Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Thiều chửu Nguyễn Hữu Kha: Bi kịch của một vị Bồ Tát (Phần II)

Quý độc giả theo dõi phần I tại đây

Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1954)

...

Vị Bồ Tát ấy chưa một ngày ngừng giúp người nghèo khổ, cơ nhỡ. Từ khi biết thuốc Nam, ông không hề quản ngại khó khăn đêm hôm lặn lội đi khắp nơi chữa bệnh cho bất kỳ ai gọi.

Năm 1936, ông cùng bà Cả Mọc (tức Hoàng Thị Uyển, chị ông Hoàng Đạo Thúy) đồng sáng lập Hội Tế Sinh; ông được bầu làm Tổng Thư ký Hội. Ban Trị sự toàn người sốt sắng công việc. Ngay năm sau Hội lao vào cứu giúp nạn nhân trận lụt Đinh Sửu.

Ông kể: “Chính vì chung một chí nguyện chịu khổ sở nhọc nhằn để giúp đỡ đồng bào, cả đời không ăn ngon mặc đẹp, không ai có gia đình riêng, nên chúng tôi được nhiều người tin lắm. Rất nghèo mà tiền bao nhiêu cũng có.

Năm 1937, lụt tràn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngoài việc góp sức cho cơ quan cứu tế, tôi cùng cụ Cả Mọc còn vận động đi lấy tiền lấy áo; rồi tôi cùng ông Hoàng Đạo Thúy, ông Trần Duy Hưng hàng ngày đem thuốc, tiền, quần áo đi tới từng nhà nạn nhân giúp cho đến khi họ sống được. Khắp hai huyện Quế Dương, Lang Tài, không còn sót mấy nhà mà chúng tôi không tới hàng bốn năm lượt, ròng rã ba tháng như thế cho đến lúc lúa chín”.

Sau đợt ấy, Hội trưởng Hội Phật Giáo hai lần bảo ông khai thành tích để làm sớ xin vua Bảo Đại ban phẩm hàm, nhưng ông trả lời: “Tôi chỉ thích làm người bạch đinh thôi... Nếu cứ ép tôi xin phẩm hàm, tôi sẽ lên rừng ở[6].

Thời gian xảy ra nạn đói đầu năm 1945, chiều nào ông và các đồng chí cũng nấu cơm nắm vài trăm nắm nhờ anh em Hướng đạo sinh đạp xe đem đi dúi vào tay từng người ăn xin dọc đường. Tối tối ông đốt lửa ở sân chùa Quán Sứ cho họ đến sưởi. Khi người đói nhiều quá, ông nấu cháo phát chẩn; trong 93 ngày liền nấu hết 3 tấn gạo, phát được 38.600 bữa cháo. Khi người chết đầy đường, ông cùng anh em suốt ngày đi khuân xác về chôn, đổ đồng mỗi ngày ông chôn 15 xác cho tới khi chật hết hai sào đất ở Am Tế Độ, mùi hôi thối nồng nặc khiến ông bị ốm suýt chết...

Có lẽ vì biết ông có tâm và có tài tổ chức cứu tế mà Hồ Chủ Tịch từng mời ông làm Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong Chính phủ Cách mạng lâm thời 1945, nhưng ông khước từ với lý do để tiếp tục làm Phật sự. Sau đó, khi lại được mời làm Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, ông cũng xin kiếu. [10]

Thiều Chửu suốt đời lo việc dạy học cho đồng bào. Hồi làm ở hiệu thuốc Ngã Tư Sở, hàng tuần ông dành ba buổi tối đến chùa Sở (nay gọi là chùa Phúc Khánh) dạy các nhà sư học chữ Hán. Thời gian ở hiệu sách Hòa Ký và nhà in Đuốc Tuệ, tối nào ông cũng dạy chữ Hán, Quốc ngữ, cách trí, sử ký, địa dư cho đồng nghiệp.

Năm 1938, ông cùng học giả Nguyễn Văn Tố và mấy người nữa đồng sáng lập Hội Truyền Bá Quốc Ngữ và hăng say làm mọi việc Hội phân công. Hồi tản cư kháng chiến, tới đâu ông cũng mở trường dạy chữ cho trẻ em và người lớn; bà con Phúc Yên, Thái Nguyên ngày ấy đều biết tiếng ông.

***

Thiều Chửu rất quan tâm giảng dạy triết lý Phật học cho mọi người. Một số học trò ông sau trở thành những vị chân tu uy tín cao như HT Thích Tâm Tịch Pháp chủ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, nhà sư Trần Việt Quang sau là đại tá quân đội, Ni sư Đàm Ánh một nhà từ thiện có tiếng.

Phật học là một hệ thống triết lý - tín ngưỡng đồ sộ nhằm tìm con đường giải thoát nhân loại khỏi mối quan tâm cuối cùng - cái chết.

Người ta thường nghĩ các tôn giáo đều có tính chất thần bí, không hợp với khoa học. Lạ thay, ngay từ năm 1946, Thiều Chửu từng khẳng định học thuật của nhà Phật có giá trị như khoa học mà lại còn hơn thế nữa.

Ông nghiệm ra điều đó từ chỗ thấy Phật Tổ chưa bao giờ thần bí suy tôn một đấng tối cao sáng tạo ra vũ trụ và có khả năng giải thích mọi sự vật. Ông dự đoán: Khi khoa học phát triển cao, “các tôn giáo có lập trường thần bí tất sẽ bị đào thải. Thế giới ngày nay không ai không tin khoa học... Lập trường của Phật Giáo trăm phần trăm đúng với cái đích của nhân loại tiến hóa tột bực sẽ tới, lẽ tự nhiên Phật Giáo sẽ không bị đào thải, trái lại càng rực rỡ quang vinh” [9].

Có lẽ Thiều Chửu là một trong số rất ít người cùng thời ngày ấy hiểu được rằng đạo Phật có bản chất khoa học. Nhà bác học Einstein cũng nói đạo Phật không trái với khoa học, vì thế có thể đóng vai trò “một tôn giáo vũ trụ (a cosmic religion) và nó bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học (It embraces science as well as goes beyond science)”. Einstein còn nói: “Đạo Phật bắt đầu tại nơi khoa học kết thúc (Buddhism begins where Science ends)” [11].

Nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận nhận xét: “Đạo Phật không hề nói về một Thượng Đế cá nhân, Đức Phật chưa bao giờ gán cho mình bản thể thần thánh” [12].

Qua đây ta hiểu vì sao Thiều Chửu lại tin đạo Phật đến thế và kịch liệt chống hoạt động mê tín dị đoan của một số tăng sĩ đến thế.

Mặt khác Thiều Chửu lại nhận xét: trong thực tế, vì các Phật Tử ngày nay làm sai hẳn nguyên tắc của Phật nên đạo Phật “nhất định sẽ bị đào thải nếu ta không mau trở lại cái bản lai diện mục [bộ mặt vốn có] của Phật Giáo”.

Ông chủ trương hoạt động tín ngưỡng là ở trong tâm mỗi người chứ không nhất thiết phải vào chùa tu hành. Một vài quan điểm của ông thật sự cấp tiến, như chủ trương trả lại chùa cho dân làm trường học, thư viện, nhà dưỡng lão; Tăng sĩ phải lao động tự nuôi mình…

Đặc biệt, tư tưởng Phật Giáo Nhân Dân của ông rất đáng để nghiên cứu, áp dụng. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: 

Thiều Chửu theo đạo Phật với động cơ vì dân; ông viết bằng chữ hoa câu “Phải tận hiếu với nhân dân. Nhân dân là cha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai” ngay trang đầu sách “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX”; ông coi nhân dân là lực lượng duy nhất có thể cải tạo thứ Phật Giáo đã bị tha hóa, và họ chỉ có thể làm được việc đó khi Tăng sĩ trả chùa cho dânNgày nay nhìn lại, thật đáng kinh ngạc về tư tưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến dường ấy của ông về nhân dân. Đó là một tư tưởng xã hội có tầm cao rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm... Tính thời sự của nó hầu như vẫn còn nguyên”.

Học giả Vũ Khiêu đánh giá Thiều Chửu là con người chân chính, nhà trí thức lớn của dân tộc, và kính tặng đôi câu đối tự tay viết: “Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể; Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời”.

Nhà Hán học Vũ Tuấn Sán nhận định Thiều Chửu “là một hiện tượng khá đặc biệt trong giới trí thức ở thế kỷ XX, một người sống cuộc đời thanh cao, hoàn toàn vì lý tưởng”.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn (Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam) viết “Thiều Chửu là nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX”.

Đại đức Thích Đồng Bổn ca ngợi ông là “bậc Nho sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ, rạng danh Tiết sĩ” [2].

Sách “Tiểu sử danh tăng Việt Namthế kỷ XX” tập I viết: Thiều Chửu là “một Phật Tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng cư sĩ trong đạo Phật có công lớn trong lịch sử chấn hưng Phật Giáo miền Bắc”.

***

Cuộc đời Thiều Chửu - Nguyễn Hữu Kha rẽ ngoặt kể từ khi nơi ông tạm trú là ấp Đồng Tâm, xã Đồng Liên, huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên bắt đầu phát động phong trào Cải cách ruộng đất (CCRĐ). Đây là một cuộc đấu tranh giai cấp long trời lở đất chưa từng thấy ở nước ta, có sự chỉ đạo của các cố vấn Trung Quốc theo đường lối giáo điều không thích hợp với tình hình Việt Nam.

Đầu năm 1953, cán bộ Đội CCRĐ về ấp Đồng Tâm “phóng tay” phát động nông dân đấu tranh đánh đổ uy quyền của địa chủ, đòi giảm tô rồi trả lại ruộng. Cán bộ Đội ít kinh nghiệm và đều là người ở nơi khác đến, không nắm được tình hình địa phương. Nông dân thì bảo sao nghe vậy, dễ bị xúi giục, và khi đã được kích động họ vùng lên với một sức mạnh vô biên nhiều khi mất phương hướng. Lại thêm từ lâu bọn địa chủ giảo quyệt đã chui vào chính quyền địa phương nắm quyền lãnh đạo, phá hoại CCRĐ từ bên trong. Không khí đấu tranh nóng hừng hực, đời sống vùng quê đang yên lành bỗng rối tung lên vì người ta đấu tố lẫn nhau; trắng đen, thật giả lẫn lộn. Cuối cùng Thiều Chửu bị vu khống là địa chủ! Đội CCRĐ sai lầm nghe theo luận điệu đó và quy thành phần ông là địa chủ.    

Ngày 16 tháng 6 năm 1954, Đội gọi ông lên. Cán bộ Đội “xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho tôi đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là chưa phải quỳ thôi” “Tôi không được cãi, vì cãi cũng vô ích, nói vài câu là bị cắt; ai nghe theo lẽ phải nữa mà nói.”- ông kể lại.

Vô cùng oan ức mà không được thanh minh, ông tâm sự: “Tôi toan tự tử ngay tối 16, nhưng nghĩ tới Hồ Chủ tịch sáng như mặt trời, vả lại tôi thật sự không có tội, tự hỏi lương tâm không thấy hổ thẹn nên tôi phải gượng sống để đợi ngày sáng tỏ. Đối với tôi, sự chết không có giá trị như người khác nên muốn chết lúc nào cũng được. Nhưng… thực ra sống oan uổng như tôi thì thường tình mấy ai nhẫn nổi”. [6]

Rốt cuộc chính ông cũng không chịu đựng được nữa. Rạng sáng ngày 15 tháng 7 năm 1954 tức 16 tháng 6 Giáp Ngọ (12 ngày trước hôm ký Hiệp định Đình chiến Geneva), Thiểu Chửu - Nguyễn Hữu Kha bí mật tự giải thoát đời mình trên sông Cầu, chỗ đập Thác Huống. Là người cực kỳ hiếu thảo, ông chọn ngày ra đi đúng một ngày sau giỗ thân phụ mình là cụ Cử Cầu. Các học trò ông tìm thấy trên bờ sông còn lưu lại hương hoa ông làm lễ bái lạy vĩnh biệt Tổ quốc, nhân dân và tổ tiên trước khi lao mình xuống dòng nước.

Cái chết “Thiên cổ kỳ oan”, vì nước vì dân, không oán hận, không cầu minh oan, chỉ có Bồ Tát mới làm được ấy" (lời thiền sư Lê Mạnh Thát) [2] đã gây ra sự chấn động kinh hoàng và nỗi tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật Tử cả nước, khiến Đội CCRĐ không thể không rút kinh nghiệm.

Ba ngày sau, Đội sửa sai bằng cách hạ thành phần ông xuống trung nông. Nhưng ở cái thời kỳ ngạt thở “Nhất Đội nhì Trời”, vụ tự vẫn bi thảm đó đã bị một số người lợi dụng để phủ bóng đen lên quá khứ sáng ngời của Thiều Chửu. Nhiều năm sau không ai dám nhắc đến ông nữa. Cuối thập niên 60, bài vị và ảnh của ông trong chùa Quán Sứ bỗng dưng biến mất. Một số quan chức xưa kia từng cùng ông hoạt động trong Hội Tế Sinh, Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hội Phật giáo Bắc kỳ, ngay cả một thầy giáo được ông thuê dạy học các em Tế Sinh liền nhiều năm trời… đều phủ nhận sạch trơn mối quan hệ với ông. Cho tới đầu thế kỷ XXI vẫn có người thân còn ngại việc minh oan cho ông sẽ ảnh hưởng xấu tới tiền đồ con cháu họ! Thật khó hiểu vì sao con người trở nên sợ hãi đến thế?

Ni sư Đàm Ánh kể: Thiều Chửu có dặn đừng vớt xác ông, để ông trở về với biển cả, nhưng các hậu duệ và học trò ông không làm thế. Sau hòa bình lập lại, họ trân trọng rước hài cốt ông về Hà Nội an táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước, số mộ 170-C3. (Đáng tiếc là mới đây hậu duệ người có ngôi mộ bên cạnh, khi xây lại mộ đã trắng trợn lấn sang phần mộ của ông).

Tháng 6 năm 2002, các hậu duệ ông cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học Công nghệ) đã tổ chức “Sinh hoạt lịch sử tưởng niệm 100 năm sinh nhà văn hóa Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha” tại Nhà Thái Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Ngót hai trăm người đến dự, trong đó có nhiều học giả nổi tiếng, tăng ni, hậu duệ, bà con quê ông. Tất cả các phát biểu đều ca ngợi ông là nhà văn hóa lớn của nước ta.

Trước khi về với tổ tiên, Thiều Chửu thức trắng đêm viết bản Tự BạchThư tuyệt mệnh gửi Hồ Chủ tịch, Thư căn dặn các học trò phấn đấu theo Kháng chiến chống Pháp đến cùng. Ông kết thúc bản Tự Bạch bằng một câu thể hiện nỗi lòng cực kỳ đau xót và tuyệt vọng của một người từng vì quá cả tin mà nay đã mất hết niềm tin vào cuộc sống:

Cái án [mạc tu hữu, ông viết bằng chữ Nho, tức có lẽ có] mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”.

Tiếng kêu thống thiết đứt ruột đứt gan ấy là lời lên án sâu sắc tư tưởng Mao-it mà cách mạng Việt Nam hồi ấy không may bị ép nhiễm phải: Cuộc cách mạng ruộng đất do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo đã sai lầm phục hồi hệ tư tưởng phong kiến từng bị nhân dân ta lật đổ. Mao-it chính là tư tưởng phong kiến thối nát khoác cái áo gấm chủ nghĩa Mác-Lê.   

Dường như những người thực lòng tu theo trường phái Phật giáo Nhân gian do Đại sư Thái Hư (, 1889-1947, Trung Quốc) đề xướng đều có kết cục bi kịch. Nếu sống đến ngày nay có lẽ họ sẽ còn tuyệt vọng hơn khi thấy Phật giáo nước nhà có nơi suy đồi tới mức để mất cả tính tôn nghiêm thiêng liêng nhất thiết phải có của một triết l ý- tôn giáo vĩ đại.

 “Trong số những tâm hồn tu nhân thế, tu nhân gian, có không ít người về sau đã tuyệt vọng vì đã quá gần nhân thế. Thiều Chửu đã trải qua những giờ khắc thơ mộng, nhiệt thành và đắng cay như vậy. Đời Ngài đầy đủ những đức tính cao đẹp. Ngài chỉ có một nhược điểm là quá lãng mạn, quá trong trắng, quá thơ mộng… Tận cùng con đường người như thế chỉ là sự Tuyệt vọng.” - nhà văn Phạm Toàn nhận xét về sự ra đi của ông [2].

Thiều Chửu quả là quá trong sạch, ngây thơ chính trị, chưa hiểu quy luật tàn nhẫn của đấu tranh giai cấp. Tự Bạch cùng Thư Tuyệt mệnh ông để lại nhờ Đội CCRĐ chuyển tới Hồ Chủ tịch sau đó đã biến mất, không bao giờ đến tay người nhận. May sao trước khi nộp văn bản ấy cho Đội, các học trò ông đã thức đêm chia nhau mỗi người chép một đoạn vào một cuốn vở học trò nhỏ xíu và giấu biến đi. Một học trò là Vũ Thế Vinh có làm hai câu thơ viếng thầy như sau:

Liễu ngộ chân như, ngon giấc nghìn năm dòng Tịnh Thủy,

Điểm chuông cảnh giác, nương mình muôn thủa Vệ Linh Sơn.

Ở đây liễu ngộ là hiểu rõ ngọn nguồn; chân như là thực tại khách quan; Tịnh Thủy và Vệ Linh Sơn là tên con sông Thiều Chửu gieo mình và tên quả núi gần chỗ đoàn Tế Sinh đóng trại; cả hai tên đều đã thi vị hóa.

Đạo Phật cho rằng đời người là bể khổ. Cư sĩ Thiều Chửu từng cứu được nhiềungười thoát khổ nhưng ông lại không cứu được chính mình. Tuy đã tu tới mức siêu thoát nhưng vì lòng thương người quá ư sâu sắc, mãnh liệt, ông vẫn ở lại cùng chúng sinh với ảo tưởng có thể mượn cuộc cách mạng ruộng đất long trời lở đất này để giải thoát họ. Rốt cuộc ông lại bị những sai lầm của cuộc cách mạng ấy làm hại. Bi kịch của Thiều Chửu xảy ra chỉ vì ông có tấm lòng của một vị Bồ Tát.

Ghi chú:

[2] Nguyễn Đại Đồng: Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2008.

[6] Tự Bạch của Thiều Chửu (bản chép tay năm 1954).

[9] Thiều Chửu: Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2002. 

[10] Lời ông Vũ Thế Khôi (trưởng nam ông Vũ Đình Hòe, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên) ở Tọa đàm về ĐKNT và Cải cách giáo dục hiện naytại Hà Nội ngày 20/9/2012.  

[11] Collected famous quotes from A. Einstein.(trên mạng).  

[12] Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, Tạp chí Tia Sáng và Nxb Trẻ, 2001.

 

Nguyễn Hải Hoành