thư cho một viên chức Nhật Bản tên Gia Đằng Phi Hậu Thủ Thanh Chính nhắc đến việc một thuyền chủ Nhật tên Lâm Hữu được phép đi mua hàng ở nước Tiêm La (nay là Thái Lan) nhưng thuyền không đến được, nên đã ghé lại Đàng Ngoài xin yết kiến vua Lê và được cho phép buôn bán với người trong xứ. Khi Lâm Hữu trở về Nhật, vua Lê có gửi quà theo và nhắn nhủ: ”Nếu Quý Phủ có lòng yêu, cho thuyền chủ đến sang năm lại đem thương thuyền sang buôn bán ở nước tôi, để cho tài hóa hai nước lưu thông và kết mối hòa hảo nghìn năm…” (Văn Hóa Á Châu – tlđd – trang 26).
   Ngày mùng 8 tháng 5 âm lịch năm 1613, vua Lê Kính Tông gửi cho Quốc vương  Nhật Bản một thư thăm hỏi, kèm theo kỳ nam và lụa trắng làm quà tặng. Trong khi quan hệ chính thức giữa Đàng Trong với Nhật Bản hầu như không còn sau sự kiện phía Nhật cấm thuyền buôn ra nước ngoài (1635) thì quan hệ Đàng Ngoài với Nhật còn kéo dài đến cuối thế kỷ 17. Những trao đổi giữa hai bên về sau chủ yếu xoay quanh việc cứu nạn các thuyền nhân của hai nước bị đắm tàu. Còn về địa điểm giao thương giữa hai phía Việt-Nhật, trong tài liệu”Ngoại phiên thông thư – Tập tư liệu cổ về quan hệ Việt-Nhật”, tác giả Đoàn Lê Giang có nêu lên một số chi tiết dựa vào các văn thư trao đổi giữa chính quyền Lê-Trịnh và Mạc phủ cùng một số viên chức Nhật Bản: “Từ thế kỷ 16-17, các thuyền buôn Nhật Bản và Phúc Kiến đã biết đến cửa Đan Nhai (cũng gọi là Cửa Hội). Từ cửa Đan Nhai đi ngược dòng sông Lam (cũng gọi là sông Cả), qua Bến Thủy (thành phố Vinh bây giờ) để đến xã Phục Lễ lập thương điếm buôn bán. Thương nhân người Nhật là Matsumoto đã có công xây khu phố buôn bán ở đất Phục Lễ - Chợ Tràng, Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, tương tự như Hội An mặc dù quy mô nhỏ hơn. Tiếc rằng sau đó chiến tranh Trịnh-Nguyễn liên miên (1627 lần thứ nhất, 1633 lần thứ hai…) và nạn sụt lở đất, nên dần dần Phục Lễ không còn thuận lợi cho buôn bán nữa…”. Như vậy rõ ràng là người Nhật đã từng hiện diện trên đất Nghệ An để phát triển việc giao thương với cư dân Đàng Ngoài, song với qui mô nhỏ hơn và không dài lâu như với Đàng Trong. Qua thư trao đổi, ta thấy cũng như Đàng Trong, vua Lê-chúa Trịnh ở Đàng Ngoài muốn kéo thương nhân Nhật về phía mình, đồng thời yêu cầu chính quyền Nhật Bản hỗ trợ các loại vũ khí cần thiết. Với chúa Nguyễn, vũ khí, quân dụng cần cho sự phòng thủ, còn với vua Lê-chúa Trịnh, những thứ này cần cho nhu cầu đối phó với khuynh hướng muốn tách rời quyền lực của họ. Vì thế, không thể nói là 7 cuộc tấn công của quân đội Đàng Ngoài vào Đàng Trong không có dính đến yếu tố vũ khí, quân dụng cầu viện từ Nhật Bản. Biết được điều này, chính Nguyễn Hoàng đích thân yêu cầu phía Nhật không cấp châu ấn trạng cho thuyền buôn đến Đàng Ngoài  và đến tháng 5 âm lịch năm 1622, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã nói một cách không e dè trong thư gửi cho một viên chức Nhật Bản tên Trung Đảo Thị: “ Tôi nhờ một việc: tôi có cháu ngoại là họ Trịnh không tuân nghiêm cấm của quý Phủ. Vậy hễ các thuyền buôn xin chớ cho chở lưu hoàng và đồ đồng đến nơi nó. Nếu được như thế, tôi chịu ơn nhiều lắm …” (Văn Hóa Á Châu – tlđd – trang 25). Không rõ trong câu “cháu ngoại là họ Trịnh”, Nguyễn Phúc Nguyên muốn ám chỉ ai, chứ vào năm 1619 thì ngôi chúa ở Đàng Ngoài vẫn còn trong tay Bình An vương  Trịnh Tùng là cháu gọi Nguyễn Hoàng bằng cậu ruột, tức là anh cô cậu của ông. Năm 1628, chỉ một năm sau cuộc tấn công lần thứ nhất của quân Trịnh vào Đàng Trong, Nguyễn Phúc Nguyên gửi thư cho viên chức Nhật tên Trà Ốc Tứ Lang Thứ Lang báo tin: “ Đến năm trước có tên cháu ngoại quên ân bội nghĩa, dám đem quân phạm bờ cõi, ông Trời chí công không dong thứ kẻ gian, rễ khiến chúng phải thua chạy. Vừa đây được biết quý quốc, các quan chức giữ lòng kính yêu, cấm tàu buôn không giao dịch với Đông Kinh, cảm ơn các quý chức nhiều lắm….” (VHAC – tlđd – trang 24). Đông Kinh là Thăng Long thời đó, còn người nắm quyền bính trong họ Trịnh là Thanh Đô vương Trịnh Tráng, con Trịnh Tùng, trên thực tế là cháu kêu Nguyễn Phúc Nguyên là chú. Phải chăng có sự nhầm lẫn của người chép lại thư hay người dịch các tài liệu này?
    Tóm lại, quan hệ Việt-Nhật vào thế kỷ 17 chủ yếu là quan hệ giữa thương nhân hai nước trên cơ sở trao đổi, mua bán sòng phẳng, các chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài chỉ góp phần cho mọi chuyện diễn ra thông suốt. Về quan hệ chính thức, cũng chỉ thấy những thư từ trao đổi qua lại và sản vật quý của Đại Việt và một số vũ khí, hóa chất sử dụng làm vũ khí từ phía Nhật gửi sang. Cả hai phía Đàng Ngoài và Đàng Trong luôn muốn lôi kéo thương nhân và chính quyền Nhật Bản về phía mình và điều này ảnh hưởng không ít đến chính sách ngoại thương của họ ở Đại Việt. Tại Đàng Trong, người Nhật đến sớm hơn, từ trước thế kỷ 17, vì trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558, nhiều thương nhân Nhật đã sang buôn bán với người Chăm ở phía Nam vùng đất Thuận Quảng rồi. Nhận xét về thời kỳ này, tiến sĩ Li Tana đã viết: “ Do đó, không thể không nhìn nhận rằng việc buôn bán với các châu ấn thuyền của người Nhật đã góp phần tạo nên sự tăng vọt kinh tế thực sự tại Đàng Trong vào đầu thế kỷ 17. Và kết quả là họ Nguyễn đã có thể trang bị cho mình những khí giới tiên tiến giúp họ chống cự lại Đàng Ngoài” (Xứ Đàng Trong … NXB Trẻ 1999 – trang 99). Dù vậy, hoạt động tích cực của thương nhân Nhật đã phải dừng lại từ năm 1635, khi chính quyền Nhật ngăn cấm mọi giao thương với bên  ngoài bằng đường biển.  Trong suốt thế kỷ 17, quan hệ Việt-Nhật về mặt chính quyền chỉ giới hạn chủ yếu trong việc tạo điều kiện cho thương nhân Việt và Nhật dễ dàng buôn bán với nhau và cứu giúp thuyền nhân hai nước gặp nạn trên biển. Song trong hoàn cảnh lúc đó, những sự kiện này cũng đã là nền tảng cho các mối quan hệ sâu xa hơn, nhất là vào đầu thế kỷ 20, khi phong trào Đông Du được các nhà ái quốc phát động, đưa du học sinh Việt Nam sang Nhật học hỏi những điều mới lạ để về giúp nước.