Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Vệ sinh, giao thông và thẩm mỹ – 3 vấn đề cốt yếu trong việc quy hoạch thành phố Hà Nội của người Pháp

Ngày 7 tháng 3 năm 1941, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định số 1684 giao nhiệm vụ nghiên cứu và xây dựng đồ án quy hoạch và mở rộng Thành phố Hà Nội cho Sở Quy hoạch đô thị và Kiến trúc Đông Dương[1].

Trong bài viết “Le plus grand Hanoi” (Hà Nội lớn nhất) của Pineau, kiến trúc sư Sở Quy hoạch trung ương, ông giới thiệu chi tiết về đồ án này.

Đồ án được phê chuẩn và công bố năm 1942. Tuy nhiên, “trong quá trình điều tra cũng có những lo ngại trong dân chúng vì không thấy rõ những lợi ích mà đồ án này mang lại. Là một thủ đô, Hà Nội không thể là một thành phố bình thường. Đồ án được xây dựng với mục đích hướng tới cuộc cách mạng cho một thủ đô đã từng phát triển một cách rời rạc và không có trật tự. Đồ án được xây dựng để phát triển thành phố theo hướng tạo cơ hội cho các bộ phận cấu thành phát triển một cách hài hòa và đảm bảo cho các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội hoạt động trong điều kiện tốt hơn. Trên cơ sở toàn bộ đồ án, chúng ta thấy được sự phân bổ các khu phố theo nhóm một cách tự nhiên. Việc chia nhóm được gọi là “zoning” (khu vực). Thuận lợi của việc chia khu vực này là giúp thành phố hoạt động theo nhóm chức năng”.

  

Bài viết “Le plus grand Hanoi” (Hà Nội lớn nhất) của Pineau, kiến trúc sư Sở Quy hoạch trung ương

 

 

Đồ án quy hoạch tập trung giải quyết ba vấn đề cốt yếu theo trật tự ưu tiên sau: vệ sinh, giao thông và thẩm mỹ.

Theo kiến trúc sư Pineau, các công trình bệnh viện, phòng chẩn trị, trường Y khoa sẽ chẳng giúp ích gì nếu như chúng ta không tìm được nguồn gốc để chống lại các căn bệnh. Thêm vào đó, các khu dân cư lại quá đông đúc và điều kiện sinh sống mất vệ sinh, thiếu không khí và ánh sáng. Điều này chính là cội nguồn của bệnh tật và bệnh dịch đã lan tràn một cách thương tâm tại các địa phương ở Đông Dương. Các cuộc điều tra dân số của Sở Y tế thành phố Hà Nội chỉ ra kết quả là mật độ dân số đạt đến 3000 người trên 1 ha. Con số này không phải là hiếm đối với một thành phố thương mại. Tuy nhiên trong các khu nhà tranh, mật độ dân số từ 1000 đến 1200 người trên 1 ha. Các ngôi nhà ở tại Hà Nội chỉ có một đến hai tầng còn nhà tranh thì không có tầng trệt. Trong khi đó con số này ở các khu chung cư từ 6 đến 7 tầng đông dân nhất ở Paris dừng lại ở 1000 người.

Hậu quả của tình trạng này rất thảm hại. Chúng ta đều biết chiến tranh thường mang theo dịch bệnh. Chính điều này khiến cho việc cung cấp thuốc thang để dập dịch càng trở nên cực kỳ hiếm hoi. Mặt khác, một khu cư dân thực sự được coi là vệ sinh nếu không khí bên ngoài, ánh sáng và nước đều phải đầy đủ. Đồ án quy hoạch này vừa phải đối mặt với các vấn đề của một thành phố buôn bán bản xứ vừa phải bảo tồn một cách hiệu quả chức năng thương mại của nó. Tuy nhiên, một loạt các biện pháp được ban bố để tránh việc tăng mật độ dân số đồng thời tạo điều kiện cho cuộc cách mạng bằng giải pháp thương mại hiện đại.

Các khu phố đặc biệt có mật độ dân ít hơn dành cho khu biệt thự. Ngoài những thuận lợi để giải quyết vấn đề vệ sinh, việc giới hạn diện tích xây dựng quy định sẽ ngăn được việc đất đô thị tăng giá. Việc đấu tranh hợp pháp với giá thuê nhà cao là không hữu ích nếu chính sách về đất đô thị không quan tâm đến việc hạn chế giá đất và hạn chế đầu cơ một cách tự do. Đất giá cao dẫn đến tiền thuê nhà trở nên đắt đỏ.

Đồ án quy hoạch này cũng dự kiến lập ra khu công nghiệp dành cho tất cả các cơ sở công nghiệp, từng bị cho là không hợp lý trong các khu dân cư vì một lý do nào đó. Các cơ sở công nghiệp tập trung tại khu công nghiệp không chỉ tận dụng được việc kết nối thuận lợi giữa đường sắt và cảng đường thủy mà còn tận dụng được một diện tích đất lớn có giá trị thấp.

Một trong các vấn đề mà đồ án quan tâm là cho phép tập luyện thể thao trong các khu phố cho mọi lứa tuổi. Các khu vực vui chơi và sân vận động được quy hoạch trong các khu cư dân có sự kết hợp với các công viên và vườn hoa góp gần làm đẹp cảnh quan thành phố.

Các địa danh và công trình văn hóa được xếp hạng và không xếp hạng mà có giá trị thẩm mỹ được tập trung ở các công viên vườn hoa và làm nổi bật chúng bằng những phối cảnh hợp lý.

Vấn đề giao thông không đòi hỏi gay gắt trong thời điểm này. Việc thiếu xăng, sự khan hiếm ô tô trong các phố khiến người ta cho rằng chưa cần đặt ra vấn đề đi lại trong Hà Nội. Nó chẳng có gì khó khăn. Nhiều năm trước chiến tranh, nhiều biện pháp đã được sử dụng để điều chỉnh việc đi lại ở các địa điểm trung tâm. Các bục đứng được xây dựng ở các ngã tư, các điểm dựng đỗ xe, và đèn tín hiệu nhưng biện pháp này nhanh chóng chỉ ra rằng không đủ. Hơn thế, ngay lập tức cần phải xây dựng các đường ngang đường sắt và cho sửa sang tại các điểm nhạy cảm như cầu Doumer, quảng trường Neyret (nay là Vườn hoa Cửa Nam), phố Borgnis Desbordes (này là phố Tràng Thi), phố Jean Soler (nay là phố Thợ Nhuộm). Đồ án dự kiến đưa ra các giải pháp như xây dựng cầu đường bộ qua Sông Hồng, xóa bỏ các đường ngang đường sắt, chỉnh trang quảng trường Neyret v.v.. Các giải pháp này có thể tạo điều kiện cho việc đi lại trong tương lai. Việc trưng dụng đất giá cao tại các đường phố trung tâm gây tốn kém rất lớn nên các đường phố này ít thay đổi. Tuy nhiên, việc mở các lối đi ngang gần các đường phố này được xem xét và để tránh ùn tắc trong các đường phố buôn bán của trung tâm.

Đồ án quy hoạch và mở rộng cũng có thể là một dự án làm đẹp thành phố. Thành phố Hà Nội dễ dàng có được dáng vẻ của một thành phố dễ chịu nhờ những đại lộ lớn đầy cây ven đường và nhờ có sự có mặt của nước ở khắp nơi. Nếu không tính đến một số khu phố  được xây dựng giữa hai cuộc chiến tranh trong thời điểm kinh tế thiếu thốn, chúng ta phải nói rằng các khu phố nói chung là dễ chịu và thoáng khí nhưng hoàn toàn không có gu. Một chỉ trích tương tự đối với phần lớn các công trình công cộng được xây dựng vào thời điểm mà kiến trúc chỉ biết đến những công thức. Các công trình này ít nhiều đều là bản sao của các công trình của các tỉnh của nước Pháp. Chúng thường không đáp ứng những yêu cầu mới nữa. Mặc dù việc xây dựng lại các công trình này là công việc dài lâu nhưng vẫn phải xem xét. Các công trình như Sở Bưu điện đã được xây dựng. Khu Học xá đại học vừa được khởi xướng trong khu phố đại học và bệnh viện ở cửa ngõ thành phố, đây là một sự tô điểm đẹp đẽ nhất. Việc quy hoạch hồ Bảy Mẫu cho phép gắn kết hồ Halais với hồ Bảy Mẫu với phối cảnh hoành tráng. Quảng trường Pasteur (nay là Vườn hoa Pasteur) được chỉnh trang thành công viên. Cuối cùng, một con đường được mở bên bờ hồ chạy qua các công viên và khu đất trống dành cho ô tô, xe đạp, xe máy và dành cho người đi bộ ngắm cảnh.

Đây là các điểm lớn trong đồ án quy hoạch mở rộng và làm đẹp thành phố Hà Nội. Về điểm này dân chúng người Âu và người bản xứ có thể phê phán. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, việc công bố toàn bộ đồ án và tầm quan trọng của các công trình mà đồ án mang có thể gây xúc động đối với một số người tự cho là mình bị thiệt hại với một lý do nào đó về đất đai. Trước đó một chương trình tương tự đã được xây dựng cho khoảng 30 năm và việc thực hiện kế hoạch này cũng mất khá nhiều thời gian. Tuy nhiên các công trình vẫn dần dần được thi công và các chủ đất được đền bù, có được nghề buôn khác và nơi ở khác. Điều đó cũng xảy ra tương tự với đồ án mới này.

Những điểm quy định trong đồ án theo phương án phân khu vực “zoning” cũng gây nhiều khiếu kiện trong quá trình điều tra. Công chúng không đủ thông tin và phản đối ngay khi đưa ra công khai đồ án. Chẳng hạn dự kiến quy định về nhà dùng để buôn bán và để ở trong thành phố buôn bán bản xứ là phải có 3 tầng và một tầng trệt và mặt tiền tối thiểu là 6 mét 50. Trong khi đó, quy định chính thức về chiều rộng của các mặt nhà áp dụng linh hoạt và áp dụng cho các khu phố mới và khu đất chưa xây dựng. Ngoài ra, bản qui định này cho phép Đốc lý thành phố được quy định về chiều rộng và mặt tiền các nhà ở trong khu vực đã xây dựng không đáp ứng quy định về kích thước.

Chiều rộng mặt tiền nhà được quy định theo chiều rộng của phố. Như vậy, đối với nhà mặt phố rộng dưới 10 mét phải có mặt tiền 4 mét 50; nhà mặt phố rộng từ 10 mét trở lên thì mặt tiền phải rộng 5 mét 50; mặt tiền nhà phải rộng 6 mét 50 đối với nhà ở phố rộng trên 15 mét.

Tất cả mọi người đều biết về sự chật hẹp của các cửa hàng ở thành phố buôn bán này. Dưới mắt chúng ta, một thành phố mới đang được xây dựng lại trên nền một thành phố cũ. Nếu chúng ta vẫn giữ lại đặc tính cũ, khu phố đã rất đông đúc sẽ lại tăng dân số trong những điều kiện khá nguy hiểm cả về vệ sinh lẫn giao dịch buôn bán. Đồng thời chúng ta không thể xây dựng lại những khu nhà rộng 3 đến 4 mét thành 3 tầng, 1 trệt. Các ngôi nhà không đáp ứng quy định vẫn giữ nguyên không bị trưng dụng cũng không phải sửa chữa.

Để tạo điều kiện tập hợp các mảnh đất nhỏ, một số giải pháp đã được xem xét như: giảm thuế cho nhà xây dựng lại theo quy định, giảm thuế chuyển nhượng v..v… Hình thức đồng sở hữu được phép dử dụng ngay từ bây giờ. Việc thực hiện đồ án sẽ bắt đầu từ các khu phố ngoại vi như Khu Học xá đại học.[2].

Sau hơn một năm xây dựng, đồ án quy hoạch và mở rộng Thành phố Hà Nội và vùng ngoại ô do Sở Quy hoạch đô thị và Kiến trúc Đông Dương lập được phê chuẩn bằng Nghị định số 8962 ngày 5-12-1942 của Toàn quyền Đông Dương[3].

Theo quy định của đồ án, Thành phố Hà Nội sẽ được chia làm 11 khu (zone) mang ký hiệu từ A đến H: Zone A (khu biệt thự); zone B (khu Thương mại); zone C (khu biệt thự kiểu An-nam); zone D (khu nhà chia ô); zone E (khu buôn bán nhỏ theo kiểu An-nam); zone F (khu làng truyền thống của người An-nam); zone G (khu dự phòng cho các mục đích hành chính công cộng); zone H (khu công nghiệp). Ngoài ra còn có các khu trống (espaces libres) dành để xây dựng các khu vui chơi, giải trí, thể thao, công viên… Mỗi khu vực đều có các quy định riêng về kiểu dáng, kích thước, diện tích và vật liệu xây dựng nhà trong khu. Ngoài ra, đồ án còn kèm theo các quy định cấm thực hiện trong một số khu như cấm dán yết thị, cấm các chuồng trại lợn, ngựa và các vật nuôi khác…

Quy định riêng cho từng khu rất chi tiết như sau:

  • Khu A (villas): Khu biệt thự

Trong khu này chỉ được phép xây dựng nhà gia đình riêng hoặc nhiều nhất là nhà chung cho hai gia đình. Đốc lý có thể áp đặt kiểu kiến trúc cho một số khu nhà theo ý kiến của Sở Quy hoạch và Kiến trúc Trung ương. Diện tích mặt bằng không thể dưới 540m2 đối với công trình độc lập và đối với biệt thự cặp đôi trong Thành phố là 330 m2 và ngoại thành là 390 m2. Diện tích mặt bằng xây dựng công trình trong thành phố không được vượt quá 40% diện tích đất và không quá 35 % diện tích đất ở ngoại thành. Cầu thang ngoài, sân thượng, bậc thềm, ban công mở và các chi tiết trang trí không tính vào phần diện tích xây dựng  nói trên. Khoảng cách giữa hai mặt bên của nhà chính và giới hạn chung giữa hai nhà liền kề cũng được quy định chi tiết cho từng trường hợp. Chiều cao tối đa của nhà chính tính từ hè đường đến mái đua hoặc máng ở mái nhà không được vượt quá 12 mét. Chiều cao tối đa của tầng nhà được ấn định là 3 mét 50 từ sàn đến trần nhà. Chiều cao của tầng trệt không nâng nền là 2 mét 80 nếu nó chỉ bao gồm các khu phụ và 3 mét 50 nếu nó bao gồm các khu để ở. Trong trường hợp các biệt thự có điều hoà không khí thì chiều cao tối đa được ấn định là 3 mét từ sàn đến trần nhà. Số lượng tầng được giới hạn là 2 tầng gác và một tầng trệt. Được phép xây dựng một tầng lửng với diện tích không quá 1/2 diện tích tầng chính theo mẫu. Các khu phụ tách biệt với nhà chính không được xây dựng đối diện mặt tiền trên đường công cộng. Khu phụ có thể có tầng gác với diện tích tối đa là 1/2 tổng diện tích, chiều cao của tầng gác này không được thấp hơn 3 mét. Các khu phụ độc lập có thể được dùng chung. Đốc lý Hà Nội ấn định kiểu hàng rào bao quanh quay ra  đường công cộng. Các hàng rào khác không được cao quá 2 mét 20.

Trong khu vực này, cấm dán yết thị, cấm các chuồng trại lợn, ngựa và các loại chăn nuôi dễ gây ra những bất tiện cho các gia đình xung quanh.

  • Khu B – Khu tập thể và Thương mại

Trong khu vực này được phép xây dựng nhà có tầng gác theo kiểu Âu để ở tập thể hoặc dùng cho Thương mại hoặc nghề nghiệp. Diện tích xây dựng không được vượt quá 60% tổng diện tích đất. Số tầng gác không được quá 4 tầng và chiều cao của công trình không được quá 21 mét tính từ hè phố đến nóc nhà hoặc mái đua. Chiều cao tối thiểu của tầng trệt được ấn định là 4 mét 50 tính từ nền đến trần nhà. Chiều cao tối thiểu của tầng gác là 3 mét 50 trừ trường hợp nhà có lắp đặt điều hoà không khí. Nhà có lắp đặt điều hoà không khí thì chiều cao tối thiểu được quy định là 3 mét. Riêng với các công trình dành cho việc buôn bán ban ngày hoặc để làm khách sạn, rạp chiếu bóng, phòng hoà nhạc, ngân hàng v..v… thì các quy định về tỷ lệ phần đất xây dựng và kiểu mẫu có thể có thay đổi.

Chiều cao của mặt tiền nhà được quy định không được vượt quá 8 mét 50 đối với nhà ở mặt đường rộng 10 mét trở xuống; không được vượt quá 12 mét 50 đối với nhà ở mặt đường rộng trên 10 mét; không được vượt quá 17mét đối với nhà ở mặt đường rộng trên 18 mét; không được vượt quá 21 mét đối với nhà ở mặt đường rộng trên 25 mét.

Trong khu này, các biệt thự cũng được phép xây dựng với điều  kiện phải  theo các quy định của khu này. Trường hợp công trình xây dựng nằm ở góc giữa 2 phố có chiều rộng không bằng nhau, chiều cao tối đa cho phép của mặt nhà quay ra phố rộng được chấp nhận cho chiều cao mặt quay ra phố hẹp hơn, tuy nhiên, chiều dài của nó không vượt quá 1,5 lần chiều rộng của phố hẹp.

  • Khu C: Biệt thự kiểu bản địa

Trong khu này chỉ được phép xây dựng nhà ở độc lập hoặc nhà cặp đôi theo kiểu bản địa. Diện tích biệt thự độc lập không được nhỏ hơn 390 m2và 330 m2 đối với biệt thực chung tường. Diện tích phần xây dựng không được vượt quá 40% tổng diện tích đối với công trình trong Thành phố Hà Nội và 35% đối với công trình ở ngoại thành, trong đó phần diện tích xây dựng không bao gồm cầu thang ngoài và các chi tiết trang trí theo kiểu bản địa.

Chiều cao tối đa của nhà chính không vượt quá 11 mét tính từ hè đường đến máng thoát nước trên mái nhà. Chiều cao tối đa của mỗi tầng gác được quy định là 3 mét 30. Chiều cao của tầng trệt được ấn định là 2 mét 80 nếu tầng này bao gồm khu phụ và là 3 mét 30 nếu được dùng để ở. Chiều cao tối thiểu của các biệt thự có điều hoà không khí là 3 mét.

Kiến trúc của các công trình này bắt buộc phải theo kiểu truyền thống hoặc thể hiện nghệ thuật truyền thống địa phương. Các công trình này phải  được lợp mái ngói kiểu bản địa hoặc kiểu Trung Quốc, không dùng ngói làm bằng máy mang tính chất châu Âu. Chính quyền sẽ quy định kiểu hàng rào quay ra đường. Các hàng rào còn lại không thể cao quá 2 mét 20. Trong khu này, cấm dán yết thị.

  • Khu D – Nhà chia ô

Các công trình được gọi là nhà chia ô bao gồm các công trình xây chung tường kiểu bản địa có hoặc không có tầng gác, được một hoặc nhiều gia đình sử dụng và có thể dùng để kinh doanh.

Công trình nằm ở đường rộng 20 mét trở lên có thể xây hai tầng gác và một tầng trệt không nâng nền. Công trình nằm ở đường rộng bằng hoặc lớn hơn 10 mét được xây một tầng gác và một tầng trệt không nâng nền. Công trình nằm ở đường có chiều rộng dưới 10 mét chỉ được xây một tầng trệt. Diện tích đất của công trình không được nhỏ hơn 80 m2 đối với nhà có một tầng trệt và một tầng gác, 180 m2 đối với nhà có hai tầng gác và một tầng trệt. Diện tích phần xây dựng bao gồm cả khu phụ không vượt quá 60% tổng diện tích đất. Chiều cao không quá 12 mét đối với nhà nằm trên đường rộng từ 20 mét trở lên; 9 mét đối với nhà trên đường rộng dưới 20 mét; 5 mét đối với đường rộng dưới 10 mét. Chiều cao tối thiểu của tầng trệt là 4 mét, của tầng gác là 3 mét 30. Các quy định về phần đắp nổi và các điều cấm giống như quy định của khu B.

  • Khu E – Khu buôn bán theo kiểu bản địa

Các công trình liền kề dùng một phần hoặc chuyên dùng cho mục đích thương mại được phép xây dựng bên đường trong khu này.

Diện tích xây dựng bao gồm cả khu phụ không vượt quá 70% diện tích đất đối với công trình trong thành phố và 60% đối với công trình ngoại thành.

Chiều cao của công trình trong thành phố không vượt quá 8 mét 50 đối với công trình trên đường có chiều rộng nhỏ hơn 10 mét; 13 mét đối với công trình trên đường rộng 10 mét trở lên; 18 mét đối với công trình trên đường rộng 16 mét trở lên. Chiều cao của tầng trệt được quy định là 4 mét 50; chiều cao mỗi tầng gác được quy định là 3 mét 30.

Đối với các công trình dùng cho mục đích công cộng và thương mại như rạp chiếu bóng, nhà hát, phòng hoà nhạc… thì các quy định trên đối với diện tích xây dựng có thể thay đổi.

  • Khu F – Làng theo kiểu truyền thống bản địa

Trong khu này, các làng cần phải gìn giữ tính chất nông thôn và các hoạt động thủ công của chúng. Các công trình buộc phải theo kiểu truyền thống, phải được xây dựng bằng các nguyên liệu địa phương như gỗ, tranh, vách rơm nhồi đất và được lợp bằng ngói kiểu bản địa hoặc kiểu Trung Quốc, hoặc lợp bằng tranh. Không được dùng ngói máy kiểu Âu hoặc các nguyên vật liệu khác để lợp như đá, tôn, kẽm, bê tông… Công trình chỉ có một tầng trệt nền cao tối đa 1 mét. Tuy nhiên, các công trình này có thể có tầng gác nhưng phải được phép của Đốc lý Hà Nội.

Chiều cao tối đa của công trình không quá 8 mét. Diện tích xây dựng không vượt quá 30% tổng diện tích đất.

Trong khu vực này, nghiêm cấm chặt cây để mở đường, chia lô đất, đào hoặc lấp ao, làm nhà xây hoặc nhà gỗ mà không được phép của chính quyền.

  • Khu G – Khu đất dự phòng cho các mục đích hành chính công cộng

Khu vực này dùng để xây các công trình công cộng như trường học, chợ, đồn cảnh sát.

  • Khu H – Khu Công nghiệp

Khu này dành cho các công trình mang tính chất công nghiệp.

  • Khu nông thôn

Các công trình trong khu này có một tầng trệt theo kiểu bản địa, tuy nhiên có thể có thêm một tầng gác lửng với diện tích không quá 1/3 tổng diện tích công trình.

  • Khu vực trống (espaces libres)

Khu vực này dùng để lập các khoảng không, khu vui chơi, khu thể thao, công viên v..v..[4]

Trên đây là một số nội dung chính trong đồ án quy hoạch mở rộng và làm đẹp thành phố Hà Nội năm 1942. «Rất có thể một số điều khoản quy định gây khó chịu cho những người muốn làm cho nhà mình đông đúc thêm và sinh sống thiếu thốn và những người đang chờ các công trình của thành phố hoàn thành để tăng giá đất theo cách là muốn “tiêu tiền chung, thu lợi nhuận riêng”. Đồ án này không hướng tới những đối tượng này mà vì lợi ích chung không vì những lợi ích cá nhân [5]».

Kiến trúc sư Pineau đã mượn lời cuả Nguyên soái Pétain thay cho lời kết của bài viết « cá nhân chỉ tồn tại trong tập thể và phải làm tất cả vì tập thể và lợi ích chung là phần thưởng cho các cá nhân ».

 

Nguồn:Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Chú thích:

[1] MHN4162 (Phông Tòa Đốc lý Hà Nội), TTLTQG1

[2] PINEAU, Le plus grand Hanoi, Hebdomadaire illustré, số 108, ra ngày 24 tháng 9 năm 1942

[3] SCTT536 (Phông Sở Địa chính Bắc Kỳ), TTLTQG1

[4] SCTT 536 (Phông Sở Địa chính Bắc Kỳ) , TTLTQG1

[5] PINEAU,Le plus grand Hanoi, Hebdomadaire illustré, số 108, ra ngày 24 tháng 8 năm 1942