Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Tranh chấp, xung đột ở biển Đông hiện đang diễn ra gay gắt xung quanh quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) –bao gồm hơn 230 đảo san hô, cồn cát, rạn đá san hô và bãi đá ngầm… Có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ có tranh chấp (Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan và Brunei) và tuyên bố quyền sở hữu đối với những diện tích khác nhau thuộc quần đảo. Ba trong số các bên tranh chấp (Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam) yêu sách toàn bộ quần đảo; hai trong số đó (Malaysia và Philippines) chỉ yêu sách một bộ phận của quần đảo (Philippines tuyên bố chủ quyền nhóm đảo Kalayaan, Malaysia đòi hỏi chủ quyền một số thực thể ở phía Nam của quần đảo); Brunei tranh chấp một phần nhỏ của lãnh hải (Brunei chưa đưa ra đòi hỏi về một thực thể địa lý cụ thể, mà chỉ đưa ra yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong đó tọa lạc một vài rạn san hô/bãi đá ngầm). Cho đến thời điểm hiện tại, trừ Brunei không chiếm giữ bất kỳ đảo nào và vì thế không có quân đồn trú, 5 quốc gia còn lại đều kiểm soát những thực thể địa lý nhất định. Cụ thể như sau: Việt Nam kiểm soát 21 thực thể địa lý, gồm 7 đảo san hô/cồn cùng 14 rạn san hô; Philippines kiểm soát 10 thực thể địa lý, gồm 7 đảo san hô/cồn cùng 3 rạn san hô; Trung Quốc: 7 thực thể địa lý, tất cả đều là rạn san hô; Malaysia: 7 thực thể địa lý, tất cả đều là rạn san hô; Đài Loan kiểm soát 2 thực thể địa lý, gồm 1 đảo san hô và 1 rạn san hô.

III.

Sau cái chết của F.D.Roosevelt, người kế nhiệm H.S.Truman từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại; theo đó, H.S.Truman đã xem xét lại một cách căn bản ý tưởng thiết lập chế độ quản thác quốc tế đối với Đông Dương của F.D.Roosevelt. Mỹ dần thay đổi thái độ, trở nên mềm mỏng hơn và Ngoại trưởng Mỹ E.R.Stettinius đã khẳng định với Ngoại trưởng Pháp Georges Bidault như sau: "Mỹ chưa từng đặt vấn đề nghi ngờ chủ quyền của pháp ở Đông Dương mặc dù một số chính giới ở Mỹ có chỉ trích chính sách trước đây của Pháp đối với khu vực này"[1]. Tuy nhiên, cần ghi nhận rằng, dù từ bỏ chính sách loại người Pháp ra khỏi mảnh đất này, bỏ qua những nỗ lực mà Tổng thống F.D.Roosevelt theo đuổi một thời gian dài trong giải quyết vấn đề Đông Dương, song Washington vẫn mong muốn Pháp trao cho Đông Dương quyền tự trị[2]. Trong Hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc (8-5-1945), tuyên bố không phản đối chủ quyền Pháp ở Đông Dương, song Bộ Ngoại giao Mỹ yêu cầu Pháp cải thiện điều kiện chính trị, kinh tế ở bán đảo này, bày tỏ hy vọng sớm nhìn thấy một Đông Dương tự trị. Tại Hội nghị Potsdam (7-1945), sự lập lờ nước đôi của Hoa Kỳ về Đông Dương được chứng thực bởi quyết định cho phép người Anh giải giáp quân đội Nhật ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào phía Nam. Điều đó cũng có nghĩa là đã tạo ra một đảm bảo chắc chắc từ phía các nước Đồng minh đối với sự trở lại Đông Dương của người Pháp, bởi hơn ai hết, Anh luôn là nước trung thành với quan điểm duy trì chế độ thuộc địa cũng như kiên quyết ủng hộ Pháp trở về lãnh địa Đông Dương- trên lập trường ấy, việc Anh giúp Pháp tái chiếm Đông Dương là tất yếu.

Tiến hành cuộc chiến tranh với Việt Nam vào tháng 2-1979, Trung Quốc tuyên bố đó là một chiến tranh “phản kích”, nhằm “đánh đuổi quân Việt Nam ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc”. Ngay ngày 17 tháng 2, nhằm che đậy tính chất xâm lược của cuộc chiến, trong bản tuyên bố trên Tân Hoa Xã, Bắc Kinh khẳng định cuộc tấn công Việt Nam là phản kích tự vệ trước việc Việt Nam xâm lấn lãnh thổ và gây thiệt hại cho dân cư Trung Quốc[1]. Theo như mô tả của Bắc Kinh thì “cuộc chiến tranh tự vệ” này buộc phải xảy ra bởi Việt Nam thường xuyên có các hoạt động “khiêu khích vũ trang và thù nghịch” tại các khu vực biên giới giữa hai nước. Khẳng định “phản kích” Việt Nam, thực hiện cuộc tấn công ‘trừng phạt” là nhằm bảo đảm cho một “biên giới hòa bình và ổn định”, Trung Quốc muốn nhấn mạnh rằng, tranh chấp biên giới là vấn đề cốt lõi của toàn bộ cuộc chiến. Tuy nhiên, cho đến trước năm 1975, vấn đề biên giới tuy có tồn tại giữa hai nước, nhưng nó chưa được đẩy lên đến mức độ xung đột. Hơn thế, từ năm 1975, mâu thuẫn giữa hai nước xung quanh các vấn đề về lãnh thổ có trầm trọng thêm, song cũng chưa đến mức phá vỡ quan hệ hai nước. Theo nhà nghiên cứu Gareth Porter, thì “tổng diện tích lãnh thổ mà hai bên có tranh chấp như Trung Quốc nêu lên thì chỉ có 60 km2”[2]. Thực tế cho thấy rằng, nếu không xảy ra những sự kiện khác, thì vấn đề biên giới vẫn được hai bên nén xuống với một thái độ khá kiềm chế và bình tĩnh, khiến cả người trong cuộc lẫn ngoài cuộc đều nhận rõ một hiện thực sáng rõ là nó hoàn toàn có thể giải quyết được thông qua thương lượng hòa bình. Hơn thế, những xung đột biên giới tăng dần theo cấp số cộng lại chỉ là do Trung Quốc gây ra: Năm 1974 có 179 vụ Trung Quốc lấn chiếm biên giới của Việt Nam, năm 1975 có 294 vụ, năm 1977 tăng lên 810 vụ - vậy thì, cuộc chiến này có thực là “tự vệ”, có thực là “phản kích”?

Trung Quốc là quốc gia nhiều tham vọng; trong đó, tham vọng về mở rộng ảnh hưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng cương vực sinh tồn, lãnh thổ, đất đai là một trong những trục có tính xuyên suốt, nhất quán từ lịch sử tới hiện tại. Áp lực dân số và “ước mơ Trung Hoa” – “ước mơ” trỗi dậy một cách nhanh chóng, trở thành siêu cường có khả năng chi phối thế giới càng củng cố, thúc đẩy Trung Quốc thực hiện chiến lược “lấn dần”, “chèn ép”, tranh đoạt đất đai, sông biển của láng giềng, nhất là của các nước láng giềng nhỏ và yếu hơn.

Tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong cuộc đối đầu lịch sử với một đối phương mạnh hơn gấp nhiều lần, có tiềm lực kinh tế, quân sự vượt trội, Việt Nam luôn nhận được sự đồng tình, cổ vũ của các lực lượng khác nhautrên thế giới. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ không tách rời sự ủng hộ quốc tế to lớn, trong đó có sự giúp đỡ của Liên Xô – quốc gia có nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh với những vũ khí chiến lược tối tân, hiện đại. Viện trợ quân sự toàn diện của Liên Xô, nhất là vào những thời điểm quan trọng của cuộc kháng chiến, đã tăng cường và tạo ra sức mạnh đáng kể cho Quân đội nhân dân Việt Nam.

Một tháng sau khidiễn ra việc tử hình Jang Song- thaek– nhân vật được biết đến với vai trò người lãnh đạo thứ hai của Bắc Triều Tiên tính theo tầm ảnh hưởng chính trị, Trung Quốc vẫn lúng túng trong quan hệ vớingười láng giềng “ẩn dật” đầy khiêu khích. Đây không phải là chuyện mới mẻ, mặc dù không bao giờ Bắc Kinh muốn thừa nhận điều đó. Từ lâu,Trung Quốc đã thất bại trong chính sách đối với Bắc Triều Tiên. Cho đến nay, phản ứng chính thức của Trung Quốc về cuộc đấu đá quyền lực của Bắc Triều Tiênđược giới hạn chủ yếu ở những lời kêu gọi ổn định nội bộ mang tính công thức và khuôn mẫu. Trên thực tế, việc ông Jang Song- thaekbị thanh trừng đã gây ra sự quan ngại sâu sắc cho các nhà hoạch định chính sách cấp caoTrung Quốc, những người một lần nữa thấy mình đứng ngoài sự kiện.

Chuyên mục: Nhìn ra thế giới