Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Thứ tư, 21 Tháng 9 2016 07:51

Biên bản Hội đàm Thành Đô viết gì?

Cuộc gặp gỡ nội bộ lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và Việt Nam tiến hành lặng lẽ tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên trong hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990. Tham gia cuộc gặp nội bộ này phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đương nhiệm Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc Vụ Viện đương nhiệm Lý Bằng; phía Việt Nam có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Trung ương ĐCSVN Phạm Văn Đồng. Đây là cuộc gặp đầu tiên giữa các nhà lãnh đạo chủ yếu của hai đảng, hai nước sau thời gian gián đoạn 13 năm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “một trong những nguyên nhân to lớn … là nhân dân Trung Quốc và nhân dân Liên Xô đã ủng hộ chúng tôi như anh em”[1].

1. Cục diện đối đầu Đông – Tây và chính sách đối ngoại của Trung Quốc   

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ đồng minh bất đắc dĩ  Xô - Mỹ nhanh chóng tan vỡ, hai nước chuyển sang trạng thái đối đầu quyết liệt, cạnh tranh sức mạnh ở cả vũ đài trung tâm lẫn ở vùng ngoại vi. Bước ra từ Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất, có thể nói bằng tất cả các nước tư bản cộng lại. Với ưu thế về vũ khí hạt nhân, Mỹ có những kế hoạch to lớn trên con đường trở thành siêu cường có khả năng định hướng toàn cầu. Mùng 6-4-1946, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố: “Ngày nay, Hoa Kỳ là quốc gia mạnh, nghĩa là với một sức mạnh như thế, chúng ta có nghĩa vụ nắm quyền lãnh đạo thế giới”[1].Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhìn nhận hoạt động củng cố vòng cung an ninh châu Âu của Liên Xô như “sự thống trị lục địa bởi một quốc gia duy nhất và thù địch với Mỹ, có thể đe dọa đến an ninh quốc gia của Mỹ”[2]. Trên thực tế, các nước ở Trung, Đông Âu sau khi được giải phóng, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, đều đã lựa chọn con đường dân chủ nhân dân . Đó là một đảm bảo để Liên Xô củng cố địa vị của mình tại trung tâm thế giới - châu Âu; đồng thời, mở rộng ảnh hưởng ra những khu vực khác. Năm 1949, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa ra đời đã tạo nên sự thay đổi đáng kể trong cán cân lực lượng trên vũ đài quốc tế. Như thế, chính điểm tương đồng về mục tiêu chiến lược của cả Mỹ và Liên Xô đã đẩy hai nước trôi về hai cực đối lập,trở thành đối thủ không khoan nhượng, hình thành cục diện Đông – Tây với bầu không khí Chiến tranh Lạnh bao trùm toàn cầu. Trongtình thế xung đột, mâu thuẫn, Chiến tranh Triều Tiên (1950) bùng phát, nhanh chóng trở thành đỉnh cao đối đầu, nơi đọ sức quyết liệt giữa hai phe trên nền "trật tự Yalta".

Hội nghị Genève về Đông Dương năm 1954, là một diễn đàn quốc tế đa phương, do các nước lớn chi phối. Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam trong kháng chiến và trong đàm phán. Tuy nhiên, mỗi nước lại có lợi ích và tính toán riêng của mình mà chúng ta chưa hiểu hết được, cho nên việc ứng xử với hai bạn đồng minh đặc biệt là Trung Quốc không phải dễ dàng, trong đó có những quan điểm, toan tính của Trung Quốc rất đáng nghiên cứu, như nghị sỹ Mỹ William Knowland bình luận về Hiệp định Genève “Chu Ân Lai đã sẵn sàng hy sinh chiến thắng quân sự của Hồ Chí Minh để phục vụ lợi ích quốc gia mình”, nhưng với việc đánh giá đúng tình hình, Đảng ta đã xử lý linh hoạt mối quan hệ, đem lại những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao, qua đó cho Đảng ta bài học về xử lý mối quan hệ với đồng minh, nước lớn.

Thứ năm, 10 Tháng 7 2014 14:07

Hiệp định Giơnevơ - một số phận?

1.Thắng lợi...

Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương (từ đây xin gọi tắt là Hiệp định Giơnevơ) được nhiều người, trong đó có ý kiến chính thống của Đảng Lao động Việt Nam (và đến tháng 12-1976 đổi tên là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngay từ khi nó được ký kết ngày 21-7-1954 cho đến hiện nay, đánh giá theo chiều có điểm nhấn là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam, còn những hạn chế của nó là do hoàn cảnh lịch sử buộc phải thế.

Sau đây là bức thư cuối cùng của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bức thư do chính Gs Hoàng Xuân Hãn mang tay đến Tòa Đại Sứ Việt Nam tại Paris, nhờ chuyển. Trên đường về nhà,  ông đã trượt chân ngã; Vào nhà thương ít hôm sau thì mất. Là thư riêng nhưng ông gửi gắm nhiều sự quan tâm đến vận nước và quan điểm giữ nước. Xét thấy có nhiều nội dung vẫn còn tính thời sự, nhất là giai đoạn hiện nay, khi Trung Quốc đang gây hấn ở biển Đông, chúng tôi đăng lại toàn văn thư này để bạn đọc tham khảo và qua đó hiểu thêm tâm sự của bậc trí thức chân chính.

Chuyên mục: Cuộc sống quanh ta

Đó là bài báo có tựa đề "Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam" được viết khi tác giả đã 93 tuổi,đăng trên trang nhất báo Nhân Dân, ngày 19 tháng 5 năm 1999. Bài báo đề cập đến hai vấn đề có tính chất sống còn của Đảng là chống suy thoái tham nhũng và chống máy móc giáo  điều. Sau 15 năm, bây giờ đọc lại, ta thấy bài viết tâm huyết này như vừa mới được ông viết ra, các con chữ chứa đựng biết bao dằn vặt thao thức tưởng chừng chưa ráo mực.