Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Về truyền thuyết một bài thơ: NAM QUỐC SƠN HÀ là vô danh, không phải của Lý Thường Kiệt

Bài thơ Nam quốc sơn hà là bài thơ vào loại cổ nhất, nổi tiếng nhất của văn học dân tộc, từ lâu thường được coi là do Lý Thường Kiệt viết ra, để cũ vũ binh sĩ trong cuộc chiến dịch chống quân Tống xâm lược năm 1076. Nay dựa vào truyền thuyết, huyền tích còn lại, thì Lý Thường Kiệt không phải là tác giả của bài thơ Nam quốc sơn hà ấy. Tất cả những ai từng cho bài thơ là của Lý Thường Kiệt đều có thể là võ đoán, ngộ nhận, ngoa truyền.

Dưới đây xin dẫn dụ tư liệu truyền thuyết, thần tích… để góp phần trả bài thơ về cho tác giả đích thực của nó : Thần mà thực chất là người, là trí thức trong đại chúng, là vô danh.
Trước hết xin trình bày tư liệu văn bản của bài thơ.
Theo Trần Nghĩa([1]) thì ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và ở Thư viện Viện Sử học hiện tàng trữ khoảng 26 văn bản([2]) bài thơ Nam quốc sơn hà. Lâm Giang trong bài : "Tư liệu Hán Nôm ở huyện Tiên Sơn, Thuận Thành và thị xã Bắc Ninh"([3]) cho ta biết thêm ở đền thờ Thánh Tam Giang thôn Phù Khê Đông (Phù Khê, Tiên Sơn) có biển gỗ khắc bài thơ Nam quốc sơn hà, Dương Thái Minh trong bài : Bài thơ "Nam quốc sơn hà". Đọc và hiểu từ một dị bản mới phát hiện([4]) công bố tiếp một dị bản bài thơ Nam quốc sơn hà còn giữ được trong bản thần phả ở đền Cửa ông Ngũ Huyện thuộc thôn Quả Cảm, xã Hoà Long, huyện Yên Phong, nay thuộc Bắc Ninh.
Riêng tôi, khi trở lại tìm hiểu về bài thơ này, đã nhanh chóng phát hiện thêm ngay trong tủ sách gia đình ba văn bản bài thơ. Một là : Dư địa chíKinh Bắc sách Lịch triều hiến chương loại chí([5]), hai là : Đền miếu – Bắc Ninh – Đại Nam thống nhất trí([6]), ba là : sách diễn ca lịch sử : Việt điện diễn âm([7]) đều ghi được toàn văn bài Nam quốc sơn hà. Trong số 31 văn bản trên đây, mới chỉ có một số thần tích – thể tài nhiều nhất có bài thơ Nam quốc sơn hà. Chỉ tính số qua ghi chép của Trương tôn thần sự tích([8]) thì ở Vũ Giang, Quế Dương, Tiên Du, Đông Ngàn, Yên Phong, Yên Lãng, Kim Anh, Đông Anh, Đa Phúc, Phượng Nhãn, Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hoà, Phúc Thọ đã có đến 291 xã có miếu đền thờ thánh Tam Giang([9]).
Nếu như mỗi đền chắc có một thần tích thì ta đã có 291 thần tích, tức 291 dị bản của bài thơ Nam quốc sơn hà.
Nhưng hãy chỉ qua hơn ba chục văn bản bài thơ đã "mục sở thị" thì cũng rút ra được nhiều nhận xét lý thú :
- Bài thơ là thành phần hữu cơ của truyền thuyết về Thánh Tam Giang([10])(còn gọi là Trương tôn thần, thần sông Như Nguyệt, Trương Hống, Trương Hát… cách gọi tên thần ở nhiều văn bản thường ít khi thống nhất). Vì vậy tìm hiểu bài thơ phải gắn với tìm hiểu truyền thuyết. Truyền thuyết này thường được in ấn, ghi chép trong các thần phả thần tích như : Trương tôn thần sự tích, Thần phả đền Cửa ông Ngũ Huyện, Việt điện u linh,… ;truyện ký như : Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử diễn ca, Việt sử tiên án… ;địa chí như : Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí,… Văn bản làm nền cho bài thơ phần nhiều viết bằng chữ Hán, song cũng có vài ba văn bản viết bằng chữ Nôm như : Việt sử diễn âm, Việt sử quốc âm, Việt dư phong vật tổng ca chú giải toàn tập. Trong các tập dùng quốc âm dẫn truyền sự tích, Bài thơ Nam quốc sơn hà vẫn được ghi chép hoặc in ấn bằng chữ Hán, chỉ một Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát – Phạm Đình Toái([11]) có nêu hiện tượng âm phù của thần, song không thấy in bài thơ Nam quốc sơn hà :
Bên sông Như Nguyệt trú dinh,
Giang sơn dường có thần linh hồ trì,
Miếu tiền phảng phất ngâm thi
Như phân địa thế, như trì thiên binh.
– Trong số 30 văn bản truyền thuyết có toàn bộ bài thơ bốn câu([12]), có thể thấy văn bản truyền thuyết được thần phả hoá trong Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, mang tên thần : Khước định thiên hựu, trợ thuận đại vương ; Uy địch dũng cảm, hiểu thắm đại vương là xưa nhất. Với tính chất một truyền thuyết, sau khi được Việt điện u linh cố định dưới dạng thần phả, tác phẩm vẫn cứ lưu truyền trong đời sống cộng đồng, không ngừng được bổ sung, sửa chữa theo đặc trưng tập thể, truyền miệng. Đến một bước nào đó, truyền thuyết lại được cố định hoá trong các thiên truyện ký với nhiều tình tiết mới, sai dị so với cũ([13]), lịch sử hoá trong các bộ sử trong mối quan hệ với nhân vật và sự kiện lịch sử([14]), địa chí hoá trong các bộ địa lý với tên làng, tên đất, tên sông([15]) có phần khác trước. Truyền thuyết vừa được lưu hành truyền miệng hết đời này sang đời khác, vừa được cố định hoá thành văn trong nhiều thể loại văn học như thế, đã mang tính chất một sáng tác dân gian với rất nhiều dị bản ; văn bản bài thơ Nam quốc sơn hà trong truyền thuyết trở nên phức tạp nhưng lại rất phong phú một cách tự nhiên trong đời sống văn hoá cộng đồng của một dân tộc thường xuyên chống xâm lăng giải phóng và bảo vệ đất nước. Chính vì vậy mà, khi muốn xác lập văn bản bài thơ, Trần Nghĩa đã phải qua thao tác thống kê, cách thức chọn lọc rất công phu, khoa học. Ấy thế nhưng vẫn cứ dùng văn bản hiện hành vốn đã được dùng từ lâu trong nhà trường, ngoài xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng và sản phẩm in ấn. Vấn đề văn bản và tác giả bài thơ, tôi đã có kiến giải ở bài : "Bàn thêm về văn bản bài thơ Lý Thường Kiệt"([16]), dưới đây có dịp sẽ nói thêm.
Để độc giả có thể nắm được nội dung chính của truyền thuyết này, xin tạm lấy Trương tôn thần sự tích, tuy in muộn, song là văn bản thích hợp được nhiều tư liệu về truyền thuyết Trương Hống, Trương Hát.
Trương tồn thần sự tích – bản in, VHv 1268, 67 trang, khổ 24ì14cm. Sách gồm 4 phần. Phần một là Sự tích mẹ Vân Mẫu của Trương tôn thần. Phần hai là Sự tích Trương tôn thần. Phần ba là Văn tế Trương tôn thần. Phần bốn là Các xã thờ Trương tôn thần. Sự tích kể rằng có một bà tôn hiệu là PHùng Từ Nhan([17]) ở xã Vân Mẫu huyện Vũ Giàng (nay thuộc Bắc Ninh) nằm mộng thấy cảm giao với Long thần ở Lục Đầu Giang có thai 14 tháng, sinh ra một bọc có bốn trai, đặt tên là Hống([18]), Hát, Lừng, Lẫy, và một gái tên là Đạm Nương. Lúc bé đám nhỏ này thường cùng đám trẻ làng chơi nhiều trò kỳ lạ. Lớn lên, học với thầy họ Lã, lầu thông binh thư, võ lược. Lúc nhàn rỗi thường hỏi mẹ về cha. Mẹ bèn thuật lại chuyện xưa, nói các con đều là dòng dõi của thuỷ thần họ Trương, từ đó bèn xin lấy theo họ Trương.
Khi Triệu Việt Vương dấy nghĩa, hai anh em Hống, Hát theo về giúp, trở thành tướng giỏi. Sau Triệu Việt Vương thất bại, Hậu Lý Nam Đế triệu ra, anh em từ chối rồi tự tử để giữ tiết với chủ cũ. Khi Nam Tấn Vương Ngô Hậu chúa đi đánh giặc Lý Huy, anh em họ Trương bấy giờ được trời phong thần, đều âm phù Hậu chúa dẹp loạn,…
Năm Thiên Phúc thứ hai (981) đời Lê Đại Hành, nhà Tống sai Hầu Nhân Bảo đem quân xâm lược nước ta, thần âm phù nhà vua đánh giặc bằng lời thơ vang lên từ trong đền :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng thiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhất trận phong ba trận tảo trừ.
Tạm dịch :
Núi sông nước Nam, vua Nam ngự trị
Thượng đế đã phân định tại sách trời.
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm
Gió mây một trận quét trừ hết giặc thù.
Năm Thái Ninh thứ năm (1076) đời Lý Nhân Tông, Tống sai Quách Quỳ xâm lược. Vua ta sai Lý Thường Kiệt chống lại. Quân ta đóng ở trên đền Trương Đại Vương. Đêm ấy, trăng sáng tựa ngày, bỗng nghe tiếng kiếm mã trong không trung, xa thấy hai thần thống lĩnh kỵ binh, phi trong mây trắng, cùng ngâm thơ rằng :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại thư.
Dịch thơ :
Núi sông Nam Việt vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây,
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
(Lê Thước – Nam Trân dịch)
Quân Tống nghe thơ hoảng loạn, không bị đánh mà tự vỡ. Lý Thường Kiệt đuổi theo giết chết không biết bao nhiêu mà kể. Giặc đại bại rút chạy về Bắc. Đến thời kháng Nguyên Mông, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cầu khấn thần trợ binh đánh giặc, nhất nhất đều linh nghiệm,… Trương Hống, Trương Hát và cả các em đều được phong thần, đời đời huyết thực([19]) .
Nhân dân dựng đặt mấy trăm đền miếu phụng thờ các thần suốt cẳ một vùng lân cận sông Cầu, sông Thương, nay thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh và nhiều làng xã ở các phủ huyện nay thuộc Hải Dương, Hà Tây, Phú Thọ,…
Đến đây, sau khi đã tóm tắt Trương tôn thần sự tích, ta có thêm điều kiện để so sánh nó với 29 dị bản còn lại, thấy rõ sự khác biệt thật không ít tình tiết, về tên sông, tên đất, tên xã, tên làng, đặc biệt về từ ngữ, về thứ tự từ ngữ của câu thơ, v.v. Tất cả đều thành vấn đề, đều là hiện tượng thường thấy khi truyền thuyết được lưu truyền qua nhiều đời, nhiều nơi.
*
*     *
Kết luận có thể rút ra ở đây là : Trương tôn thần sự tích và 29 dị bản còn lại thể hiện rõ tính chất của truyền thuyết, huyền tích, với khá nhiều mô típ của thể tài nguyên thuyết như thụ thai, sinh đẻ thần kỳ, cha rồng, sinh một bọc nhiều con, chết kỳ dị, có phong thần, hiển thánh, ám trợ, âm phù, có nhiều tình tiết ảo huyền, kỳ dị (nằm mộng thụ thai, tiếng thơ vang lên từ đền thần, tiếng kiếm mã giữa không trung, đoàn kỵ binh trong mây trắng, v.v…) Đặc biệt truyện kể luôn gắn liền với nhân vật sự kiện lịch sử. Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử, Ngô Quyền, Ngô Xương Văn, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Huy Diêu (Hiển Tông), Tôn Thất Thuyết. Rõ ràng ở đây có chuyện thiêng hoá quá khứ và tôn vinh lịch sử, một đặc trưng của truyền thuyết. Qua văn bản trên còn thấy rõ truyền thuyết về một bài thơ với xuất xứ thần kỳ, lời thơ dõng dạc, đanh thép, văn bản biến động nên phức tạp nhưng lại phong phú, đa dạng. Xin được qua văn bản truyền thuyết rút ra :
KIẾN GIẢI – NHẬN XÉT VỀ BÀI THƠ VÀ TÁC GIẢ BÀI THƠ
1. Về văn bản bài thơ. Qua ba chục văn bản truyền thuyết, ta có 30 văn bản thơ, chia thành ba nhóm. Nhóm một khoảng một chục bản gồm các dị bản của Việt điện u linh vốn là thần tích được Lý Tế Xuyên biên soạn lại và mấy bản thần tích khác. Nhóm hai khoảng hơn chục bản gồm các dị bản của Lĩnh Nam chích quái vốn là truyện cổ dân gian được Trần Thế Pháp – Vũ Quỳnh – Kiều Phú biên soạn lại, cùng với Thiên Nam vân lục có cùng tính chất([20]). Nhóm ba khoảng gần chục bản gồm các sách sử ký, địa chí. Ba mươi bài thơ xuất xứ từ 30 truyền thuyết, cũng có đến 30 dị bản([21]), chỉ một hai trường hợp giống nhau gần như hoàn toàn về mặt chữ. Dọc theo các dị bản, thấy bài thơ không ngừng biến động theo hướng tái tạo. Văn bản cổ nhất của bài thơ thuộc nhóm Việt điện u linh so với văn bản muộn nhất Trương Tôn thần sự tích cũng chỉ khác nhau một trường hợp đảo từ. Ở bản xưa là : "Tiệt nhiên phận định tại thiên thư", ở bản muộn là : "Tiệt nhiên định phận tại thiên thư". Như thế, là văn bản bài thơ tương đối ổn định. Tuy nhiên muốn xác lập văn bản bài thơ cũng chẳng mấy dễ dàng.
Giáo sư Trần Nghĩa đã thử làm, dựa vào tần số xuất hiện các từ và đối tượng nghe thơ là quân ta, ông đề xuất một văn bản :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư !
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm ?
Nhất trận phong vân tận tảo trừ !
Tạm dịch :
Non nước phương Nam, vua Nam quản,
Rành rành phận định tại sách trời.
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm ?
Gió mây một trận quét tơi bời([22]).
Văn bản này được xác lập từ đầu năm 1986. Đến nay đã 1 năm, nhưng đời vẫn cứ dùng bản hiện hành vốn là văn bản bài thơ thứ hai trong Trương tôn thần sự tích (đã dẫn) được nhà sử học Trần Trọng Kim đưa vào Việt Nam sử lược([23]) và được nhiều thế hệ dùng theo trong tất cả các văn bản viết, in, khắc sơn gỗ từ năm sáu chục năm nay. Văn bản này của bài thơ đã trở nên quen thuộc, giới học thuật đã tốn bao bút mực bàn luận về nó từng câu, từng chữ, người Việt đã duy nhất ưu tiên cho nó sự ghi nhớ đến thuộc lòng bốn câu thơ chữ Hán từ thời chống thực dân Pháp xâm lược, nhất là thời chống Mỹ cứu nước,… Vì vậy văn bản có tính chất lịch sử, từng được coi là quốc thi, quốc thiều, có giá trị như Tuyên ngôn độc lập đầu tiên, không dễ gì thay đổi mà thực ra cũng không nên và không còn có thể thay đổi được nữa.
2. Về mặt tính chất. Đây là bài thơ thần, nằm trong một văn bản có dạng truyền thuyết, loại truyền thuyết anh hùng thường thấy trong lịch sử nước ta, được thần phả, u linh, chích quái, sử ký, địa chí, truyền kỳ ghi lại. Ngay trong Việt điện u linh, sau truyền thuyết này, là truyền thuếyt về Lý Phục man tướng của Lý Nam Đế đem âm binh giúp ngầm Ngô Tiên chủ đánh quân xâm lược Nam Hán, Lê Đại Hành đánh Tống và còn để lại một bài thơ thần trong mộng ảo của Lý Thái Tổ([24]). Ba vị thần ở đền Đào Xá (Thanh Thuỷ – Phú Thọ) cũng âm phù Lý Thường Kiệt đánh Tống và đọc một bài thơ khiến Lý Thường Kiệt thêm tin tưởng.
Nam thiên dĩ định đế Nam quân,
Đại đức giai do đức nhật tân.
Thật quận sơn hà đô nhất thống
Tổng binh bất miễn tản như vân.
Dịch nghĩa :
Trời Nam đã định vua Nam ở
Đức lớn ngày thêm đức mới ra
Bảy quận non sông đều một mối
Tống binh tan tác tựa mây sa([25]).
Những bài thơ loại này thường thấy trong các truyền thuyết, cổ tích lịch sử, huyền tích… ghi lại hiện tượng ám trợ của thần linh vốn là anh hùng cứu nước cứu dân, cho con cháu đời sau dẹp nội loạn, chống ngoại xâm.
Về thể tài thì Nam quốc sơn hà là một bài thơ thất ngôn tuyệt cú, ngôn từ có tính chính luận, diễn dịch một thiên mệnh, khẳng định một thiên uy, giống như một lời giáng bút, một sấm ngôn : "Đất nước này của vua Nam thụ mệnh ở trời, kẻ nào xâm chiếm là nghịch thiên mệnh, tất bị tru diệt". Loại thơ có tính chất sấm ký này đang rất thịnh đạt lúc đương thời. Sư Vạn Hạnh được coi là : "Dung tam tế, ưng phù cổ sấm thi" (thông suốt cả ba cõi trời, đất, người, nên lời nói ra thường ứng hợp với câu thơ sấm cổ"([26]). Song, trước Vạn Hạnh đã có không ít sấm truyền, dùng lời nói kín (ẩn ngữ) để dự đoán cát hung. Bài Sấm ngôn : "Thụ căn diểu diểu, một biểu thanh thanh. Hoà đao mộc lạc, thập bát tử thành…" (Gốc cây thăm thẳm, ngọn cây xanh xanh. Cây hoà đao rụng, mười tám hạt thành…" là rất tiêu biểu, vì lời kín ở đây là sự mách bảo nhà Lê mất, nhà Lý sẽ lên thay.
Về thời gian xuất hiện của bài thơ và cũng là truyền thuyết về Trương Hống, Trương Hát cũng là chuyện cần bàn. Hiện chưa thể biết rõ truyền thuyết về bài thơ và bài thơ cùng xuất hiện hay truyền thuyết có trước, bài thơ có sau và ngược lại. Điều chắc chắn là truyền thuyết trong có bài thơ không thể xuất hiện muộn hơn năm ra đời sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên : 1329, một công trình biên soạn về các vị thần linh vốn được thờ cúng ở nước ta. Vì ở sách này thì bài thơ đã là thành phần hữu cơ gắn với truyền thuyết. Văn bản muộn nhất của truyền thuyết và bài thơ, có lẽ là Trương tôn thần sự tích do Nguyễn Thịnh Dẫn xuất bản năm 1929 ( ?) ở Hà Nội. Khó dự đoán nhất có lẽ là việc tìm kiếm thời gian ra đời sớm nhất của truyền thuyết. Nếu dựa vào lời văn sách Việt điện u linh khi dẫn : "Theo sử ký của Đỗ Thiện : Hai Vương là hai anh em ruột một nhà. Xưa vua Ngô nam Tấn (951 - 965) đi đánh giặc Lý Huy ở Long Châu… thần xin giúp sức vua đi đánh". Và ở đoạn sau Thần nói với Ngô Nam Tấn : "Trước đây Tiên đế (tức Ngô Quyền) đánh trận Bạch Đằng, chúng tôi cũng đã theo giúp", thì truyền thuyết có thể xuất hiện từ thời Ngô và sau đó là thời Đinh Lê, tức đầu thời tự chủ. Dự đoán này phù hợp với thể tài, tính chất của bài thơ (thơ – hịch – sấm) như đã nói trên, và nhất là phù hợp với chủ đề có tính chất thời đại của thơ ca thời này là khẳng định dân tộc, trước hết là khẳng định độc giả tự chủ.
Cuối cùng là vấn đề có tầm quan trọng bậc nhất : Ai là tác giả bài thơ?
Qua 30 văn bản bài thơ, thắp đuốc mà tìm cũng không thấy câu chữ nào ghi nhận Nam quốc sơn hà do Lý Thường Kiệt viết ra. Cũng không hề thấy chỗ nào nói tương truyền là của Lý Thường Kiệt, hay của Lê Hoàn. Thơ ấy là của thần, nằm trong một truyền thuyết, nên nó chưa từng được một tuyển tập thơ chính thức nào ở thời phong kiến tuyển chọn. Bài thơ đáo là của thần. Nói cho đúng thì của thần về thực chất chính là của người. Người đây không phải Lê Hoàn hay Lý Thường Kiệt mà là trí thức trong dân của thời đầu tự chủ, đang ngày đêm lo toan sản xuất để sống, chiến đấu để bảo vệ nền tực chủ vừa mới giành được, nhưng luôn luôn bị đe doạ cướp đoạt. Bài thơ bằng chữ Hán và lời lẽ đanh thép, dõng dạc, hàm súc của nó, chủ đề minh bạch và có tính chất thời đại của nó, khiến ta nghĩ đến nó phải là của các đại nhân trong hàng ngũ trí dân([27]). Những người này làm ra do nhu cầu thời đại, lưu truyền, sửa chữa, có thể trước sau hoặc cùng với truyền thuyết. Bài thơ có thân mệnh của một sáng tác tập thể, truyền miệng, có tính chất quần chúng, cập nhật. Tác giả bài thơ là của muôn sĩ dân, làm ra đáp ứng nhu cầu thời bình minh của sự nghiệp đại phục hưng dân tộc thế kỷ X, XI,… Xin trả lại bài thơ cho chủ nhân đích thực của nó. Rồi có thể gọi nó là Thơ thần nhưng thực chất là của người, để nó là khuyết danh cũng được, song chẳng còn hy vọng gì tìm ra tác giả của nó, nên để nó là vô danh như tác phẩm văn học dân gian thì đúng hơn.
Vả lại, có để : thơ thần – vô danh mới thấy hết ý nghĩa khoa học uyên áo của thiên truyền thuyết anh hùng lịch sử. Bài thơ trong truyền thuyết, thực chất là lời lẽ âm phù, ám trợ của thần thánh cho hậu thế đánh giặc cứu nước. Bài thơ gắn với câu chuyện đậm màu sắc huyền ảo thường thấy trong truyền thuyết dân gian. Nếu như thần thánh ở đây là tượng trưng cho truyền thống được thể hiện qua tập tục thờ phụng thần linh, thì những yếu tố kỳ ảo lại là khái quát hoá, huyền tích hoá sức mạnh tâm thức và nguyện ước con người thời đại. Nếu như không có chuyền thần đọc thơ, Lý Thường Kiệt nằm mộng như trường hợp thần phù trợ Lê Hoàn, mà có chuyện Lý Thường Kiệt dùng thơ thần, sai người nấp vào đến thờ đọc lên để cổ vũ tướng sĩ chiến đấu thì ông đã hành động như một nhà tâm lý học sành sỏi. Sành sỏi là ở chỗ chọn được, mượn dược lời lẽ của thần linh đương thời vốn là anh hùng cứu nước, khích lệ ý chí chiến thắng của tướng sĩ đang đối luỹ với quân thù. Lời lẽ ấy là của thần chứ không phải của người, càng không phải của Tướng quân Lý Thường Kiệt. Suy nghĩ thế và làm như thế là phù hợp với tâm thức thời đại, không duy lý đơn giản mà đặc cược vào niềm tin con người. Thần nói đáng tin hơn người nói, trời bảo thiêng hơn người bảo, mà thần linh thì đâu phải xa lạ, đang được thờ ngay trong vùng chiến luỹ kia kìa !"([28]). Tất cả phải đặt trong bối cảnh lịch sử thời ấy.
Sự thực về xuất xứ bài thơ và tác giả đích thực của bài thơ, như đã tường giải trên đây là như vậy. Thế mà, từ trước Cách mạng tháng Tám cho đến nay, không ít học giả nổi tiếng vẫn khẳng định trong các công trình khoa học của mình : Bài thơ Nam quốc sơn hà là của Lý Thường Kiệt, hoặc tương truyền là của Lý Thường Kiệt, hoặc do Lý Thường Kiệt tự viết rồi giả thác của thần v.v… Thật không đâu hơn lại có sự thống nhất cao như vậy của nhiều bậc trưởng lão đầy quyền uy học thuật bắt vít tên Lý Thường Kiệt vào bài thơ Nam quốc sơn hà. Hầu hết đã như dựa vào tinh thần duy lý của Nho giáo, bác bỏ mô típ âm phù dương trợ rất linh kỳ diệu cảm của truyền thuyết dân gian. Xin chỉ dẫn ra một số học giả từng có nhiều công trình khảo cứu, biên soạn : Trần Trọng Kim([29]). In lần thứ hai mới lấy tên sách là : Việt Nam sử lược, 1918) viết : "Lúc bấy giờ quân nhà Tống đánh hăng lắm, Lý Thường Kiệt hết sức chống giữ, nhưng sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện (tôi nhấn mạnh : B.D.T) nói rằng có thần cho bốn câu thơ…), Hoàng Xuân Hãn([30]), Nguyễn Đổng Chi([31]), Dương Quảng Hàm[32], Văn Tân([33]), v.v... và mấy bộ tùng thư của thời đại : Đinh Gia Khánh([34]) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam([35]), Thơ văn Lý Trần([36]), Tổng tập văn học Việt Nam([37]),v.v. Rồivô vàn người dẫn dụ, nghiên cứu, giảng dạy bài thơ, nhiều nhất là trong các văn bản thời kháng chiến chống Mỹ. Đáng chú ý thêm, không chỉ hàng trăm dẫn dụ bài thơ là của Lý Thường Kiệt trong những bài viết đăng tải trên sách báo tạp chí, phát thanh, truyền hình qua các đài trung ương, địa phương, nhất là Hà Nội, mà là việc đưa tên Lý Thường Kiệt gắn với bài thơ vào các loại bảo tàng, nhà lưu niệm, di tích văn hoá lịch sử, việc khắc hoạ tên Lý Thường Kiệt cạnh bài thơ vào hoành phi, câu đối… nhưng nơi thờ phụng Tướng quân. Tình trạng nhầm lẫn đến mức Giáo sư Hà Văn Tấn – nhà sử học và nhà văn bản học hàng đầu của thời đại – phải kêu lên : "Không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cẳ. Sử cũ chỉ chép rằng trong một trần chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đem quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đến thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rưàng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ. Nhưng đó là đoán([38]) thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng, cho đến nay, mọi người dường như đều tin rằng đó là sự thật, hay nói đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật"([39]).
Kể ra cũng có một số học giả chưa đọc, chưa biết, chưa chú ý tới bài thơ và tác giả bài thơ, hoặc đã biết tới nhưng còn hoài nghi, băn khoăn, thận trọng, do dự, không dứt khoát, v.v. Hoàng Xuân Han x sau khi đã theo Trần Trọng Kim, cho bài thơ là của Lý Thường Kiệt như đã dẫn trên đây, viết thêm : "Nhưng nói chắc là Thường Kiệt làm được thơ thì không có gì làm bằng cứ" (Đã dẫn), Ngô Tất Tố trong Văn học đời Lý([40]), Hoa Bằng trong Thử viết Việt Nam văn học sử"([41]), Nguyễn Văn Tố trong bài phê bình : Đọc sách "Việt Nam văn học" của Ngô Tất Tố khôlng viết gì bài thơ, tác giả bài thơ. Giáo sư Trần Nghĩa trong bài Thử xác lập… (Đã dẫn) mới chỉ đi vào khâu văn bản của bài thơ, song chắc ông thừa hiểu qua mấy chục văn bản ông nắm được, Lý Thường Kiệt có quan hệ thế nào với bài thơ. Một vài học giả, khi dẫn dụng bài thơ chỉ nói đây là bài thơ thần, hoặc văn bản và tác giả bài thơ còn cần phải bàn… có thể xem đó là thái độ hoài nghi khoa học.
Điều đáng ghi nhận là trong dịp Lễ hội kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội tối ngày 8 - 10 - 2000, bài thơ được đọc sau khi giới thiệu chiến công chống Tống của Lý Thường Kiệt, nhưng không hề khẳng định ông là tác giả bài thơ. Lời đọc rằng : "… còn vang vọng mãi đến ngày hôm nay bài thơ thần (tôi nhấn mạnh : B.D.T) : Núi sông nước Nam…([42]). Xin lấy tư cách cá nhân cảm ơn Tổng đạo diễn – Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Thị Thành – Giám đốc Sở Văn hoá Hà Nội, Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức, những người có trách nhiệm lớn về những lời đọc dẫn giải buổi đại Lễ hội đêm hôm ấy.
Để khẳng định bài thơ Nam quốc sơn hà là khuyết danh tác giả, Lý Thường Kiệt chỉ là người sử dụng bài thơ đã sẵn có để khích lệ tướng sĩ chiến đấu, tôi đã viết đến ba bài([43]), nhắc đến dăm bảy lần khi viết những vấn đề có liên quan đến bài thơ, và đặc biệt nói ở trên lớp sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh không nhớ đã bao lần ở hàng chục lớp ở Hà Nội, mấy chục lớp ở miền Trung, miền Nam khi đào tạo các lớp cao học, cử nhân sư phạm… Bài : Nên chọn tác phẩm nào là sớm nhất của văn học trung đại Việt Nam([44]), bài : Bài thơ sớm nhất : Nam quốc sơn hà" hay Quốc tộ([45]). Ở hai bài này, tôi hướng việc chòn vào Nam quốc sơn hà mà tôi cho rằng đã ra đời sớm hơn Quốc tộ. Vì Nam quốc sơn hà được thần đọc giúp Lê Hoàn khi đánh Tống, tất phải xuất hiện trước bài thơ Quốc tộ của Pháp Thuận, viết để trả lời Lê Hoàn hỏi về vận nước sau khi chống Tống thắng lợi năm 981. Bài : Bàn thêm về văn bản và tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà"([46]) cũng có đoạn viết : "Bài thơ là của thần, thần sông Như Nguyệt : Trương Hống, Trương Hát, đúng hơn là của tập thể các tác giả đã tạo nên những huyền thoại, truyền thuyết, những lời tương truyền".
Ở loại sách giáo khoa trung học, một loại sách đòi hỏi độ chính xác cao về tư liệu văn bản, các soạn giả thường để dấu : ( ?) tỏ sự nghi nghờ([47]) ở cấp trung học phổ thông, còn ở Văn học 9. Tiểu dẫn đã viết : "Nam quốc sơn hà… là do Thần đọc giúp Lý Thường Kiệt cổ vũ tướng sĩ". Chú giải còn nói rõ hơn : "Thực ra coi đây là bài Thơ Thần – khuyết danh thì mới phù hợp với tư liệu hiện còn"([48]). Công trình kể biết mấy mươi", thế mà vẫn gặp phải tập quán cố hữu, hoặc làm ngơ qua nhiều phương thức truyền thông văn hoá, văn học, nhất là trên trang sách của một số đại nhân đã và đang cộng tác với các ngành văn hoá, văn học trong một vài công trình về Thăng Long – Hà Nội – Triều Lý([49]), v.v.
Trong hội thảo quốc tế Việt Nam trong thế kỷ XX tháng chín vừa qua, gặp Giáo sư Hà Văn Tấn, tôi có ý than phiền về tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà đã viết đến thế mà có một số học giả vẫn cứ hiểu như cũ, như xưa, Giáo sư cười rồi nói với tôi rằng : Nghiên cứu khoa học là thế đấy, mình tìm ra rồi nhưng người ta vẫn viết thế, cứ phải đợi thôi ! Xin coi đây như lời kết của bài viết đã dài này[50].
(Văn hoá dân gian, số 4–2000 ;
Văn nghệ Vĩnh Phú, số 1+2/ 2001;
In lại trong Bựi Duy Tõn tuyển tập.
NXB Giỏo dục, H., 2007)
 
 


([1]) Tạp chí Hán Nôm, số 1 - 1986, bài Thử xác lập văn bản bài thơ "Nam quốc sơn hà".
([2]) Nói khoảng vì vó văn bản khuyết thiếu một số câu thơ…
([3]) Tạp chí Hán Nôm, số 2 - 1993.
([4]) Tạp chí Hán Nôm, số 3 - 1993.
([5]) NXB Sử học, H., tr. 89.
([6]) NXB Thuận Hoá, tập IV, tr. 110.
([7]) NXB Văn hoá – Thông tin, H., tr. 79.
([8]) Bản in VHv 1268, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
([9]) Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt chắc đã dựa vào Trương Tôn thần sự tích, nên chú thích rằng : "Cả vùng sông Cầu và Thương có đến hơn 290 ngôi đền thờ hai vị thần họ Trương, NXB Sông Nhị, H., 1949, tr. 303.
([10]) Sách Đại Nam nhất thống chí, Bắc Ninh, Sđd viết : "Tam Giang có sách chép là Nam Giang, có sách chép là Bình Giang là tên một đoạn của sông Cầu và sông Lục Ngạn. Như Nguyệt cũng là tên một đoạn của sông Cầu.
([11]) NXB Văn học, H., 1966, tr. 126.
([12]) Bản Việt điện u linh (VHv 1503) không có bài thơ.
([13]) Như trong Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục liệt truyện,
([14]) Như trong Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án,…
([15]) Như trong Dư địa chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí.
([16]) Tạp chí Văn học, số 10 - 1996.
([17]) Chưa rõ tên thật.
([18]) Một bản Đại Việt sử ký viết người anh cả có tên là Khiếu.
([19]) Xưa lấy huyết tế thần nên huyết thực là chỉ hưởng thụ sự cúng tế.
([20]) Chỉ xin lưu ý hai trường hợp đặc biệt là : 1. Thiên Nam vân lục liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí,… Trương Hống, Trương Hát làm quan ở thời Ngô Vương, sau bị Đinh Bộ Lĩnh ép ra, nhưng không chịu khuất phục bèn uống thuốc tự tử. Tình tiết "mới lạ" này cứ nhại đi nhại lại tình tiết về mối quan hệ củă hai thần với Triệu Việt Vương và Hậu Lý Nam Đế. 2. Trong các văn bản thần phả Việt điện u linh, có thêm tình tiết : Trương Hống, Trương Hát từng giúp Ngô Quyền đánh trận Bạch Đằng.
([21]) Mỗi truyền thuyết, thần phả… có một bài thơ. Nhưng Trương tôn thần sự tích như đã dẫn, có đến 2 dị bản của bài thơ. Thần đọc thơ hai lần, lần thì giúp Lê Đại Hành, lần thì giúp Lý Thường Kiệt.
([22]) GS. Trần Nghĩa cho rằng : So với bài thơ quen dùng hiện nay thì bài thơ này khác ở hai điểm. Thứ nhất : đảo định phận thành phân định để nói sự phân chia đã ổn định không nên thay đổi, câu thơ hợp niêm luật, âm điệu hay hơn. Thứ hai thay hẳn câu thơ thứ 4 để phù hợp đối tượng tác động của bài thơ là quân ta. Xem Thử xác lập… đã dẫn
([23]) Tân Việt, H., 1944, NXB Văn hoá – Thông tin tái bản, H., 1999, tr. 112.
([24]) Việt điện u linh, bản dịch Truyện Chứng An Minh ứng Hựu Quốc Công. NXB Văn hoá, H., 1972.
([25]) Truyền thuyết anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H., 1971, tr. 139.
([26]) Trích xuất từ bài Truỵ tán Vạn Hạnh thiền sư của Lý Nhân Tông.
([27]) Thời nay, đa số trí thức là tăng lữ, nho sĩ còn quá ít.
([28]) Ở làng Vọng Nguyệt, tục gọi là làng Ngọt, có bến đò Ngọt, có Trạng Ngọt Hứa Tam Tĩnh, bên bờ sông Như Nguyệt (tức quãng sông Cầu ở đoạn giáp với Bắc Ninh – Bắc Giang) có đền thờ Trương Tướng quân. Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến chống giặc ngay ở khu vực có đền thờ đó.
([29]) Việt Nam sử lược, tái bản. NXB Văn hoá – Thông tin, H., 1999, tr. 112 (Tập sách này in lần thứ nhất : Sơ học An Nam sử lược, 1917.
([30]) Lý Thường Kiệt, NXB Sông Nhị, H., tr. 303 (tái bản), viết : "Sự thật có lẽ như tôi đã theo ý Trần Trọng Kim, nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt" (tôi nhấn mạnh : B.D.T).
([31]) Việt Nam cổ văn học sử, Hàn Thuyên xuất bản cục, H., 1942, tr. 143 viết : "Thường Kiệt khi thúc quân cự địch, một hôm giả thác chuyện (tôi nhấn mạnh : B.D.T) nằm chiêm bao thấy có một vị thần cho bài thơ rằng".
([32]) Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ mười, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1968, tr. 231 – 232 viết : "Lý Thường Kiệt khi chống nhau với quân địch, có làm bài thơ (tôi nhấn mạnh : B.D.T) để khuyến khích tướng sĩ, lời lẽ thật khảng khái".
([33]) Tổng tập văn học Việt Nam, tập I, Chủ biên : Văn Tân, NXB Khoa học xã hội, H., 1980, tr. 231 viết : "bốn câu thơ bất hủ của Lý Thường Kiệt (tôi nhấn mạnh : B.D.T) đọc ở đền Trương Hát – Trương Hống đầu xuân năm Định Tỵ…".
([34]) Lịch sử văn học Việt Nam, tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1980, tr. 192 viết : "Năm 1076 để khích lệ tướng sĩ trong cuộc quyết chiến với quân xâm lược Tống ở sông Cầu (sông Như Nguyệt), Lý Thường Kiệt đã nhân danh thần sông Như Nguyệt làm bốn câu thơ sau" (tôi nhấn mạnh : B.D.T).
([35]) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (thế kỷ X - thế kỷ XVIII), Đinh Gia Khánh – Bùi Văn Nguyên – Nguyễn Ngọc San. Tái bản, NXB Văn học, H., 1976, tr. 56, 57, 58, tuyển thơ văn Lý Thường Kiệt ở sâu Cầu, tương truyền rằng để cổ vũ quân sĩ, ông đã đọc bài thơ sau đây". Khi ghi xuất xứ bài thơ, sách này đã nhầm lẫn, cho là của Hoàng Việt thi tuyển – Bùi Huy Bích. Sự thực không có một Hợp uyển thơ văn nào thời phong kiến tuyển bài thơ này..
([36]) Thơ văn Lý Trần, tập I, Khảo luận văn bản : Nguyễn Huệ Chi, NXB Khoa học xã hội, H., 1977, tr. 318 - 322, tuyển thơ văn Lý Thường Kiệt, có đoạn viết : "Có lẽ Lý Thường Kiệt đã tạo ra câu chuyện thần linh đó để khích lệ tinh thần quân sĩ. Bài thơ đã góp phần không nhỏ vào việc đánh bại quân Tống…"
([37]) Tổng tập văn học Việt Nam, tập I, Chủ tịch Hội đồng biên tập : Đinh Gia Khánh, NXB Khoa học xã hội, H., 1980, tr. 114 bài tổng luận viết : "Trước Trần Quốc Tuấn hai trăm năm, Lý Thường Kiệt đã có những lời thơ hào hùng và đanh thép trong bài Nam quốc sơn hà như sau :…".
([38]) Tác giả nhấn mạnh.
([39]) Tổ Quốc số 401, tháng 1, 1998. Bài lịch sử, sự thật và sử học.
([40]) Văn học đời Lý,Mai Lĩnh xuất bản, 1940.
([41]) Thử viết Việt Nam văn học sử, Tri tân, số 27- 29- 30-32…/1942.
([42]) Tôi đã nghe h ;ai lầm đoạn văn đọc này, lần hơn 8 giờ tối ngày 8 - 10 trong đại lễ hội và lần hơn 7 giờ sáng 9 - 10 trên đài truyền hình VTV1, chỉ ghi theo được từng ấy lời, chưa chắc đã là nguyên văn. Song, tôi nhớ rõ lời đọc đã coi Nam quốc sơn hà là bài thơ thần, không đọc là thơ của Lý Thường Kiệt).
([43]) Cho đến nay (5 - 2001) đã viết đến 6 bài, ấn hành ở hàng chục loại văn bản, trong đó có những văn bản có liên quan, có tính chất của loại sách giáo khoa.
([44]) Tạp chí Hán Nôm,số 2 - 1993. Xem thêm : Khảo và luận, NXB Giáo dục, 1999, tr. 7 - 12.
([45]) Thế giới mới, số 427, 12 – 3 – 2001.
([46]) Tạp chí Văn học,số 10 - 1996. Xem thêm Khảo và luận, Sđd, tr. 13 - 22.
([47]) Văn 10, tập I, NXB Giáo dục, 1995, tr. 91 và Văn học 10, tập I, Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, NXB Giáo dục, 2000, tr. 80.
([48]) Văn học 9, NXB Giáo dục, 1995, tr. 28 và Văn học 9, tập I, NXB Giáo dục, 1999, tr. 28.
([49]) Xin xem : Chẳng hạn Gương mặt văn hoá Thăng Long. Nguyễn Huệ Chi chủ biên. Sở Văn hoá Thông tin và Trung tâm hoạt động Văn hoá Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội xuất bản, H., 1994, tr. 15, 52.
Hoặc : Văn hiến Thăng Long, Vũ Khiêu, Nguyễn Vinh Phúc chủ biên, NXb Văn hoá Thông tin, H. 2000, tr. 73… Cũng trong sách này, khi viết về Vài nội dung của văn học Thăng Long (tr. 159 – 202) GS. Trần Thị Băng Thanh ở trang 166 đã viết về bài thơ NQSH nhưng không nói ai là tác giả.
Hoặc : Làng Dương Lôi với Vương triều Lý. Hơn 40 tác giả, NXB Văn hoá dân tộc, H., 2000, tr. 247, 305… ở trang 247 - 248 sách có một chú thích, chắc là của người biên tập : "Gần đây, theo ý kiến của một số nhà khoa học, bài Nam quốc sơn hà là khuyết danh, Lý Thường Kiệt chỉ là người sử dụng bài thơ để động viên quân sĩ… bài thơ cũng đã được thần đọc để giúp Lê Hoàn".
Ba tập sách trên và rồi còn một số sách khác, do nhiều người viết, nên kiến giải về bài thơ và tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà thường ít khi có sự nhất trí. Ở đây chỉ trích dẫn một số trang có tính chất tiêu biểu cho các kiến giải.
[50] Trong bài viết, đã ghi đủ sách, tạp chí tiếng Việt khi trích dẫn. Dưới đây ghi thêm ký hiệu sách Hán Nôm có bài Nam quốc sơn hà ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
1. Việt điện u linh : A1919 - A2879, VHv 1285 - 1751 - A335 - A47…
2. Lĩnh Nam chích quái : A1200 - A2108 - A2914 - A33 - A1300 - VHv 1473 - A750 - A1752.
3. Đại Việt sử ký toàn thư : A3
4. Việt sử tiêu án : A11
5. Trương tôn thần sự tích : VHv 1286.
6. Việt sử quốc âm : AB308.
7. Bằng trình thản bộ : A802.
8. Việt sử tiệp kính : A1493
9. Thiên Nam vân lục liệt truyện : A1551.
10. Lịch triều hiến chương loại chí : A1551.
11. Việt sử diễn âm : AB 110.
12. Đại Nam nhất thống chí : A69, v.v.
Các bản trên đây cùng với các bản sưu tập được từ các địa phương và các bản ở các Thư viện khác mới đủ 30 bản, như đã viết ở trong bài.