Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Chưa bao giờ đi dạy gian nan hơn hiện thời vì dồn dập người thầy phải đối mặt với những thay đổi lớn. Thay đổi về triết lý, thay đổi về nội dung các môn học – khoa học tiến bộ từng ngày – thay đổi về phương pháp sư phạm và muôn vàn khác biệt lớn và nhỏ khác bắt người thầy phải thích ứng.

Người đi học cũng thay đổi.

Học trò ngày nay không là những tờ giấy trắng đợi thầy … khai tâm. Phương pháp …chia sẻ kiến thức, dạy học trò cũng phải thay đổi.

Dạy lấy trò làm trung tâm, dạy tích hợp, dạy kỹ năng, … dồn dập nhiều đổi mới được đề cập tới, mấy năm gần đây. Nhiểu đến nổi lắm khi một phương pháp mới chưa thành thục thì giáo viên đã phải … nhảy sang phương pháp khác.

Đồng thời liên hệ thầy trò hết là liên hệ thẳng, giữa người có quyền và người “thụ ân”, giữa người có hiểu biết và người chưa hiểu biết. Vì trò có thể tiếp cận hiểu biết bằng các ngỏ khác

Song song, quyền của người đi học lên ngôi.

Trong tất cả các thay đổi ấy có một thay đổi nổi bật: sự xuất hiện của kỷ thuật số, màn hình, điện thoại thông minh và internet – Hiện thời, hàng ngày có một số trẻ  dùng màn hình nhiều giờ hơn cả thời gian ở trường.

Giáo viên phải làm sao để … cạnh tranh với internet và màn hình?

Một số nhà giáo dục nói về màn hình trong đó có Serge Tisseron và Philippe Meirieu.

Dạy học, theo Philippe Meirieu, ở thời đại số là dạy trẻ từ chối sự tiếp cận dễ dãi của thông tin trên internet – cái gì cũng có sẳn ở đó, chỉ cần đánh vài ba chữ trên bàn phím và cái nhấn chuột là cả kiến thức của nhân loại hiện ra trước mắt. Cả kiến thức của nhân loại ? Không hẳn thế đâu và từ rất sớm, cần dạy trẻ biết cách đi tìm sự thật. Tức là biết “đãi cát tìm vàng”: tất cả các thông tin trên internet không là sự thật. Và vai trò của người thầy là ở đó: dạy trò đãi cát.

Ngày xưa trẻ tin rằng ngày Giáng sinh, ông già Noel mang quà đến cho chúng – cuộc sống chậm, chúng tin là ông già Noel hiện hữu đến khoảng sáu tuổi.

Bây giờ, tương tự như vậy, trẻ lên ba vẫn tin rằng có “ông kẹ (Gram grum – theo một truyện bằng tranh) đi bắt trẻ khóc nhè”.

Nhưng hai thí dụ của tôi ngừng ở đó. Hiện ở nhà cũng như ở trường, trẻ lên 5 lên 6 đã quen tiếp cận màn hình, Ipad và điện thoại thông minh. Có thể trên mạng, chúng tìm được những câu trả lời khác…Nếu được chuẩn bị, chúng sẽ nghi ngờ những thông tin này và tiếp tục nuôi dưỡng thế giới thần tiên.

Dạy ở đây là không phải là dạy cách sử dụng – cái này trẻ học rất nhanh – có khi còn nhanh hơn người lớn. Nhưng dạy chúng những cái cần làm và cần tránh (Do and don’t)  đối với màn hình  –  từ giới hạn thời gian sử dụng tới cách chọn lọc địa chỉ thông tin hay đối chiếu thông tin để tìm thông tin khả tín. Và dạy những điều này từ năm các cháu lên 5 tuổi – tức là lớp cuối ở trường mầm non.

Ta phải dạy trẻ tập tành suy nghĩ trước và trong khi tiếp cận thông tin để làm chủ thông tin chứ không là đầy tớ.

Trong chừng mực đó, chúng sẽ lập đi lập lại thao tác này mỗi khi chúng cần một thông tin mới. Sự sàng lọc cho thêm thời gian vào cuộc đi tìm thông tin, giúp trò nhớ thông tin, những thông tin đã sàng lọc. Trò biến cái nhấp chuột vô nghĩa và dễ dàng thành một quá trình … học hỏi một cách tích cực – vì trò tự mình dấn thân vào việc tìm tòi, so sánh và chọn lọc thông tin để tiếp cận sau đó.

Lớp học đảo ngược, theo ngữ vựng của Serge Tisseron, áp dụng phương thức này.

Tức là để trẻ đi tìm thông tin để mang vào lớp học và trên cơ sở đó, cùng thầy cấu trúc các bài học dựa trên những kết quả mà chúng đã tìm ra. Chứ thông tin không chỉ đi từ thầy xuống trò theo kiểu truyền thống.

Bước tiếp theo là  giúp trẻ kiến trúc, xây dựng và khám phá các ý nghĩa của thông tin – tức là vượt khỏi cái thực tiển để đi vào thế giới của khái niệm, của khoa học và của triết lý..

Bao nhiêu người chết đói mỗi năm trên thế giới, hiện tượng các hành tinh, vấn đề bạo hành trong gia đình, ô nhiễm môi trường, … là những thông tin mà trẻ tìm thấy dễ dàng trên internet. Nhưng từ đó giáo viên có thể đưa học trò của mình đi xa hơn với những kiến thức về toán, về thống kê, về nông nghiệp, về vật lý, về nhân chũng và xã hội học.

Như thế, màn hình và internet thành những công cụ hữu hiệu giúp trò tiếp cận tri thức khoa học – tiếp cận một cách cụ thể hơn, dễ dàng hơn, lại có vẻ hấp dẫn hơn. Vì chúng có thể tích cực tham gia vào bài học. Trong khi ấy thầy vẫn còn … hữu dụng vì chính thầy tổ chức cho trò tiếp cận chương trình học – để học một cách sống động.

Áp dụng phương thức hành xử như thế, màn hình và internet cho giáo viên và học trò một môi trường cụ thể, những tình huống để áp dụng cách học và dạy bằng tương trợ đồng hành với nhau. Tiếng Pháp gọi là coopération – hợp tác– . Trò hợp tác với nhau trong công cuộc tìm tòi trên internet. Thầy và trò hợp tác trong việc chọn lựa, phân tích, tổng hợp thông tin để cùng nhau, sau đó, đặt những thông tin vừa tổng hợp ấy trong những phạm trù tổng quát hơn, lý thuyết hơn.

Trong giáo dục, liên hệ hợp tác giữa trò và trò – liên hệ đồng hàng hay học với bạn – và liên hệ hợp tác giữa thầy và trò, hợp tác chứ không phải lệ thuộc, cùng học với thầy – là những hình thức sư phạm cho nhiều kết quả nhất và thoải mái nhất cho trò.

Tất cả những phương thức kể trên có thể  dùng được cho các cấp học cơ sở và phổ thông. Với điều kiện là giáo viên có đủ tự do sư phạm để quyết định tùy thời tùy cảnh và nhất là tùy học trò.

Tóm lại, dùng màn hình và internet như công cụ để học tập. Thay vì để mặc các trò nghiện màn hình, nghiện internet và từ đó … chán học.

Chuyên mục: Văn hoá học đường
Thứ tư, 29 Tháng 3 2017 09:29

Hạnh phúc theo World Happiness Report 2017

Con người ta ai cũng mưu cầu hạnh phúc.

Chữ “hạnh phúc” lại khó định nghĩa. Có những bà mẹ hạnh phúc khi thấy con ăn no mặc ấm và nên người – ngay đến khi các bà phải trả giá bằng rất nhiều hi sinh cho chính bản thân.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta

Nguyên văn câu hỏi của một bạn đọc trẻ hôm nay là

“Những lý thuyết hệ thống thế giới, Marxism và thuyết về tình trạng phụ thuộc đã giải thích như thế nào về tình trạng chậm phát triển của thế giới thứ 3″

Báo chí gần đây rầm rộ đăng tin các người trúng số với các món tiền lên đến hàng chục hay tròm trèm hàng trăm tỉ đồng.

“Người đeo mặt nạ nhận giải vé số hơn 92 tỉ đồng”

“… trúng vé số đặc biệt hơn 64 tỉ đồng ở TP.HCM”

“Một người ở Vũng Tàu trúng số hơn 56 tỉ đồng”

1. Một nghiên cứu 

Elizabeth Martin, Facebook activity reveas clues to mental illness (Sinh hoạt Facebook cho thấy dấu hiệu bệnh tâm thần), University of Missouri, Medical Health News Today, 2013.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta
Chủ nhật, 27 Tháng 11 2016 08:09

Bàn về liên hệ "Nguyên nhân - hậu quả"

Lướt qua vài tựa báo trên mạng hôm nay, ta có thể thấy những tựa bài rất … câu khách.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta

Nhà xã hội học Jean Claude Kaufmann sinh năm 1948.

Cách đây hơn hai mươi năm khi ông ở tuổi bốn mươi, lúc “sung sức” của nhà khoa học – vừa vững vàng, tràn đầy kinh nghiệm, vừa giàu có về lý thuyết – ông Kaufmann cho ra đời chuyện giặt giủ quần áo như khởi điểm của đời sống vợ chồng. Quan sát đó được cộng đồng đón tiếp như “luật Kaufmann về thời điểm khởi đầu của các cặp đôi” – một luật, cũng như luật về “sự tái tạo xã hội” – la reproduction sociale – của Pierre Bourdieu.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta

Có nhiều cách đo  giá trị một hệ thống trường học.

Bài này dựa, đa phần,  trên báo cáo Innocenti 11 của UNICEF – Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc – nghiên cứu về “Sự thoải mái của trẻ ở những nước giàu” – Le Bien Etre des enfants dans les pays riches –  đặc biệt là phần nói về sự thoải mái của trẻ trong môi trường học đường (1).

Cách đánh giá của UNICEF xoay quanh giá trị của hệ thống giáo dục cho sự học hiện tại và cho tương lai trẻ sau đó, trên vĩ mô.

Để nghiên cứu giá trị của trường học dưới lăng kính này và nhất là để có thể so sánh các hệ thống giáo dục giữa các nước, UNICEF dùng hai loại chỉ số:

A. theo độ tiếp cận

            . tỉ lệ trẻ được đi học mẫu giáo

            . tỉ lệ trẻ ở độ tuổi 15-19 đang đi học

            . tỉ lệ tuổi  15-19  không đi học cũng không đi làm

 

B. Theo chỉ số đo được bởi khảo sát PISA về các kỹ năng đọc hiểu, toán và khoa học, tức là một tiêu chỉ đặt trên giá trị của “sản phẫm” đầu ra, kết quả của hệ thống xuyên qua khả năng và kỹ năng đã tiếp thu bởi trò.

Tất cả những tiêu chỉ này đều … có thể giải thích và bảo vệ được:

1. Đo tỉ lệ trẻ được đi trường mẫu giáo là ước định được tương lai học hành của trẻ. Giáo dục mẩm non quan trọng. Những năm này giúp trẻ được xã hội hóa, được cung cấp những điều kiện tốt nhất, ít nhất là một môi trường bảo đảm cho các cháu được phát triển điều hòa, tạo cơ sở cho cho những tiếp thu sau đó, lại có được dịp để khám phá các trở ngại có thể cho việc học sau này – nhẹ là việc chậm phát triển kỹ năng tiếng mẹ, nặng hơn là các bệnh sinh lý, tâm lý và xã hội – hầu can thiệp kịp thời tránh cho các cháu bị các khiếm khuyết này thành khuyết tật cho việc học như chứng khó đọc, chứng khó học toán, nói ngọng, …

2. Tỉ lệ trẻ  ở độ tuổi 15-19 còn đi học cho biết tiềm năng chuyên ngành chuyên nghề của xã hội. Thật vậy, nếu trung học cơ sở được xem như có vai trò trang bị cho người đi học vốn liếng tối thiểu đễ làm người. Trung học phổ thông và trung học nghề đào tạo những kỹ năng chuẩn bị cho giới trẻ tham gia vào việc sản xuất. Trẻ từ  độ tuổi 15-19 còn ở trường là biểu hiệu của một xã hội có tương lai vững hơn.

3. Trái lại, nếu tầng lớp này, trẻ ở độ tuổi 15-19, không còn đi học đi thực tập cũng không đi làm thì xã hội đó đang lâm vào một tình trạng thiếu thốn - thiếu thốn hạ tầng học đường để lo cho chuyên ngành chuyên nghề cho người trẻ hay thiếu thốn việc làm cho chúng – ởđây nhà xã hội học sẽ dùng khái niệm anomie (thiếu cấu trúc) của Durkheim –  .

Ba tiêu chỉ nói trên vẽ nên được thấy bức tranh toàn cảnh học đường trong xã hội cho hiện tại và, trong một chừng mực nào đó, cho viển ảnh tương lai.

4. Cũng vĩ mô nhưng giới hạn trong bối cảnh học đường và liên quan đến giá trị đào tạo, một hệ thống trường học tốt là một hệ thống cho ra lò những sản phẫm tốt. Điểm mà các trò 15 tuổi  đạt được qua khảo sát PISA – về khả năng đọc hiểu, toán và khoa học – là một cách chấm điểm khách quan giá trị của trường học.

Cũng có thể chấm điểm bằng cách khảo sát trên học trò, hỏi ý kiến của học trò về trường học của chúng  - Khả năng này, nghiên cứu của  UNICEF đã không dùng tới.

Tổng kết cả bốn tiêu chỉ, những nước có hệ thống trường học tốt nhất cho trẻ, theo Bilan Innocenti 11 là Hà Lan, Bỉ, Đức, Phần Lan, Slovénie. Còn, trái lại,  Ý, Tây ban Nha, Mỹ, Hy lạp và Roumanie thì được xếp ở cuối bảng.

Dưới đây là bảng xếp hạng tổng thể, dựa trên giá trị của hệ thống trường học, theo nghiên cứu Innocenti 11 của UNICEF (7):

1. Hà Lan                               10. Islande                            19. Lituanie

2. Bỉ                                        11. Thụy Điển                       20. Lettonie                                      

3. Đức                                    12. Tchèque              21. Slovaquie                                              

4. Phần Lan                          13. Estonie                            22. Luxembourg

5. Slovénie                            14. Canada                           23. Áo

6. Na Uy                                 15. Pháp                                24. Anh

7. Đan Mạch             16. Thụy Sỉ                            25. Ý

8. Hongrie                             17. Irlande                             26. Tây Ban Nha

9. Ba Lan                               18. Bồ đảo Nha                    27. Mỹ

Hai nước cuối cùng là 28. Hy lạp và  29. Roumanie

Nếu được xếp hạng ở đây thì Úc, Tân Tây Lan và Nhật bản sẽ vào nhóm các nước đầu bản.

Thay lời kết:

Vài dòng về hệ thống giáo dục Hà Lan, nước đứng đầu bảng (2).

Bất cứ nhà quan sát nào đến Hà Lan cũng ngạc nhiên thấy không khí cởi mở và dễ chịu ở trường học nơi xứ này.  Học sinh có vẻ thoải mái.

Bắt đầu bằng vài con số: giáo dục cưỡng bách ở Hà Lan bắt đầu từ 5 tuổi, nhưng đại đa số trường nhận trẻ sớm hơn. Đi học sớm là một bảo đảm cho thành công. Hơn nữa, chương trình học và phương pháp sư phạm ở Hà Lan được cấu trúc dựa trên nhu cầu của trò. Trẻ học trung học tới năm 16 tuổi.  Sau đó, giáo dục chỉ còn bó buộc nhiều nhất là bán thời gian. Thế có nghĩa là từ lúc đó các em có thể chọn học nghề, học mỹ thuật, ...hay tiếp tục chương trình phổ thông để vào Đại học. Phần cưỡng bách này cũng chấm dứt khi trò tròn 18 tuổi. Nhưng khoảng 30% học trò tuổi 18-19, xong trung học phổ thông, tiếp tục lên Đại học.

Về triết lý, Hà Lan không có một hệ thống trường công duy nhất. Trẻ, và cha mẹ trẻ, có rất nhiều lựa chọn: theo chương trình, theo phương pháp sư phạm, chủ đích ngành nghề,...các trường chỉ có một điểm chung: phần tối thiểu cần phải xong cho mọi trò. Có như thế thì  trường sẽ được tài trợ. Và hầu như tất cả đều nhắm sự phát triển của trẻ về thể hình, về cảm xúc và trí tuệ, giúp trẻ phát triển khả năng sáng tạo đồng thời tiếp cận vốn liếng tri thức để sống trong xã hội.

Đặc biệt, các trường ở Hà Lan rất hiện đại về những phương tiện IT mới.

Cụ thể, theo bốn tiêu chỉ mà nghiên cứu Innocenti khảo sát, ở Hà Lan, số trẻ từ 4-6 tuổi học trường mầm non đến gần100%, số trẻ của độ tuổi 15-19% còn ở Trung học là 90% và tỉ lệ NEET số trẻ từ  15-19 tuổi không có tên trong bất cứ chương trình đào tạo – trường học và tập sự nghề – hay công việc làm nào của Hà Lan chưa tới 3%. Cuối cùng, kết quả PISA 2009, Hà Lan đứng hạng 3 với điểm trung bình cho cả ba môn (đọc-hiểu, toán và khoa học) 520 điểm  (điểm tối đa là 550).

Ghi chú

(1) Le Bien Etre des enfants dans les pays riches – Sự thoải mái của trẻ ở những nước giàu. Tháng 4. 2013. Nghiên cứu này có thể tiếp cận được ở đây, báo cáo có nhiều đồ thị minh hoạ:

https://unicef.hosting.augure.com/Augure_UNICEF/r/ContenuEnLigne/Download?id=CCF925F6-23DE-45A8-B10F-7E63AD1A7B46&filename=Bilan11_Innocenti_Fr.pdf

Hocthenao đã có bài về chủ đề này:

https://hocthenao.vn/2013/06/24/tre-o-dau-song-tot-nhat-nguyen-huynh-mai/

(2)  http://eacea.ec.europa.eu/education/eurydice/documents/key_data_series/134fr_HI.pdf

https://webgate.ec.europa.eu/fpfis/mwikis/eurydice/index.php/Netherlands:Overview

 

 

 

 

 

 

Chuyên mục: Văn hoá học đường

Thời sự mấy tuần nay cho thấy việc dạy ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung, …) và cổ ngữ (tiếng Hán) đang được lãnh đạo giáo dục quan tâm và đã gây nhiều phản ứng trong dân tình.

Thí dụ vấn đề dạy tiếng Anh với đề án hơn 9000 tỹ đồng, một đề án đã đi hết hai phần ba quá trình mà kết quả rất là khiêm tốn.

Chuyên mục: Văn hoá học đường
Thứ ba, 20 Tháng 9 2016 17:04

Dạy kỹ năng?

Dạy kỹ năng không là dạy cho trẻ cách sống ở đời mà là dạy trẻ những kiến thức hữu dụng để có thể đối mặt với những tình huống khác nhau trên đời.

Chuyên mục: Văn hoá học đường
Page 1 of 6