Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Về hai câu thơ đề trên mộ Nguyễn Trường Tộ

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ sinh năm 1830, mất  năm 1871 tại Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi  Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Ngôi mộ của ông đặt tại xứ Đá Mài làng Bùi Chu, nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên. Mộ được xây lại năm 1943 do sự đóng góp của giáo sư Từ Ngọc Nguyễn Lân và một số nhân sĩ Nghệ Tĩnh và được ghép bằng những tảng đá thanh.

Phía trong cùng của mộ là tấm bia. Bia đặt dựng đứng. Trên cùng của bia có cây Thập giá. Bề mặt bia ghi rõ đức độ, công lao và ân tứ của nhà chí sĩ. Hai bên mặt bia có hai câu đối Nôm. Hai bên thành bia cũng có đôi câu đối chữ Hán.

Mặt bằng trên mộ: nửa phía trong ghi: “Việt Nam chí sĩ Paolô Nguyễn Trường Tộ tiên sinh: Gia nghị Đại phu Hàn Lâm viện Trực học sĩ”. Nửa phía ngoài là hai câu thơ (không ghi tên tác giả):

 “Nhất thất túc thành thiên cổ hận

Cố đầu hồi thị bách niên cơ”.

Hai câu này có trong ảnh “Ngôi mộ của Nguyễn Trường Tộ” in ở sách “Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo” của Trương Bá Cần, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1988, Trang (Tr.) 493.

Về hai hai câu này, gần đây, có nhiều tài liệu viết về Nguyễn Trường Tộ cho rằng đó là hai câu thơ do ông Tộ viết ra hay để lại trước lúc qua đời. Ví như:

Giáo sư Phong Lê (nguyên Viện trưởng Viện Văn học) tại  bài “Bản lĩnh và bi kịch Nguyễn Trường Tộ” in trong tập “Tài liệu Hội thảo khoa học Nguyễn Trường Tộ, khát vọng canh tân đất nước” ( Nghệ An, tháng 11-2008) viết: “…Trước ngày mất, đó là sự xót xa khi nhìn lại cả một cuộc đời bôn tẩu và lao lung suy nghĩ mà không thấy có kết quả gì:

 “Nhất thất túc thành thiên cổ hận

Tái đầu hồi thị bách niên thân”

Tức:

Một bước sa chân hận thành muôn thuở

Ngoái đầu nhìn lại thân đã trăm năm”.

Đại tá Đinh Văn Niêm, trong bài “Những người thầy Nho học và dư luận về cái chết của Nguyễn Trường Tộ” (cũng in ở tập tài liệu trên) viết  rằng, cuối đời Nguyễn Trường Tộ cho là mình đã bị người đời hiểu lầm nên tâm sự với vợ: “Sự hiểu lầm của triều đình, của quân giặc không có gì đáng sợ, sự hiểu lầm hầu hết của bạn bè hôm nay mới khủng khiếp làm sao!(1) Ông đọc to câu thơ:

“Nhất thất túc thành thiên cổ hận,

Cố hồi đầu thị bách niên cơ”

(Một bước sa chân nghìn đời mang hận

Quay đầu nhìn lại, cơ đồ đã hóa trăm năm).

Phó giáo sư Ninh Viết Giao (chủ biên) và Thái Huy Bích trong sách “Địa chí Văn hóa Hưng Nguyên”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội 2009, tr. 350, mục Nguyễn TrườngTộ trong Chương V, tr. 350, viết: "Ông chết âm thầm ở làng quê Bùi Chu, để lại hai câu tuyệt mệnh:

“Nhất thất túc thành thiên cổ hận

Tái đầu hồi thị bách niên cơ”

Dịch nghĩa:

Một lần sẩy chân ngàn đời ôm hận

Quay đầu nhìn lại là trăm năm cơ đồ”.

Nguyên văn và lời dịch về hai câu thơ kia của các tác giả vừa dẫn, chỗ này, chỗ nọ có khác nhau nhưng họ đều cùng thống nhất cho rằng, đó là hai câu thơ do ông Nguyễn Trường Tộ làm.

Các tác giả nói trên viết như vậy chắc là vì sự truyền miệng, hoặc theo Nguyễn Trường Cửu, con trai Nguyễn Trường Tộ trong bài: “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ”(2). Trong đó, Nguyễn Trường Cửu viết: “Đến năm Tự Đức thứ 23, tháng 12 ngày 11, truyền đòi ông Tộ vào Kinh để đeo học sinh Việt Nam sang Tây mà học tập. Ông vào đến Kinh thì bệnh phát lại, xin về uống thuốc không thành, một lâu một thêm nặng, qua năm sau là năm Tự Đức thứ 24 (1871), tháng 10 ngày mồng 10, ông Tộ làm một câu thơ rằng:

Nhất thất túc thành thiên cổ hận,

Tái đầu hồi thị bách niên cơ.

Đoạn thì qua đời. Thọ 41 tuổi, táng ở địa phận Bùi Chu”(3).

Giải nguyên Lê Thước đã có dựa vào bài “Sự tích ông Nguyễn Trường  Tộ” để viết “Tiểu sử Nguyễn Trường Tộ Tiên sinh” bằng chữ Hán(4), in trên “Nam Phong” số 102, tháng 1-1926. Nhưng trong đó, Lê Thước không nhắc đến hai câu thơ kia. Có nghĩa rằng, vị Giải nguyên đã không cho hai câu đó là thơ của Nguyễn Trường Tộ.

Từ Ngọc tức giáo sư (Gs) Nguyễn Lân, nhà ngôn ngữ học, đương nhiên rất hiểu điển cố của Trung Hoa. Ông là người đứng ra xây lại mộ của ông Tộ (1943), thì khi cho khắc hai câu đó, Từ Ngọc cũng không ghi một ý gì thêm (tức, không nói đấy là thơ của người nằm dưới mộ). Và trong sách “Nguyễn Trường Tộ” do ông viết, suốt 230 trang in(5) có dành phần XVII với tiêu đề “Văn thơ Nguyễn Trường Tộ” (10 trang) mà trong đó, ông không ghi hai câu thơ kia.

Tiến sĩ Thần học, Linh mục Trương Bá Cần với tác phẩm đã dẫn, cũng không có một ý kiến nào nói rằng hai câu thơ kia là của Nguyễn Trường Tộ.

Trong “Lời giới thiệu” sách “Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân” của Bùi Kha Nxb Văn học, Hà Nội (HN), 2011, Gs. NGND Trần Thanh Đạm viết: “Các bài viết về tiểu sử của ông (Nguyễn Trường Tộ) trong đó có tài liệu của gia đình ông cho biết rằng, lúc cuối đời, ông có bày tỏ tâm sự chung thân của mình bằng hai câu thơ cổ: Nhất thất túc thành thiên cổ hận/ Tái hồi đầu dĩ bách niên thân”(Một bước sa chân muôn thuở hận/Quay đầu thân thế đã trăm năm)**.

Xin nhắc lại lời của GS-NGND Trần Thanh Đạm, đó là “Hai câu thơ cổ”.

Đúng rằng, đấy không phải là thơ của Nguyễn Trường Tộ mà hai câu ấy có đã từ lâu lắm. Trước khi mất, Giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ đã mượn nó để nói lên tâm sự của mình. Rồi người đời sau ghi hai câu đó lên mộ của ông.

Vậy, hai câu đó là thơ của ai, viết ra hay đọc lên trong hoàn cảnh nào?

Bên Trung Hoa, vào năm 202 Trước Công nguyên (TCN) Lưu Bang đánh thắng Hạng Vũ lên làm vua, lập ra nhà Tây Hán. Đến đời Vũ đế 130 -105TCN, nhà Hán cũng chỉ thống trị được vùng Trung Nguyên, còn đất Tây Vực cũng gọi là đất Hồ do người Hung Nô (bấy giờ gọi là Rợ Hồ) chiếm cứ(6). Mà Hung Nô là một tộc người dũng võ và gan dạ. Nhà Hán luôn luôn bị họ nhòm ngó và quấy nhiễu.Các vua Hán ngoài kế “hòa thân”(7), thường phải cử những nhà ngoại giao giỏi đi sứ mang theo lễ vật trọng hậu, nhằm giữ yên vùng biên ải giáp giới với họ.

Rồi đến lượt Tô Tử Khanh, hiệu là Tô Vũ, một trọng thần của triều Tây Hán phải đi sứ sang Tây Vực.

Qua đấy, chúa của xứ Hung Nô là Thuyền Vu dụ hàng, Tô Vũ không nghe. Thuyền Vu giở trò đe dọa. Tô Vũ cả giận, cầm chiếc chén đựng rượu bằng ngọc ném vỡ tan ngay giữa sân chầu. Thuyền Vu tái mặt, quát tháo ầm ĩ rồi sai quan quân áp giải vị sứ giả gan góc này nhốt vào chiếc hang sâu ở một nơi thật xa khuất, quạnh vắng, không cho ăn, cũng không cho uống, cốt để rồi chết vì đói và khát. Sau nhiều ngày, Thuyền Vu cho người đến thám thính thì thấy viên sứ giả can trường của nhà Hán vẫn sống. Chúa của đất Hồ đã không biết là với Tô Vũ, khi khát thì ông ngậm tuyết, khi đói thì gặm một tí da cừu khô. Lại một thời gian nữa, chúa cho người đến lôi vị sứ giả kỳ lạ kia ra khỏi hang sâu thì thấy ngài vẫn chưa chết và cũng không chịu quy hàng!

Chúa Hung Nô kinh sợ, tưởng Tô Vũ là thần, không dám hãm hại nữa mà đày lên đất Bắc, giao cho nuôi một đàn cừu toàn thuộc giống đực và bảo: “Khi nào có một chú cừu trong số đó đẻ con thì sẽ tha cho về!”.

Bên nước, ngày càng biệt vô âm tín nên vua Hán tưởng sứ giả họ Tô đã bỏ mạng nơi xứ Hồ!

Còn Tô Vũ, sống giữa nơi hoang vu và cực kỳ lạnh lẽo, không mấy khi có bóng người ấy, ông rất buồn và da diết nhớ về đất tổ. Gặp mùa hồng nhạn thiên di xuống phía Nam, ông viết lá thư nhờ một cánh chim mang về. Nhận được tin, vua Hán vô cùng thán phục, mừng rỡ.

Tô Vũ sống nơi khuất vắng của vùng Tây Vực ấy tính đến 19 năm. Hán Vũ đế qua đời và chúa Hung Nô Thuyền Vu đều đã mất. Bấy giờ giữa đất Hồ và đế quốc Hán đã tạm hòa hiếu với nhau nên ông được chúa Hung Nô tha.

Trên đường về, Tô Vũ gặp Lý Lăng.

Lăng là cháu Lý Quảng, nối đời từ một dòng tộc là các danh tướng của nhà Hán. Trong “Sử ký”, tác phẩm lịch sử nổi tiếng của Trung Hoa thời cổ đại, Tư Mã Thiên đã dành một thiên là “Lý tướng quân liệt truyện” để viết về Lý Quảng. Dòng họ này có một thời gian bị sa sút nhưng rồi lại được thịnh lên khi Lý Lăng đã lớn. Khoảng ba mươi tuổi, Lăng nổi tiếng về bắn cung giỏi và có lòng thương yêu binh sĩ, được triều Hán kén để cai quản đạo quân canh giữ cung Kiến Chương. Nhà vua lại nghĩ là họ Lý đời đời làm tướng, bèn cho Lăng coi tám trăm quân kỵ rồi trở thành một danh tướng.

Năm 99 TCN, Nhị sư tướng quân là Lý Quảng Lợi vâng mệnh đem ba vạn quân kỵ đánh Hữu Hiền vương của chúa Hung Nô là Thiền Vu ở Kỳ Liên Sơn. Đồng thời nhà vua cũng sai Lý Lăng dẫn quân bộ cùng năm ngàn người thiện xạ ngăn giữ mặt bắc cách Cự Duyên chừng hơn ngàn dặm để chia lực lượng của Hung Nô, không cho họ tập trung đánh vào Nhị sư, cốt để phòng ngự cho quân của Lý Quảng Lợi.

Khi Lý Lăng làm xong nhiệm vụ, sắp đến ngày trở về thì bị Thiền Vu đem tám vạn quân vây đánh. Quân của Lăng chỉ có năm ngàn.Tên bắn đã hết, lính chết quá nửa khi đã giết được khoảng một vạn quân Hung Nô thì Lăng vừa cho quân rút lui vừa đánh đến tám ngày liền để bảo vệ lực lượng. Khi trở về chỉ còn cách Cư Duyên chừng hơn trăm dặm thì Quân của Lý Lăng lại bị người Hung Nô chặn đứt lối đường hẻm. Quân của Lăng thiếu ăn mà Lý Quảng Lợi không cho người đến phối hợp để chặn địch. Giặc đánh gấp. Rồi Lăng chỉ còn trong tay bốn trăm quân. Họ tan tác chạy về Hán. Chúa Hung Nô dụ hàng. Lăng nghĩ là mình cũng chẳng có mặt mũi nào về nhìn chúa thượng nữa” nên thuận theo(8).

Khi đã bắt được Lý Lăng, chúa Thiền Vu biết đó là dòng dõi của một gia đình danh tướng nối đời và thực tế Lăng đã đánh trận rất giỏi, bèn đem con gái gả cho và đặt lên địa vị cao.

Ở bên nước, vua Hán nghe tin, giết cả mẹ và vợ con Lăng. Từ đó về sau, họ Lý mất tiếng(9).

Rồi, khi gặp Tô Vũ trên đường từ giã đất Tây Vực để về Hán, Lý Lăng cũng đã già ở đất người và tự nhìn lại mà phàn nàn với bạn :

“Nhất thất túc thành thiên cổ hận

Cố hồi đầu thị bách niên thân(10)

Từ đó, hai câu này đã đi vào văn học cổ Trung Hoa như một điển cố (allusion). Bởi những ai, khi mắc phải một sai lầm nào đó trong cuộc đời thì đều có thể mượn nó để tự thán.

Đời Minh (1368-1644), Dương Nghi viết trong “Lương minh ký” được đưa vào “Trung Hoa Bách khoa danh phiến” rằng, Đường Bá Hổ (1470-1524) tức Đường Dần(12) vốn là một cậu bé ham chơi, phóng túng nhưng rồi tự cải hối, chăm học, đỗ Giải nguyên. Sau đó, người ta phát hiện ra là trong kỳ thi đó có sự gian lận. Vị Khảo quan bị bãi miễn. Bá Hổ vì tội tiết lộ bài làm nên bị tước học vị Giải nguyên và phải vào nhà giam. Khi được ra tù, trước bạn bè, Bá Hổ hối hận, đọc lên:

“Nhất thất túc thành thiên cổ tiếu

Tái hồi đầu thị bách niên nhân”.

Sách “Thành ngữ điển cố” của Trung Hoa, dẫn từ “Minh sử, Văn uyển liệt truyện, Đường Dần” và “Minh Lương ký” của Minh sử cũng cho rằng câu ấy kết thúc bằng chữ “Bách niên nhân”.

Cũng trong thư tịch cổ Trung Hoa, một dị bản khác, Nhất Đẩu trong “Chính kiến võng”, thời Minh, cũng cho câu đó là của Đường Bá Hổ…

Đến đời Thanh, cũng câu chuyện về Đường Dần, Ngụy Tử An trong tác phẩm “Hoa nguyệt ngấn” lại viết:

Nhất thất túc thành thiên cổ hận

Tái hồi đầu thị bách niên thân”.

Như vậy, qua các triều đại từ Minh đến Thanh, trên đất Trung Hoa, cũng qua nhân vật Đường Bá Hổ, tức Đường Dần mà hai câu thơ đó đã có những dị bản khác nhau. Vả, Đường Dần chỉ mắc vạ nhỏ, không phải là lỗi tự thân như Lý Lăng (từ là một kiệt tướng của nhà Tây Hán mà khi thua trận đã chịu làm con rể của chúa Hung Nô rồi sống quãng đời còn lại trên xứ người!). Một lúc nào đó, sau lúc mắc vạ, Đường Dần đã mượn câu tự thán của Lý Lăng để nói lên tâm sự mình khi câu đó đã thành một điển cố để người đời dùng nó như một điển tích trong lối văn tập cú (recueil des textes) vốn được sử dụng rộng rãi ở thời xưa.

Quả là, hai câu thơ trên nguyên văn như thế nào và ra đời tự bao giờ trên đất Trung Hoa qua các thời đại từ Tây Hán cho đến Minh, Thanh còn là vấn đế cần được thẩm định nhưng chắc chắn đó không phải là thơ của Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trường Tộ mượn câu thơ ấy để bộc lộ tâm sự của mình trước lúc từ biệt thế gian. Như thế cũng là điều đáng để cho hậu thế thêm quý trọng về ông.

.........................................................

(1) Theo Thanh Đạm trong  Tiểu  thuyết “Nguyễn Trường Tộ”, Nhà xuất bản Nghệ An, 1991, trang 238 - 239 thì không phải câu đó Nguyễn Trường Tộ (NTT) nói với vợ mà nguyên văn là “ Một mình ông ( NTT) đi trong vắng lặng, (nói): Ta đã sai lầm rồi chăng. Một câu hỏi ít lâu nay thường day dứt lòng Nguyễn Trường Tộ hôm nay lại nảy ra trong đầu ông: Nếu ngày ấy ta nhất quyết từ chối, không làm việc cho lã đô đốc Sacne (tướng Pháp chiếm đóng Gia Định, 1861-1862. CTH) thì… Chao ôi! Sự hiểu lầm của quân giặc không có gì đáng sợ. Sự hiểu lầm của triều đình cũng không đáng sợ là bao. Sự hiểu lầm của hầu hết bạn bè hôm nay sao mà khủng khiếp! Thật là: Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ” .

(2) Giải nguyên Lê Thước đã có dựa vào bài này để viết “Tiểu sử Nguyễn Trường Tộ Tiên sinh” bằng chữ Hán, in trên “Nam Phong” số 102, tháng 1-1926.

 Về sau  Linh mục Trương Bá Cần in vào trong “Nguyễn Trường Tộ- Con người và di thảo”, Sđd, tr. 425-431.

(3), (4) Bài này ông Nguyễn Trường Cửu viết xong rồi cứ lưu ở trong gia đình, không công bố trên các sách báo. Theo chú thích của Trương Bá Cần, Sđd, tr.429.

(5)  Nxb Nghệ An tái bản 2008.

** Chúng tôi tôn trọng, giữ  nguyên cách trình bày như trong bản in. CTH.

(6) Đến đời nhà Thanh thì gộp thêm một số vùng đất khác mà lập ra xứ Tân Cương. Trong đó Tây Vực là phần đất xa khuất và trọng yếu nhất.

(7) Tức gả công chúa cho chúa Hung Nô để giữ tình giao hảo.

(8) Theo Tư Mã Thiên, “Sử ký” Nxb Văn học, HN 1963, Tr. 370-371.

(9) Ở câu thứ hai này một số bản viết “Tái hồi đầu…” , lại một số bản ghi là “Cố đầu hồi… “. Chữ cuối của câu cũng ghi khác nhau là “thân”. “cơ”, “nhân” ….Hoặc ở cuối câu 1 là chữ “Tiếu”…

 (10) Ông sinh vào ngày Dần, tháng Dần, năm Dần nên gọi luôn là Đường Dần.