Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Trước một tượng đài bất hủ về tinh thần của dân tộc

Lời Tòa Soạn: Giáo sư Nguyễn Khắc Philà một chuyên gia hàng đầu về văn học Trung Quốcở Việt Nam” (Gs. Trần đình Sử), từng là Tổng biên tập Nxb Giáo dục và Tổng chủ biên bộ Sách giáo khoa Ngữ văn cấp THCS. Mới đây, khi dấy lên tranh luận giữa những ý kiến khác nhau trên một số tờ báo điện tử và mạng xã hội quanh việc chọn và sử dụng bản dịch bài thơ Nam quốc sơn hà (NQSH) trong sách giáo khoa “Ngữ văn 7” tập Một, Gs. Nguyễn Khắc Phi đã có các bài trả lời trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam(bđt ĐCSVN) và một số báo, đài, giải đáp mấy vấn đề cốt lõi mà bạn đọc quan tâm về những tranh luận học thuật đó. Tuy nhiên vẫn còn nhiều người muốn tiếp tục nêu câu hỏi và ý kiến khác về tác phẩm có tầm quan trọng đặc biệt này. Bởi vậy chúng tôi đã mời Gs. Nguyễn Khắc Phi tóm lược trong một thảo luận tổng quát về đợt trao đổi này cũng như đề xuất một số việc cần làm.

Có thể nói trọng điểm của đợt trao đổi này là việc đánh giá cái gọi là bản dịch “cũ” mà không ít người cho là hoặc khẳng định dứt khoát là của nhà sử học Trần Trọng Kim, và cái gọi là bản dịch “mới” của 2 nhà Hán học nổi tiếng Lê Thước và Nam Trân đang được sử dụng trong SGK hiện hành cùng với bản dịch của Ngô Linh Ngọc. Tôi đặt chữ mới trong dấu ngoặc kép là vì cách gọi các bản dịch  của không ít bạn đọc như “cũ”, “mới” “dịch đi”, “dịch lại”…đều không chính xác.  Vấn đề trở nên to chuyện là do nhiều người cho rằng bản dịch “mới” đọc nghe “ngang phè, chối tai”, “phá vỡ công thức  thơ Đường luật”, có những câu chữ dịch sai, không thể hiện được tính chất đanh thép, hào khí vốn có của nguyên bản chữ Hán,… còn bản dịch “cũ” thì nghe vừa “êm tai”, vừa thể hiện được khí thế hào hùng, đặc biệt là đã đi vào tâm khảm của bao thế hệ. Từ chuyện so sánh 2 bản dịch, chủ đề so sánh tất yếu dẫn tới những vấn đề hữu quan, đặc biệt là xuất xứ tác phẩm, tác giả của bài thơ và nguyên bản chữ Hán được chọn lựa để dịch ra tiếng Việt…

Xét về số lượng thì rõ ràng là người “bỏ phiếu” cho bản dịch “cũ” nhiều hơn, song trong khoa học, lịch sử cũng như kinh nghiệm cá nhân cho thấy, chân lí bao giờ cũng là khách quan, có sức mạnh tự tại của nó, không lệ thuộc vào ý kiến  của “trên - dưới”, “đa số - thiểu số”, “nội hàng - ngoại hàng” (trong lĩnh vực chuyên môn hay ngoài). Với quan niệm như vậy, chúng tôi lắng nghe tất cả mọi ý kiến nhận xét, khẳng định hoặc phê phán với tất cả sắc thái tình cảm khác nhau, từ một “comment” rất kì cục xuất hiện ngày 23 -11 của ai đó dưới một bài báo nghiêm túc của một tờ báo có uy tín như “ 4 câu thơ (của bản dịch “cũ”) nó đi vào xương máu của dân tộc rồi…hôm nay thay đổi bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt Nam xưa…ngày mai rồi sẽ làm cái gì nữa”- cho đến  ý kiến của vị đại biểu Quốc hội đồng hương với Nam Trân khẳng định như đinh đóng cột rằng tác giả của bản dịch “cũ” là của “nhà sử học Trần Trọng Kim” và đề nghị dùng bản dịch “cũ” thay thế cho bản dịch đang sử dụng trong SGK… Phải nhìn nhận một sự thực là hầu hết những ý kiến phê phán bản dịch “mới” đều nặng về phát biểu những cảm nghĩ có tính chất chủ quan, đôi khi tuỳ tiện như ý kiến đã dẫn, mà hầu như không đưa ra được một chứng li nào có tính chất thuyết phục, trong khi những ý kiến - dù là thiểu số - khẳng định vẫn nên tiếp tục dùng bản dịch “mới” trong SGK vì có nhiều ưu điểm, đa số là của những giáo viên giỏi, những nhà phiên dịch, các nhà nghiên cứu, các PGs và Gs, với những lập luận chứng cứ khó bề bác bỏ . Không phải là họ không thấy chỗ chưa thật hoàn thiện của bản dịch “mới” nhưng trong điều kiện hiện tại, lúc việc thay SGK mới đã cận kề, đó là bản dịch có thể chấp nhận.

Trong đợt trao đổi này, 2 bài báo mà tôi thích nhất là bài của Gs. Ts. Trần Ngọc Vương bàn về từ “vằng vặc”, về việc dùng vần trắc ở bản dịch “mới” và đặc biệt là bài Về bài Nam quốc sơn hà” của anh Thừu Châu đăng trên báo Văn nghệ số 47 ra ngày 21 - 11 - 2015 bàn về các từ “phân định” và “định phận”. Ỏ đây, bên cạnh việc bày tỏ sự cảm ơn đối với anh Thừu Châu, tôi xin làm rõ thêm một số điều, để bạn đọc thấy cụ thể hơn tính phức tạp của việc làm SGK. Trước hết xin thưa với anh Thừu Châu rằng việc đảo một chữ của Đại Việt Sử kí toàn thư (ĐVSKTT) đương nhiên là SGK theo bức tranh sơn mài treo ở Viện Bảo tàng Lịch sử, vì ngay trong SGK thí điểm, chúng tôi đã cho in bức tranh này. Việc chọn bản dịch, các tác giả SGK mới chỉ đưa bản dịch khác, mà như anh thấy, đã bị phê phán như thế! Chọn nguyên bản chữ Hán, lại bị nhiều ràng buộc hơn, vì với một văn bản được trình bày trang trọng như vậy ở một Viện bảo tàng chuyên ngành lớn ở cấp trung ương có tiếng nói quyền uy như vậy, không dễ gì làm trái, nhất lại là việc đưa vào SGK. Tôi và Gs. NGND Nguyễn Đình Chú, người viết trực tiếp bài NQSH, đã không ít lần trao đổi về vấn đề này. Tại sao người ta lại đảo chữ của ĐVSKTT? Càng tìm hiểu, người viết SGK lại càng thấy vấn đề phức tạp vì có thể nói toàn bộ những người đã dich bài thơ này hoặc có ghi chép mà không dịch, từ Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim, Lê Thước, Phan Huy Lê, Bùi Văn Nguyên…cho đến Từ điển văn học Bộ mới, Từ điển Bách khoa Việt Nam…, đều theo dị bản “định phận” mà không phải là “phân định” hay “phận định”. Ngay cố PGs. Bùi Duy Tân, người có một khả năng khảo cứu tuyệt vời và một thái độ không khoan nhượng về học thuật, cũng đã đề xuất ván đề này nhưng rồi cuối cùng cũng đành đề nghị tạm chấp nhận phương án “định phận” vì “đã dùng quen”! Cái “noạ lực” của tập quán ghê gớm thế đấy!

 Bên cạnh 2 bài nói trên, tôi cũng rất thích bài của NCS Phạm Hiệp ở Đại học Văn hoá Trung Hoa – Đài Loan (Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 11- 11- 2015). Anh Hiệp hầu như hoàn toàn chia sẻ với những giải thích và quan niệm của chúng tôi như không nên ngộ nhận bản dịch”cũ” là Tuyên ngôn Độc lập, bản dịch đang dùng trong SGK là “mới” vì thực tế đã được công bố gần 40 năm trước, chữ “định phận” được giữ nguyên trong bản dịch “cũ” có thể gây nhiễu vì tạo ra một trường nghĩa mù mờ, đặc biệt là hoan nghênh việc chúng tôi bên cạnh việc cung cấp bản dịch “mới”, còn cung cấp 2 bản dịch nữa (tôi xin nói rõ thêm: Trong đó có bản của Ngô Linh Ngọc là bản dịch duy nhất giữ nguyên được chữ “đế”), tạo điều kiện cho HS “được đọc nhiều bản dịch khác nhau để có thể đối sánh các cách dịch khác nhau, cách sắp xếp ngôn ngữ khác nhau từ một bản gốc chung”. Chính ở điểm sau cùng, “từ góc độ của người quản lí giáo dục trong đó có bao gồm chủ đề về cải cách giáo dục”, anh Hiệp cho rằng “Đây là cách làm sách rất hiện đại mà sách cũ, với bản dịch “cũ” không có được…Từ góc độ cải cách giáo dục, thậm chí, tôi cho rằng đây là điểm “sáng” nhất của bản dịch “mới” này”.

Tôi đã đi sâu thử tìm ai là người đầu tiên, văn bản nào là văn bản đầu tiên dùng dị bản “định phận”; theo sự hiểu biết của tôi, đó là dị bản cuối cùng trong khoảng trên dưới 30 dị bản nằm trong cuốn Trương Tôn thần sự tích (張 尊 神 事 蹟). Cuốn sách được chụp và in năm 1922, ở trang 6, ta thấy dòng thứ 2 của bài thơ là 截然定分在天書, và ở trang 7 được phiên âm là Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Một khi SGK đã chọn bản này thi giải thích nghĩa từng chữ cũng phải giải thích theo số đông. Song đồng thời tôi  cũng nêu ý kiến là nếu  dùng dị bản ấy thì có thể gây ra hai cách hiểu về chữ “phận” trong “định phận”: địa phận hoặc số phận. Có bạn đọc đã bác bỏ cho rằng tuyệt không thể là “số phận” nên tôi đã buộc chứng minh rằng có người hiểu như thế, đó chính là Nguyễn Khắc Viện khi dịch “Định phận” ra tiếng Pháp thành “le destin fixé à jamais”. Và đây cũng chính là một lí do chúng tôi chọn bản dịch của Lê Thước (Vằng vặc sách trời chia xứ sở) vì cách này rõ ràng sát với nguyên bản ở ĐVSKTT. Không biết có phải do chữ “phận” ám ảnh hay không mà khi dịch ĐVSKTT lần đầu, mặc dầu tôn trọng nguyên bản ở ĐVSKTT, các dịch giả vẫn phiên âm là “phận”: Tiệt nhiên phận định tại thiên thư (Đại Việt Sử kí toàn thư, Tập I, NXB Khoa học xã hội, 1967, tr. 238). Đến lần tái bản năm 1983, các dịch giả mới phiên âm lại thành: Tiệt nhiên phân định tại thiên thư! Như vậy là với tư cách cá nhân,  tôi hoàn toàn đồng ý với anh Thừu Châu, hơn thế, tôi còn muốn những người cùng quan điểm đề nghị cấp có thẩm quyền cho chỉnh lại văn bản Nam quốc sơn hà ở bức tranh sơn mài giống như nguyên bản ở ĐVSKTT. Một khi sửa lại như vậy rồi, thì đúng như anh Thừu Châu quan niệm, tiêu chuẩn đánh giá các bản dịch mới rạch ròi, và rõ ràng, nếu nguyên bản được chỉnh như thế thì bản dịch “mới” của Lê Thước thể hiện đúng tinh thần của nguyên bản hơn bản dịch “cũ”.

Có khía cạnh nhỏ này, ý kiến  của tôi có khác anh Thừu Châu: anh Châu cho “phân định” là một từ (Từ điển Đào Duy Anh cũng có mục từ “phân định’ thật) nhưng tôi cho nếu là 2 từ (“định” là trạng ngữ) thì ý sẽ mạnh hơn. Sau động từ “phân”, hoàn toàn có thể đặt một trạng ngữ như “phân thanh địch ngã” (phân rõ địch ta}. Mọi từ điển đều giải thích “định” là “dĩ kinh xác định, bất cải biến”. Việc “phân chia” “ bờ cõi núi sông” (Bình Ngô Đại cáo) là “đã xác định, không thể thay đổi”!. Gs. Lê Trí Viễn nói câu đầu của NQSH là nói chuyên người, đạo lí của người, câu dưới là nói chuyện Trời, ý tôi có hơi khác, trên và dưới là một theo quan điểm của người xưa, và do đó, ý của câu thơ trên là đi liền mạch xuống câu dưới: Cái gì được xác định rạch ròi? Là cái đã nói rõ ở câu trên: Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Cho nên, tôi rất tán thành người dịch câu thơ thứ hai bằng tiếng Pháp của anh Nguyễn Khắc Viện trong đó có cụm từ “le destin fixé à jamais” ra tiếng Anh thành: “ This was written in the Book of Heaven” ( VietNam – a long history.NXB Thế giới, H, 2004, trang 36). “Thís” là cái điều đã khẳng định ở câu trên, rõ ràng, dứt khoát.

 

 Chỉ có một chữ “phân” hay “phận” mà đã rắc rối đến thế đấy! Có lẽ còn trên dưới mười vấn đề, trong đó có những vấn đề còn phức tạp hơn nhiều chuyện chữ nghĩa. Nghiên cứu NQSH là một tình huống tích hợp điển hình, những người viết SGK nhiều lắm cũng chỉ đóng góp được một phần nhỏ, trước hết là trong lĩnh vực vận dụng tinh hoa văn hoá và văn học dân tộc vào cuộc sống hiện đại ở một đói tượng cụ thể. Phải vận dụng triệt đẻ phương pháp nghiên cứu liên ngành vì tác phẩm tuy chỉ có 28 chữ nhưng đụng chạm đến rất nhiều lĩnh vực khoa học (văn học và truyền thuyết, văn học và tín ngưỡng, phong tục, văn học dân gian và văn học bác học, văn học và lịch sử, dã sử và chính sử, văn bản học, lí thuyết về  dịch thuật, lí thuyết về tiếp nhận văn học…).

Nhưng, với giới nghiên cứu, thì tha hồ bàn luận, song đối với SGK, dù là viết theo hướng mở, phát huy tư duy phản biện…chúng ta cũng không nên tung hoả mù làm cho các em còn nhỏ tuổi bối rối; đưa ra những vấn đề khoa học quá cao cũng không nên chứ chưa nói chuyện kết án kiểu: Những người “dịch bản dịch mới là “ăn tiền” của ai đó, một lần dịch mới là có “thêm được bao nhiêu thạc sĩ tiến sĩ”, thay bản dịch là “thay Tuyên ngôn Độc lập”!..

Riêng chuyện tác giả NQSH, chỉ trong công trình Bùi Duy Tân Tuyển tập, công trình được Giải thưởng Nhà nước, tác giả đã viết 4 bài khẳng định NQSH không phải là của Lí Thường Kiệt; riêng tôi đã bị anh Tân, người tôi rất quý trọng và có lẽ anh cũng quý trọng tôi, gọi điện thoại mắng hơn một tiếng đồng hồ vì bướng bỉnh, không chịu nghe anh ghi vào SGK câu “NQSH là vô danh, không phải là của Lý Thường Kiệt”. Nghe xong, tôi chỉ trả lời nhỏ nhẹ: “Anh nghiên cứu, chứng minh thì cứ việc, nhưng trước mắt, chúng tôi chỉ có giải pháp trình bày giống như Từ điển Bách khoa Việt Nam: NQSH “tương truyền là của Lí Thường Kiệt”. Theo tôi, để chuẩn bị cho việc thay sách mới lần này, về bài NQSH, chỉ nên tập trung vào 2 việc: thống nhất việc chọn văn bản thơ chữ Hántập trung chỉ đạo để có một bản dịch tốt hơn mọi bản dịch hiện có.

  Để thực hiện được việc thứ nhất, tôi đã trình bày rõ ý kiến ở trên; tuy nhiên, chỉ  việc ấy thôi cũng không hề đơn giản. Đề nghị Nhà nước giao cho Viện Hán Nôm chủ trì lập một Hội đồng khoa học có tính chất liên ngành để xử lí. Trước đây, anh Trần Nghĩa đã nghiên cứu một cách khoa học và công phu trong việc đối chiếu 26 văn bản NQSH khác nhau và tiến tới kiến nghị thống nhất chấp nhận một văn bản.

 Để làm tốt việc thứ hai, thì, một là phải cùng nhau trao đổi thật thống nhất ý nghĩa của văn bản đã được lựa chọn. Ở câu thứ nhất, đúng như ý kiến của Ts. Lê Vinh Quốc, có một từ mang “một ý vĩ đại” “mà tất cả các bản dịch đều không thể hiện được” (Tuổi trẻ online), đó là từ “đế”. Nói cho chuẩn xác, có một bản giữ được chữ đó: bản dịch cuẩ Ngô Linh Ngọc mà chúng tôi đã đưa vào SGK.Theo tôi, không chỉ có chữ “đế” mà các chữ “quốc” và “Nam” đều có ý nghĩa vĩ đại.

    Bản thân chữ Nam đã có ý nghĩa, kết hợp với phép điệp ngữ và tiểu đối trong câu, ý nghĩa lại được tăng cường gấp bội. Bấy giờ, người ta chỉ coi ta là một quận nên tự xưng quốc là đã “vượt cấp”, biểu thị mạnh mẽ tinh thần bình đẳng về dân tộc. Ở câu thứ hai, chữ “tiệt nhiên” không chỉ có nghĩa “rõ ràng, dứt khoát” mà theo Từ điển Đào Duy Anh, còn có ý nghĩa về phương diện “đạo lí” nữa (đạo lí của con người, đạo lí của trời đất) nên theo tôi, chữ “vằng vặc” là chỗ đạt nhất của bản dịch “mới”. Ở câu thứ ba, hầu hết các bản dịch đều chưa lột được hết tinh thần của hai từ “nghịch lỗ”. Khi bàn đến 2 từ “nhữ đẳng”, anh N . S. P. (ở Đài Loan) lưu ý rằng đó là một từ trung tính, nên cần cân nhắc dùng đại từ thích hợp trong lúc dịch.Ý kiến này chỉ đúng một phần. Nên nhớ sắc thái biểu cảm cua hệ thống đại từ nhân xưng của Việt Nam rất phong phú. Một chữ “Ngã” hay “Nhữ” có thể dịch thành rất nhiều từ khác nhau tuỳ văn cảnh, tuỳ mục đích và vị thế giao tiếp… Trong trường hợp này, không thể coi đó là một từ “trung tính” được. Chính vì vậy, chữ “lỗ” rất khó dịch. Có thể đặt câu hỏi: Vì sao tác giả không dùng chữ “ nghịch tặc”?. Đơn giản chỉ vì, như mọi cuốn từ điển đều giải thích, “lỗ: đối địch phương đích miệt xưng (xưng hô khinh miệt)”. Chưa bản dịch nào dùng từ biểu hiện được sắc thái khinh miệt đó, chứ đừng vội lo dịch giả quá đà đi tới chỗ bất lịch sự!. Bên cạnh chữ “lỗ” còn có chữ “nghịch”, hầu như cũng chưa ai dịch được. “Nghịch” ở đây không phải là sự bất hiếu của loại “nghịch tử” thông thường mà là hành động “nghịch thiên” của một “nghịch tử đặc biệt”, kẻ tự xưng là “Con Trời” lại dám chống cả “Sách Trời”! Ở câu thứ tư, có 3 chữ cần chú ý là “hành”, “thủ”, “hư”: “hành” chỉ một sự việc tất yếu,  nhất định sẽ xẩy ra trong tương lai gần; “thủ” là “nhận lấy”, “chuốc lấy”, gieo gió thì phải gặt bão; “hư” tả mức độ của sự thất bại, thất bại hoàn toàn, thất bại thảm hại …Đó là cảm nhận của tôi, có thể chưa thật đầy đủ và chinh xác, nhưng ít nhất đó cũng là điều mà tôi thấy hầu hết các bản dịch chưa lột tả được đầy đủ, xin mạo muội đưa ra để trao đổi.

Hai là, trao đổi về một số nguyên tắc dịch đối với trường hợp cụ thể này. Chẳng hạn, Tín Nhã ở đây nên quan niệm thế nào? Có nhất thiết phải theo thể Thất ngôn tứ tuyệt không? Có thể dịch ra thơ mới, thơ văn xuôi được không?.... Tôi có đọc một tập thơ dịch những bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng nhất đời Đường của Đại học Phúc Đán (Thượng Hải) thì họ cho phép và chấp nhận dịch thành mọi thể loại. Anh N. S. P. kê lại một cách dài dòng công thức Đường luật nhưng chẳng để làm gì cả, nói đúng hơn là đã sử dụng nhầm, dùng công thức thơ Đường luật để phê phán Nam Trân và Lê Thước phá công thức thơ Đường luật trong khi 2 cụ dịch theo thể cổ phong. Cái đáng làm, anh lại không làm là xét xem bản dịch”cũ” đã không tuân theo thơ Dường luật như thế nào, chẳng hạn như 3 chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu của câu cuối của bản dịch “cũ” (bay, bị, tơi)là hoàn toàn không theo đúng công thức thơ Đường luật.

Ba là, tổ chức đánh giá lại các bản dịch đã có, sao cho các bản dịch mới phát huy được những ưu điểm của các bản dịch cũ. Muốn làm được việc này cần phải có tinh thần khiêm tốn, thực sự cầu thị, vì dịch thơ cổ là cực khó, nhất là với một văn bản còn nhiều vấn đề phải trao đổi. Cần xác định điểm nào là phần cứng, không thể linh động (đặc biệt đối với câu đầu tiên).

 Gs. Trần Ngọc Vương cho tôi biết có người hỏi anh ông Lê Thước là ai, ông Nam Trân là ai mà lại dịch như thế…Và có bạn đọc nói “Tôi chẳng cần biết Lê Thước, Nam Trân là ai” trước khi hạ những lời phê phán rất nặng nề. Nếu kể thành tích nghiên cứu, dịch thuật cũng như thành tích hoạt động của 2 cụ thì phải cần đến mấy bài báo. Chỉ cần biết, tên 2 cụ đã được đưa vào bộ Từ điển Văn học lớn nhất của nước ta, Nam Trân đã thành danh xưng đặt tên cho một đường phố ở quận Liên Chiểu, cho một khu đô thị và một trường Tiểu học ở Đà Nẵng, còn Lê Thước cũng trở thành danh xưng để đặt tên cho một con đường ở quận Sơn Trà ở Đà Nẵng và một con đường ở quận 2 TP. Hồ Chí Minh. Người nào nói 2 cụ đã “ăn tiền” của ai để dịch NQSH chắc hẳn xấu hổ và hối hận khi biết những thông tin rất ngắn ngủi này về 2 cụ. Các cụ có thể “nói” ra thơ Đường luật, “thở” ra thơ Đường luật, thế mà các cụ lại chuyển sang thơ cổ phong để dịch với vần Trắc, phải có lí do để mọi người suy ngẫm.. Chúng ta hày đọc đi đọc lại 3 câu thơ dịch gieo vần trắc của 2 cụ để xem có vần nhịp, giọng điệu và khí thế hào hùng không nhé.

                                 Sông núi nước Nam, vua Nam ở       

                             Vằng vặc sách Trời, chia xứ sở

                             ……………………………………..

                             Chúng mày / nhất định / phải tan vỡ!

Trong bài báo trên bđt ĐCSVN , tôi đã kể lại câu chuyện nhà thơ Xuân Diệu, phải trải qua 17 năm mới hiểu được “cái tinh diệu” của Nguyễn Trài khi dùng một thanh trắc ở một vị trí đáng lẽ gieo thanh bằng trong câu thơ nổi tiếng:

                             Tuổi cao tóc bạc, cái râu bạc

Có thể dẫn hàng chục dẫn chững trong Nhật kí trong tù để chứng minh cho vai trò của vần trắc, thanh trắc trong việc biểu hiện tình cảm, nhịp điệu và giọng điệu của thơ ca. Trong thơ ca cũng như trong âm nhạc, không ít khi cũng cần cái mà tiếng Pháp gọi là cacophonie (sự khổ độc, sự tiếp âm chối tai). Theo học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt thi (NXB Tân Việt, 1949), nếu đổi thanh “trắc” trong công thức thơ Đường luật thành thanh “bằng” thì không sao nhưng đổi thanh “bằng” thành “trắc” thì gọi là “khổ độc”.

Trong khi nhiều người không biết 2 cụ Lê Thước và Nam Trân là ai thì, như trên đã nói, có không ít người, trong đó cả những nhà thơ, cứ ngộ nhận người dịch bản dịch cũ là nhà sử học Trần Trọng Kim, đề lên quá cao bản dịch “cũ” được gán tên Trần Trọng Kim để hạ bệ bản dịch “mới”. Mặc dầu biết một người bạn tôi đã góp phần dịch bản dịch “cũ”, ngay trong những ngày gần đây tôi vẫn cứ tìm hiểu xem vì sao lại có chuyện lạ này. Đọc kĩ “Việt Nam sử lược”, chỉ thấy bản phiên âm chữ Hán. Đọc kĩ “Việt thi”, ngay bản chữ Hán cũng không có. “Đường thi” và “Nho giáo” thì đương nhiên không có rồi! Nghĩ lại, đi tìm hiểu việc này vừa mất thì giờ, lại vừa tỏ ra lẩn thẩn: chả lẽ mình tin dư luận hơn cả bạn mình? Áp lực của dư luận ghê gớm thật! Tôi không muốn đề nghj truy tìm động cơ của ai đó thủ xướng chuyện này mà chỉ hơi buồn cho tác hại của cái gọi là dư luận sai chậm trễ được uốn nắn.

Toàn bộ SGK của NXB Giáo dục chúng tôi trước đây khi dùng bản dịch “cũ” từng được ca ngợi đều ghi ở dưới “Theo bản dịch của “Lịch sử Việt Nam” tập I – NXB Khoa học xã hội”. Xin mời các bạn xem tiếp bản dịch ở trang 181 của cuốn Lịch sử Việt Nam tập 1, được NXB Khoa học xã hội in năm 1971. Ở chỗ này thì thấy chẳng ghi theo ai nữa cả, vì đây là nơi xuất hiện đầu tiên của bản dịch NQSH được coi là bản dịch “cũ” được có người quá yêu mà gọi nhầm là bản Tuyên ngôn Độc lập của nước ta! Tôi biết rõ lai lịch cuốn Lịch sử này nên khi thấy dư luận đi quá đà bèn gọi điện thoại cho Gs. Phan Huy Lê, ông bạn học cùng lớp thời phổ thông, chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đồng tác giả cuốn sách nói trên. Tôi hỏi: vì sao các tác giả ghi là “Tạm dịch” và ở dưới không ghi tên người “tạm dịch”? Ông bạn trả lời: Cậu thấy đấy, cả cuốn sách mấy trăm trang còn chả ghi tên tác giả nữa là chỉ vỏn vẹn mấy câu thơ, mà lại là mấy câu “tạm dịch”. “Thế trong nhóm, ai là người dịch chủ chốt?”, tôi hỏi tiếp. “Cũng chẳng nhớ rõ, chỉ còn nhớ mình có trao đổi với Trần Quốc Vượng”. Tôi nói tiếp, pha chút giọng hài hước: “Xin chúc mừng cậu, bài “tạm dịch” của các cậu đang có người tôn vinh lên ngang hàng “Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước ta xưa” và đề nghị sắp tới có thể được xét để đưa vào thay cho bản dịch của 2 cụ Lê Thước và Nam Trân đấy!”. Đến đây thì chắc các bạn đã đoán được câu trả lời của Gs Phan Huy Lê.

Bốn là, trước mắt, cần ổn định nhân tâm, cụ thể hơn là để cho GV & HS yên tâm sử dụng bản dịch “mới” đang được sử dụng. Cần nói thêm, nhà thơ Nam Trân mất năm 1967. Cứ cho là nhà thơ dịch xong NQSH rồi mất luôn thì ít nhất Nam Trân cũng dịch bản dịch được gọi là “mới” đó trước khi có bản dịch được gọi là “cũ” BỐN NĂM! Tôi đành kể câu chuyện có tính chất giai thoại này là để góp phần chấm dứt câu chuyện huyền thoại về người dịch bản dịch NQSH “cũ”!

Nếu tôi có quyền, nhất định tôi cũng không dám ra quyết định dùng lại bản dịch “cũ” vì 2 lẽ:

+ Bản dịch này cũng không hơn gì các bản dịch khác vì đều không giữ được chữ ”đế” (trừ bản dịch của Ngô Linh Ngọc đã được chúng tôi đưa vào SGK), điều mà chính anh Lê cũng thấy là thiếu sót; Gs. Lê cho tôi biết thiếu sót đó đã được khắc phục trong một công trình khác của anh. Cách đây mấy chục năm, sơ suất ấy có thể châm chước, nhưng trong điều kiện hiện nay, đó là điều tuyệt đối không thể chấp nhận. Người ra quyết định sẽ đối mặt với câu hỏi: phải chăng ta chịu chấp nhận vị thế “vương” trước ai đó vẫn luôn tự cho phép chỉ có mình mới được xưng là “đế”?

+ Gs. Lê có lẽ là người duy nhất còn sống đã từng cùng “tạm dịch” bản dịch “cũ”. Liệu ai có quyền sử dụng bản dịch đó khi chưa được Gs Lê đồng ý?

Năm là, để có bản dịch thật tốt, tôi đề nghị Hội Nhà Văn phát động một cuộc thi dịch NQSH và treo giải thưởng thật lớn. Tại sao chúng ta không thể bỏ tiền để xây dựng một tượng đài bất hủ về tinh thần của dân tộc?

.............................

Bản tác giả gửi VHNA. Bài đã đăng Văn nghệ số 49 (5 - 12- 2015)