Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Thứ năm, 03 Tháng 11 2016 16:47

"Ân Lai" - Ân huệ đến?!

Dưới đây là câu chuyện do một cán bộ từng làm việc bên cạnh Chu Ân Lai kể lại.

1.

Một ngày tháng Hai năm 1976, có điện thoại gọi tôi: Thành ủy Thiên Tân sưu tập được một số di vật của Thủ tướng Chu Ân Lai thời trẻ, đã gửi tới Tây Bắc Môn của Trung Nam Hải, đề nghị tôi đến ký nhận. Thủ tướng qua đời đã được một tháng, nhân dân cả nước còn đang chìm trong biển tình cảm thương tiếc. Trung ương đề nghị các địa phương tìm kiếm sưu tập những di vật và tư liệu về Thủ tướng Chu Ân Lai.

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới

Mao Trạch Đông phát động cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thả lũ ma quỷ ra khỏi chiếc bình của ông nhưng sau đấy không thể nào thu hồi lại chúng. Dân tộc [Trung Hoa] cổ xưa này nhiễm phải cơn sốt điên cuồng chẳng khác ông già rơi vào lưới tình. Hỡi các bạn trẻ, hãy nghĩ tới tình cảnh bạn bị một bà lão điên cuồng theo đuổi mình. Hãy nhớ lấy đôi mắt chảy bỏng và cặp vú khô đét ấy. Đó là cuộc Đại Cách mạng Văn hóa.

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới

Ngay ở châu Á, chỗ nào Mao Trạch Đông cũng gặp trở ngại. Thảm hại nhất là vụ “để mất” Đảng Cộng sản Việt Nam(ĐCSVN).

Năm 1950, Stalin đã giao cho Mao « quản lý» ĐCSVN. Nhiều năm qua, Mao xuất tiền xuất người giúp ĐCSVN đánh Pháp, rồi đánh Mỹ. Nhưng vì Mao coi ĐCSVN như quân cờ trên bàn cờ của mình nên người Việt Nambất hòa với Mao.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta

Từ lâu, các tỉnh Nam Trung  Hoa,  cụ thể là Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, đã có quan hệ mật thiết với phong trào cách mạng Việt Nam. Khi đất nước Việt Nam còn bị thực dân Pháp đô hộ,thì các tỉnh Nam Trung Hoa giáp biên giới Việt-Trung, cũng như các tỉnh Thái Lan giáp biên giới Lào và Campuchia, đều có thể trở thành nơi dừng chân, nơi xây dựng căn cứ hải ngoại của các tổ chức cách mạng Việt Nam. Tìm hiểu vị trí của các tỉnh Nam Trung Hoa, cũng như ảnh hưởng của các phong trào cách mạng Trung Hoa đối với cuộc vận động cách mạng Việt Nam trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới,tiến sĩ sử học Christopher E.Gosha ở Trường Cao học thực hành Pháp đã viết bài: “Suy nghĩ về miền Nam Trung Hoa và cách mạng Việt Nam giữa hai cuộc chiến  tranh” đăng trên tập san Approche Asie (Tiếp cận Châu Á)số 16, 1999, xuất bản tại Nice. Xin giới thiệu bản lược dịch của cố sử gia Đào Hùngbài báo nói trên, đã đăng trên Xưa và Nay. VHNA biên tập, thêm dấu cho một số tên nhân vật.

Là cuộc xung đột cục bộ đầu tiên của thời kỳ chiến tranh Lạnh, dù đã tạm khép lại, song chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) kịp để vô số hệ lụy. Vượt qua giới hạn thông thường của một cuộc đấu tranh thống nhất đất nước bằng con đường vũ trang, chiến tranh Triều Tiên hàm chứa những mâu thuẫn lớn của cuộc đối đầu Đông – Tây. Đằng sau mỗi sự kiện, mỗi diễn biến của cuộc chiến, đều có bàn tay, bóng dáng và những dự liệu, những kế hoạch ngầm định của các cường quốc.

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới

1. Cục diện đối đầu Đông – Tây và chính sách đối ngoại của Trung Quốc   

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ đồng minh bất đắc dĩ  Xô - Mỹ nhanh chóng tan vỡ, hai nước chuyển sang trạng thái đối đầu quyết liệt, cạnh tranh sức mạnh ở cả vũ đài trung tâm lẫn ở vùng ngoại vi. Bước ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất, có thể nói bằng tất cả các nước tư bản cộng lại. Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ có những kế hoạch to lớn trên con đường trở thành siêu cường có khả năng định hướng toàn cầu. Mùng 6-4-1946, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới”[1].Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như “sự thống trị lục địa bởi một quốc gia duy nhất và thù địch với Mỹ, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ”[2]. Trên thực tế, các nước ở Trung, Đông Âu sau khi được giải phóng, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, đều đã lựa chọn con đường dân chủ nhân dân . Đó là một đảm bảo để Liên Xô củng cố địa vị của mình tại trung tâm thế giới - châu Âu; đồng thời, mở rộng ảnh hưởng ra những khu vực khác. Năm 1949, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa ra đời đã tạo nên sự thay đổi đáng kể trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế. Như thế, chính điểm tương đồng về mục tiêu chiến lược của cả Mỹ và Liên Xô đã đẩy hai nước trôi về hai cực đối lập,trở thành đối thủ không khoan nhượng, hình thành cục diện Đông – Tây với bầu không khí Chiến tranh Lạnh bao trùm toàn cầu. Trongtình thế xung đột, mâu thuẫn, Chiến tranh Triều Tiên (1950) bùng phát, nhanh chóng trở thành đỉnh cao đối đầu, nơi đọ sức quyết liệt giữa hai phe trên nền "trật tự Yalta".

1. Cục diện đối đầu Đông – Tây và chính sách đối ngoại của Trung Quốc   

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ đồng minh bất đắc dĩ  Xô - Mỹ nhanh chóng tan vỡ, hai nước chuyển sang trạng thái đối đầu quyết liệt, cạnh tranh sức mạnh ở cả vũ đài trung tâm lẫn ở vùng ngoại vi. Bước ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất, có thể nói bằng tất cả các nước tư bản cộng lại. Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ có những kế hoạch to lớn trên con đường trở thành siêu cường có khả năng định hướng toàn cầu. Mùng 6-4-1946, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới”[1].Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như “sự thống trị lục địa bởi một quốc gia duy nhất và thù địch với Mỹ, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ”[2]. Trên thực tế, các nước ở Trung, Đông Âu sau khi được giải phóng, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, đều đã lựa chọn con đường dân chủ nhân dân . Đó là một đảm bảo để Liên Xô củng cố địa vị của mình tại trung tâm thế giới - châu Âu; đồng thời, mở rộng ảnh hưởng ra những khu vực khác. Năm 1949, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa ra đời đã tạo nên sự thay đổi đáng kể trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế. Như thế, chính điểm tương đồng về mục tiêu chiến lược của cả Mỹ và Liên Xô đã đẩy hai nước trôi về hai cực đối lập,trở thành đối thủ không khoan nhượng, hình thành cục diện Đông – Tây với bầu không khí Chiến tranh Lạnh bao trùm toàn cầu. Trongtình thế xung đột, mâu thuẫn, Chiến tranh Triều Tiên (1950) bùng phát, nhanh chóng trở thành đỉnh cao đối đầu, nơi đọ sức quyết liệt giữa hai phe trên nền "trật tự Yalta".

Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954, là một diễn đàn quốc tế đa phương, do các nước lớn chi phối. Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong kháng chiến và trong đàm phán. Tuy nhiên, mỗi nước lại có lợi ích và tính toán riêng của mình mà chúng ta chưa hiểu hết được, cho nên việc ứng xử với hai bạn đồng minh đặc biệt là Trung Quốc không phải dễ dàng, trong đó có những quan điểm, toan tính của Trung Quốc rất đáng nghiên cứu, như nghị sỹ Mỹ William Knowland bình luận về Hiệp định Genève “Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh để phục vụ lợi ích quốc gia mình”, nhưng với việc đánh giá đúng tình hình, Đảng ta đã xử lý linh hoạt mối quan hệ, đem lại những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao, qua đó cho Đảng ta bài học về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn.

Thứ năm, 10 Tháng 7 2014 14:07

Hiệp định Giơnevơ - một số phận?

1.Thắng lợi...

Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (từ đây xin gọi tắt là Hiệp định Giơnevơ) được nhiều người, trong đó có ý kiến chính thống của Đảng Lao động Việt Nam (và đến tháng 12-1976 đổi tên là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngay từ khi nó được ký kết ngày 21-7-1954 cho đến hiện nay, đánh giá theo chiều có điểm nhấn là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, còn những hạn chế của nó là do hoàn cảnh lịch sử buộc phải thế.

Ở ngưỡng cửa đàm phán tại Geneva về Đông Dương, Thủ tướng Chu Ân Lai đã có một tổng thuật về Việt Nam trái chiều đến mức Tổng bí thư Liên Xô cho nhượng bộ về chia cắt Việt Nam tại vĩ tuyến 17 là một “thắng lợi” của phe XHCN tại một cuộc đối đầu giữa hai phe “có tầm quan trọng bậc nhất” thời đó.

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới
Page 1 of 2