Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Tìm hiểu về hình ảnh cầu kiều trong câu ca dao

 

Từ khi được “lên chức” bố, tôi thường hay được nghe vợ và mẹ hát ru con, ru cháu bài ca dao:

Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo

Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy
.

Hai câu thơ lục bát cuối của bài ca dao trên có lẽ là câu ca dao nổi tiếng nhất của Việt Nam, nổi tiếng vì ai cũng đã từng nghe từ hồi còn đi học trên ghế nhà trường, thường được nhắc lại nhiều nhất vào dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11. Về ý nghĩa, ai cũng hiểu câu ca dao nhắc nhở học trò phải biết tôn sư trọng đạo, biết yêu quý, kính trọng thầy cô giáo - một nét đẹp truyền thống trong văn hóa của người Việt từ xa xưa. Nhưng nếu có ai hỏi chi tiết hơn, cầu kiều là cầu gì, như thế nào thì không phải ai cũng đủ hiểu biết để trả lời. Tôi đã từng lúng túng khi một em bé hỏi như vậy, đành phải chống chế  “cháu cứ tìm hiểu đi, để mai chú trả lời nhé” nhưng… mai dài hơn thuổng. Câu hỏi đó cách đây đã lâu, cháu bé ngày nào đã tìm ra câu trả lời, hay đã quên đi thắc mắc đó, cũng như có còn nhớ tôi còn nợ cháu một câu trả lời? Với một người bình thường cũng nên tìm hiểu huống hồ nếu bạn là một nhà giáo.

Đem thắc mắc này hỏi một số người hay chữ, có kiến thức sâu về tiếng Việt tôi đã phần nào giải đáp được thắc mắc của mình. Thì ra hiện nay “cầu kiều” vẫn tồn tại nhiều cách hiểu.

Theo PGS TS Phạm Văn Tình (Tổng Thư kí Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) thì mục từ “cầu kiều” chưa có trong từ điển tiếng Việt.

Theo ông Hoàng Tuấn Công, tác giả cuốn Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân - Phê bình và Khảo cứu thì cầu kiều trong câu ca dao trên là gọi tắt của  “thượng gia hạ kiều”- một cấu trúc cầu có phía trên là nhà, phía dưới là cầu, thường gặp nhất ở các tỉnh Bắc Bộ. Cầu thường là nơi nối liền đôi bờ giữa khung cảnh có cây cao, bóng cả, lòng sông vừa phải, thuận tiện thi công vòm trụ, mái cầu giúp người bộ hành khi vào cầu có thể trú mưa, tránh nắng, an toàn như mái nhà của mình. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan được cho là người tạo nên kiến trúc cầu này. Ví dụ tiêu biểu cho loại câu này là chùa Cầu ở Hội An (Quảng Nam), cầu ngói Nam Định. Trong câu dưới, “sang” được hiểu là “sang trọng” . “Sang” ở câu sáu và “hay” ở câu tám đều là tính từ, có tính chất đối nhau. Ông cũng cho biết thêm hai câu thơ đầu và sau của bài ca dao chỉ là gán ghép, không liên quan tới nhau.

Theo ông Trần Trọng Dương, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, từng giải đáp thắc mắc cho chuyên mục Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên Đài Tiếng nói Việt Nam thì kết cấu "cầu kiều" là đẳng lập, là cách các cụ dùng cho chữ nghĩa sang trọng. Vả lại, ở đây, viết thế cho dễ ... bắt vần với chữ "yêu" ở dưới. Chữ “sang” có thể là chơi chữ nước đôi, tức có thể hiểu là tính từ “sang trọng” hay động từ  “đi sang”.

Tác giả Nguyễn Thị Bích An, giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh, một người rất quan tâm tới Tiếng Việt, từng là Quản trị viên ở mục Tiếng Việt của chúng ta trên Trường Xưa, trong bài viết “Về cách hiểu một câu ca dao” cho rằng: “Trong tiếng Việt cổ có một từ kiều dùng để chỉ cái yên ngựa. Ca dao còn nhiều câu ghi lại từ kiều với nghĩa là cái yên ngựa: Sông sâu ngựa lội ngập kiều/Dẫu anh có phụ còn nhiều nơi thương, hay: Ngựa ô anh thắng kiều vàng/Anh tra khớp bạc đón nàng về dinh.

Còn trong tiếng Hán, cành cây cao và cong cũng được gọi là kiều.

Như vậy, cầu kiều là loại cầu hình cong như cái yên ngựa. Người ta coi đây là một loại cầu đẹp và sang trọng bởi trước đây chỉ có các nhà quyền quý, giàu sang mới có hồ sen trong vườn, giữa hồ có lầu ngồi hóng mát, ngâm thơ. Để đi ra lầu, họ thường xây một chiếc cầu cong như hình cái yên ngựa. Cây cầu ấy gọi là cầu kiều, việc tồn tại của cầu kiều trong vườn nhà như là một biểu tượng, một minh chứng về sự giàu sang, quyền quý với những thú vui tao nhã. Và như thế, câu này phải được hiểu theo nghĩa: Muốn được coi là sang (trọng) thì hãy bắc cầu kiều, còn muốn con giỏi giang, tiến tới thì phải biết quý trọng người thầy. Cũng cần phải nói thêm là ở câu ca dao này, lượng thông tin chủ yếu tập trung ở câu thứ hai, vì thế nên nếu câu thứ nhất có được hiểu chưa chính xác thì cũng không làm sai lệch nội dung của toàn bài.”

Theo Giáo sư Trần Lâm Phát: “Có người cho rằng cầu kiều lấy từ điển tích trong thời Tam Quốc (220-264). Tào Tháo ra lịnh xây đài trên bờ sông Chương ở quận Nghiệp (nay thuộc huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam) để dưỡng tuổi già. Trong lúc đào móng, thợ bắt gặp một con chim sẻ bằng đồng nên Tào Tháo đặt tên đài là “Đồng Tước”. Đồng Tước gồm một đài chính và 2 đài phụ ở phía tây và phía đông gọi là Ngọc Long và Kim Phượng. Đài chính và 2 đài phụ được nối với nhau bằng 2 cây cầu vòng cung rất nguy nga tráng lệ… Giả thuyết này cũng không có gì chắc chắn vì không ai rỏ thời điểm xuất hiện hai câu ca dao. Có thể câu ca dao ra đời trước thời Tam quốc vì dân ta chịu ảnh hưởng sự giáo dục của Khổng Tử (551-479 trước Tây lịch) từ lâu đời”. Ông cho rằng  “chữ kiều (喬)là cao mà cong là hợp tình hợp lý”.

Ngoài ra tôi cũng được biết thêm, cầu kiều là tên một loại cầu gồm một đoạn tre, một đầu gác lên bờ, một  đầu được buộc vào đầu một sợi dây thừng, đầu trên của sợi dây được cố định tại điểm nối giữa ba cái cọc tre. Đi cầu kiều là một trò chơi dân gian phổ biến ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, hiện nay một số địa phương còn giữ được trò chơi này như tại Hưng Yên có: Lễ hội văn hóa vùng Phố Hiến, hội đền Tống Trân, hội làng Xuôi (huyện Tiên Lữ), Cẩm Quan (huyện Mỹ Hào), hội làng Đại Từ, Lộng Thượng (huyện Văn Lâm); tại Quảng Ninh có Lễ hội truyền thống đền An Sinh (thị xã Đông Triều); tại Hà Nam có Hội đình làng Đồng Lư Trung (Lý Nhân); tại Nghệ An có Lễ hội Đền Đức Hoàng (huyện Yên Thành); tại Hà Nội có Lễ hội truyền thống thôn Phù Xá (huyện Sóc Sơn)… Nhưng có lẽ cầu này để bắc cho vui chứ không phải bắc cho “sang” vì mục đích làm cầu là để thử tài khéo léo của người đi cầu, phần đông người chơi không đi được đến cuối cầu để lấy phần thưởng, bị ngã xuống nước làm người xem được những trận cười vui vẻ.

   Trò chơi đi cầu kiều

 Trên đây là một vài cách hiểu “cầu kiều” của người thời nay.

 Theo tác giả Nguyễn Hùng Vĩ, một người nghiên cứu văn học dân gian, thì khoảng trước năm 1995, trên Tạp chí Nguồn sáng của Hội Văn hóa dân gian Việt Nam đã có một cuộc trao đổi về hai câu ca dao này với nhiều ý kiến khác nhau.   

  Về dị bản, các tác giả sưu tầm và biên soạn bộ Kho tàng ca dao người Việt (Bản in 2001) do Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên, cho người đọc những chỉ dẫn về các dị bản của tác phẩm này từ cuối thế kỉ XVIII đến 1975 trên 14 tài liệu Hán, Nôm, Quốc ngữ khác nhau. Ta có thể tóm tắt trong bảng:

 

Dị bản

Văn bản

Số tài liệu chép

Âm tiết
 có dị bản

 Nôm

 Năm
 xuất bản (cổ nhất)

Quốc ngữ

 Năm
 xuất bản

Dị bản 1

Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

10

Cuối XVIII, bổ sung 1827, bản in 1910 (có diễn thành thơ chữ Hán)

1

1928

cầu
con-thì-lấy

Dị bản 2

Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu mến thầy

-

-

1

1949

cầu
con-phải-mến

Dị bản 3

Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lòng thầy

-

-

1

khoảng
1950

cầu
con-phải-lòng

Dị bản 4

Muốn sang thì bắc phù kiều
Muốn cho hay chữ phải yêu mến thầy

-

-

1

1970

phù
cho-phải-mến

 

          Trong đó dị bản Nôm cổ nhất là tác phẩm Nam phong giải trào - một công trình sưu tập ca dao được nhiều nhà nghiên cứu xem là xưa nhất -của tác giả Trần Danh Án(1754-1794).Các bản Nôm thường sưu tầm độc lập với nhau, bởi vậy, tính phổ biến trong dân gian càng được chứng thực. Đây là lí do mà các tác giả biên soạn Kho tàng ca dao người Việt coi Dị bản 1 là bản đại diện. Các bản khác là phái sinh muộn, được ghi trong thời hiện đại, mang dấu ấn sửa sang gần đây hơn của người làm sách.

         Về vấn đề dị nghĩa, hiện nay có hai cách hiểu chính:

Cầu kiều

Chú thích

Sang

Chú thích

Cái cầu
(nói chung)

- Kết hợp Việt + Hán Việt là rất thường thấy như: đỏ hồng, trắng bạch, cột trụ, thỉnh mời, áo xiêm, xương cốt…Đó là hai chữ đồng nghĩa kết lại với nhau để chỉ cái cầu.
- Trong nhiều bản nôm, các cụ ghi chữ kiều đều có bộ mộc, nghĩa là cái cầu chứ không phải là đẹp.

Đi qua,
vượt qua

-  Chữ "sang" trong Nam phong giải trào được ghi với bộ quai xước để chỉ hành động đi qua, vượt qua.
- Trong Nam phong giải trào, ở phần dịch sang Thi, câu Muốn sang thì bắc cầu kiều được các cụ dịch là Dục hà khả độ, giá kiều vi lộ, nghĩa là: Muốn có thể qua sông thì bắc cầu mà làm đường.

Cầu đẹp,

Cầu cao và cong

Kết hợp cầu + kiều là bất hợp lí vì một chữ là tiếng Việt, một chữ là Hán Việt không thể kết hợp với nhau.

Sang quí,
 sang trọng

 "Sang" là tính từ đối với "kiều" (đẹp, cao, cong).

 

         Cả hai câu Muốn sang thì bắc cầu kiều/Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy trong Nam phong giải trào, được dịch sang chữ Hán thành một bài là:

    Dục hà khả độ                                                  

    Giá kiều vi lộ

    Dục tử khả ngộ                                                                       

    Duy sư chi mộ.

        Dịch nghĩa: Muốn có thể qua sông thì bắc cầu mà làm đường, muốn con có thể hay biết thì nên ái mộ thầy. Đó là cách hiểu của các cụ đã thể hiện trên văn bản cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX.

       Như vậy ta có thể hiểu, từ khi câu ca dao được văn bản hóa từ cuối thế kỷ XVIII đến nay đã có nhiều dị bản cả về văn bản và ý nghĩa. Đó là dấu hiệu bình thường của một sinh ngữ như tiếng Việt, nó cho thấy tiếng Việt thật phong phú và đa dạng./.

Tổng hợp từ các nguồn:

  1. Muốn sang thì bắc cầu kiều, tác giả Nguyễn Hùng Vĩ, Báo điện tử Người đưa tin, Hà Nội ngày 25 tháng 10 năm 2015 (Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội dẫn lại, 30 tháng 12 năm 2015, Cập nhật lần cuối 18 tháng 1 năm 2016).
  2. Cầu kiều, Trần Lâm Phát (http://www.nghiasinh.org).
  3. Về cách hiểu một câu ca dao, Nguyễn Thị Bích An (Tiếng Việt của chúng ta, Trường xưa)
  4. Wikipedia Tiếng Việt.
  5. https://cadao.me
  6. Các nguồn khác