Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Phản ứng quốc tế trước việc Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam năm 1979

      Ngày 17-02-1979, Trung Quốc chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn, đưa quân đội đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.  Tiến hành cuộc chiến mà Trung Quốc trịnh thượng gọi là “chiến tranh trừng phạt”, “dạy cho Việt Nam một bài học”, Bắc Kinh hết sức quan tâm đến phản ứng của công luận thế giới bởi những tác động to lớn về chính trị - ngoại giao của nó và đã có những bước đi quan trọng nhằm tranh thủ dư luận. Tuy nhiên, phản ứng quốc tế không như những gì mà Trung Quốc mong muốn.

 

     

Biểu tình chống trung Quốc xâm lược Việt nam. Ảnh: Tư liệu

      1- Phản ứng của các nước xã hội chủ nghĩa và các Đảng cộng sản, công nhân quốc tế

      Sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, ngay trong ngày 17-02, hai quốc gia XHCN đầu tiên lên tiếng lên án Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam là CHDC Đức và CH Cuba. Sau khi cảnh cáo Trung Quốc không được đụng đến Việt Nam, coi hành động gây chiến tranh của Trung Quốc là “một tội ác với hòa bình và an ninh quốc tế, đây là một sự thách thức với tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình”[1], Chính phủ CHDC Đức kêu gọi quân đội Trung Quốc phải ngay lập tức và không điều kiện rút khỏi Việt Nam. Cuba là nước XHCN lên án Trung Quốc đanh thép nhất, ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ nhất, khẳng định sẽ “làm hết sức mình để kịp thời ngăn chặn cuộc xâm lược quân sự của Trung Quốc đối với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”[2]. Cuba cũng là nước duy nhất tổ chức míttinh toàn quốc (do đích thânChủ tịch Fidel Castro chủ trì) phản đối Trung Quốc, bày tỏ tình đoàn kết với Việt Nam. Tại cuộc míttinh (21-2-1979), Fidel Castro đã có một bài phát biểu dài hơn nửa tiếng (dù theo chương trình người được chỉ định phát biểu là Bí thư Thành ủy La Habana Jaime Crombet), gọi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc là “một trong những hành vi ghê tởm, hèn hạ, xấu xa nhất mà chúng ta từng chứng kiến”[3]. Chiều ngày 23-2-1979, Đoàn đại biểu Quốc hội Cuba do Phó Chủ tịch Quốc hội Raul Roa dẫn đầu đã đến Đại sứ quán Việt Nam tại La Habana trao bản Thông báo, khẳng định tình cảm anh em thân thiết, tình đồng chí chiến đấu gắn bó với nhân dân Việt Nam; nhấn mạnh: “Lẽ phải thuộc về nhân dân Việt Nam. Nước Việt Nam thống nhất Xã hội Chủ nghĩa sẽ cho bè lũ Trung Quốc xâm lược nếm mùi thất bại”[4].

       Tiếp đó, trong các ngày 18 và 19-2-1979, Trung ương Đảng và chính phủ Liên Xô, Tiệp Khắc, Bulgaria, Mông Cổ, Ba Lan, Hungaria đồng loạt ra tuyên bố, thể hiện sự công phẫn sâu sắc trước cuộc xâm lược dã man chống lại nhân dân Việt Nam của Trung Quốc. Tinh thần chung của các bản Tuyên bố là kịch liệt lên án hành động trái đạo lý của nhà cầm quyền Trung Quốc, yêu cầu phải nhanh chóng rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; đồng thời, khẳng định tình đoàn kết, sự ủng hộ đối với cuộc chiến đấu chống quân xâm lược của nhân dân Việt Nam[5]. Trong số các tuyên bố nói trên, dư luận thế giới đặc biệt quan tâm đến tuyên bố của Chính phủ Liên Xô - vừa là nước XHCN trụ cột, đứng đầu, vừa là nước vừa ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Việt Nam. Trong bản Tuyên bố ngày 18-02-1979, Liên Xô cam kết“sẽ thực hiện các nghĩa vụ được thừa nhận theo Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”[6].

      Ở Đông Dương, Việt Nam có hai đồng minh thân cận, gần gũi là CHDCND Lào và CHND Campuchia. Nhìn chung, trong so sánh với Lào, thái độ của Campuchia dứt khoát và mạnh mẽ hơn. Ngày 18-02-1979, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia lên tiếng chỉ trích cuộc phưu lưu quân sự của Trung Quốc là “vi phạm Hiến chương Liên Hiệp Quốc và nguyên tắc của các nước không liên kết”[7], nhằm “thực hiện âm mưu bá quyền của chúng ở Đông Dương, Đông Nam Á và trên thế giới”[8]. Tại nhiều cuộc mitinh trọng thể (đơn cử như vào các ngày 18-2; 4-3-1979…), lãnh đạo Nhà nước CHND Campuchia đều khẳng định: “Sẽ nguyện đem hết sức mình cùng nhân dân Việt Nam chống bọn bành trướng Bắc Kinh”[9]. Trên diễn đàn của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (24-02-1979), người phát ngôn Bộ Ngoại giao Campuchia đã góp tiếng nói lên án tội ác của quân đội Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam[10]. Các tờ báo lớn của Campuchia đều thường xuyên đưa tin về chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, đăng tải những bài xã luận lên án chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Trung Quốc.

      Nếu như lập trường của CHND Campuchia là khá cứng rắn, thì phản ứng của CHDCND Lào lại rất mềm dẻo, gây nhiều ngạc nhiên cho các nhà quan sát trên thế giới. Lào đã “không hề nặng lời chỉ trích Bắc Kinh”[11] như các đồng minh XHCN khác, chỉ kêu gọi Trung Quốc - Việt Nam kiềm chế, “giải quyết vấn đề bằng thương lượng hòa bình, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau và phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc”[12]. Chính phủ Lào đã hạ thấp tính chất hành động quân sự của Trung Quốc, từ chiến tranh xâm lược xuống “cuộc tiến công quân sự”. Ở Lào, cũng không diễn ra các cuộc míttinh, biểu tình phản đối Trung Quốc, các tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội cũng không thể hiện thái độ, còn các phương tiện thông tin đại chúng thì rất ít đưa tin tức về chiến tranh Trung  - Việt. Công bằng mà nói, trong một động thái gỡ thể diện khác, Chính phủ Lào đã yêu cầu đội làm đường của Trung Quốc rút khỏi Lào và từ chối các viện trợ khác của Trung Quốc[13]; tuy nhiên, lý do đề nghị Trung Quốc ngừng rải đường ở Bắc Lào thì lại được giải thích là vì “tình hình phức tạp ở khu vực đó có thể không đảm bảo an toàn được cho công nhân Trung Quốc”[14]. Thái độ trung lập của Lào đối với cuộc chiến tranh Trung - Việt có thể hiểu được bởi Trung Quốc là nhà tài trợ lớn cho Lào trong các hoạt động kinh tế[15].

      Ở nhiều nước XHCN (Tiệp Khắc, Bungaria, Hungaria[16], Ba Lan[17], Cu Ba, Mông Cổ[18] …) đã dấy lên một phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc, thể hiện tình đoàn kết, hữu nghị và ủng hộ Việt Nam. Tiêu biểu là cuộc biểu tình tuần hành của hơn 4.000 người dân thủ đô Praha, Tiệp Khắc (19-02-1979). Những người biểu tình mang theo nhiều biểu ngữ lên án nhà cầm quyền Trung Quốc, hô vang các khẩu hiệu đòi Trung Quốc nhanh chóng rút quân khỏi Việt Nam, bao vây Đại sứ quán Trung Quốc ở Praha, đưa các kiến nghị yêu cầu phải nhanh chóng chấm dứt các hành động phưu lưu quân sự chống Việt Nam[19]. Hay như ở Bungaria, ngày 20-02-1979, các cuộc biểu tình của cán bộ Nhà nước, của sinh viên các trường đại học, của học sinh phổ thông… đã diễn ra ở nhiều nơi. Nhiều đoàn biểu tình đã kéo đến Đại sứ quán Trung Quốc hô vang các khẩu hiệu: “Bọn xâm lược Trung Quốc cút khỏi Việt Nam!”, “Chấm dứt ngay những hành động gây chiến!”, “Không được đụng đến Việt Nam!”…. Mặt tường và cổng vào Đại sứ quán Trung Quốc ở Bungaria dày đặc những băng rôn, những bức tranh đả kích Đặng Tiểu Bình và nhà cầm quyền Bắc Kinh[20]. Cuba là một trong những nước có nhiều cuộc míttinh, biểu tình phản đối Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam nhất. Tính đến ngày 23-2-1979, đã có 474 cuộc biểu tình của các tầng lớp nhân dân Cuba[21] với tinh thần: “Vì Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”[22].

      Tại Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (phiên họp ngày 23-02-1979), đại diện Đoàn đại biểu Liên Xô, Tiệp Khắc, Cuba, Ba Lan… đều yêu cầu Liên Hiệp Quốc đưa ra những biện pháp cấp bách chấm dứt ngăn chặn hành động hiếu chiến của nhà cầm quyền Trung Quốc. Hai đoàn đại biểu Liên Xô và Tiệp Khắc đã đưa ra một Dự thảo nghị quyết đòi quân đội Trung Quốc phải rút ngay khỏi lãnh thổ Việt Nam, kêu gọi tất cả các thành viên của Liên Hiệp Quốc chấm dứt cung cấp vũ khí cho Trung Quốc; tuy nhiên, dưới áp lực của nhiều nước phương Tây, Nghị quyết đã không được thông qua.  

      Trong các ngày 19 đến 21-2-1979, Chính phủ các nước Mozambique, Afghanistan, Ethiopia, Albania… đều ra tuyên bố phản đối Trung Quốc xâm lược Việt Nam, yêu cầu Bắc Kinh phải “rút ngay và không điều kiện quân đội ra khỏi Việt Nam”[23]. Albania - một quốc gia có mối quan hệ khá chặt chẽ với Trung Quốc, đồng minh duy nhất của Trung Quốc ở châu Âu cũng gọi Trung Quốc là “đế quốc xã hội”, là “đồng minh cuồng nhiệt nhất của đế quốc Mỹ”. Người đứng đầu Nhà nước Albania Enver Hoxha coi hành động Trung Quốc chống lại Việt Nam như một biểu hiện của chủ nghĩa sôvanh thời kỳ hậu Mao; đồng thời, lên án Washington đồng lõa với Bắc Kinh trong cuộc  chiến tranh này[24] . Trước phản ứng quyết liệt của Tirana, Trung Quốc đã quyết định cắt toàn bộ viện trợ cho Albania, bao gồm cả các khoản thanh toán tín dụng quân sự và dân sự[25]. Lưu ý thêm rằng, phản đối cuộc chiến tranh của Trung Quốc chống Việt Nam, Albania cũng đồng thời phê phán Liên Xô, “so sánh hành động Trung Quốc chống lại Việt Nam với cuộc tấn công Tiệp Khắc vào năm 1968 của Liên Xô và xác định cả Liên Xô và Trung Quốc đều là siêu cường đế quốc”[26].

      Bên cạnh sự ủng hộ Việt Nam về chính trị, chính phủ và nhân dân nhiều nước XHCN còn có những hành động thiết thực và cụ thể, giúp đỡ nhân dân Việt Nam về vật chất. Tuân thủ Hiệp ước hợp tác và hữu nghị giữa hai nước, Liên Xô là quốc gia hỗ trợ Việt Nam tích cực và to lớn nhất[27]. Tại CHDC Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungaria, các phong trào hiến máu, góp quỹ, tăng ca sản xuất hàng hóa cho Việt Nam…đã ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam một khối lượng hàng hóa đáng kể[28].

Trên khắp thế giới, hầu hết các đảng Cộng sản, các đảng công nhân đều lên tiếng phản đối Trung Quốc xâm lược Việt Nam[29], cùng có chung quan điểm: Trung Quốc phải chấm dứt ngay những hành động trái đạo lý, đi ngược lại với xu hướng hòa bình, tiến bộ trên thế giới; bày tỏ sự lo ngại về định hướng chung trong chính sách Trung Quốc[30].

      Xung quanh vấn đề quan điểm, thái độ đối với cuộc chiến tranh Trung - Việt, giữa các nước XHCN có sự chia rẽ. Trong khi đa số các nước XHCN lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc,  khẳng định tình đoàn kết, sự ủng hộ đối với Việt Nam thì CHDCND Triều Tiên và CHXHCN Romania lại có phản ứng khác. Trước đó, lãnh đạo Triều Tiên đã chỉ trích việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia, từ chối công nhận CHND Campuchia và cho phép Norodom Sihanouk ở lại Hàn Quốc[31]. Kim Il Sung đưa ra lời kêu gọi “rút quân đội nước ngoài khỏi mọi quốc gia”[32]- nghĩa là đòi hỏi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, đồng nghĩa với việc Bình Nhưỡng đã lựa chọn Bắc Kinh “bằng cách ủng hộ cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi nhưng đẫm máu của Trung Quốc với Việt Nam vào đầu năm 1979”[33]. Về thái độ đó của Bình Nhưỡng, Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên phát biểu rằng, nó thể hiện Bắc Triều Tiên đang “ủng hộ một cách dứt khoát sự xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam và kể từ đó, họ vẫn tiếp tục sát cánh với Trung Quốc chống lại Việt Nam”[34]. Việt Nam thậm chí đã có kế hoạch triệu hồi Đại sứ ở Triều Tiên về nước và tuyên bố: “CHDCND Triều Tiên không thể được coi là một quốc gia xã hội chủ nghĩa”[35]. Nhà sử học Balazs Szalontai bình luận rằng, chiến tranh Trung - Việt đã khiến cho hai quốc gia cộng sản (CHDCND Triều Tiên và Việt Nam) trở nên thù địch chứ không còn là bạn bè như vốn thường thấy[36]

      Tương tự Bắc Triều Tiên, Romania từ chối lên án Trung Quốc xâm lược Việt Nam dù luôn khẳng định không có gì có thể biện minh cho hành động quân sự để giải quyết tranh chấp.Trong một tuyên bố ngày 19-2-1979, Bucharest kêu gọi Trung Quốc rút khỏi Việt Nam nhưng trước đó cũng không quên chỉ trích Việt Nam đã đưa quân vào Campuchia, nhấn mạnh mong muốn tất cả quân đội nước ngoài triệt thoái khỏi biên giới quốc gia của các nước khác[37]. Nhà báo Michael Dobbs bình luận rằng, “Romania đã nhấn mạnh sự khác biệt trong chính sách đối ngoại của mình với các đồng minh khối Xô viết bằng cách giữ lập trường trung lập về sự xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam”[38].

      Nam Tư tuy không phải là thành viên của khối Warszawa nhưng có quan hệ với cả Bắc Kinh và Moscow, cũng bày tỏ quan ngại sâu sắc về cuộc chiến tranh biên giới Trung - Việt, cảnh báo rằng cuộc chiến có thể  để lại những hậu quả khôn lường cho hòa bình và an ninh trên thế giới. Tuy nhiên, sau đó, Nam Tư đã thay đổi quan điểm và Bộ Ngoại giao Nam Tư ra Tuyên bố; trong đó kiềm chế chỉ trích Trung Quốc, kêu gọi rút toàn bộ quân đội nước ngoài về nước[39] - tuyên bố này đã đặt Nam Tư vào một lập trường tương tự như Romania và Bắc Triều Tiên.

      2- Thái độ của Mỹ và các nước phương Tây

      Trước khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Trung Quốc- Mỹ đã bình thường hóa quan hệ và hai nước đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác kinh tế - kỹ thuật. Đặc biệt, Đặng Tiểu Bình đã có chuyến đi tới Mỹ, thông báo với Washington rằn, Trung Quốc sẽ tiến đánh Việt Nam bằng một cuộc chiến tranh hạn chế. Đặng Tiểu Bình nói rằng, “Trung Quốc cần sự hỗ trợ về mặt đạo đức của Washington”[40]. Carter đã cố gắng can ngăn Đặng Tiểu Bình, giải thích rằng, “người Việt Nam hiện đang bị lên án vì hành động hung hăng của họ ở Campuchia và Trung Quốc có thể làm chệch hướng áp lực quốc tế này bằng hành động khiến các quốc gia khác có thể coi Trung Quốc là quốc gia xâm lược”[41]. Carter cũng lập luận rằng Nhà trắng không muốn các quốc gia khác đánh giá việc phát triển quan hệ Trung-Mỹ là nhằm mục đích đảo lộn hòa bình toàn cầu hơn là duy trì nó; tuy nhiên, “Đặng Tiểu Bình đã khước từ lắng nghe những lời khuyên của người Mỹ”[42]. Thăm Trung Quốc vào cuối tháng 2-1979), Bộ trưởng Tài chính Michael Blumenthal cũng “kêu gọi quân đội Trung Quốc rút khỏi Việt Nam càng nhanh càng tốt”[43], tất nhiên lại một lần nữa người Mỹ nhận được cái lắc đầu từ chối của Đặng Tiểu Bình.

      Ngày 17-2-1979, ngay sau khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam, Washington kêu gọi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam, song cũng không quên “chỉ trích Việt Nam vì đã xâm chiếm Campuchia”[44].  Nhìn chung, mục tiêu duy nhất trong  chính sách của Hoa Kỳ là “ngăn chặn chiến tranh leo thang, duy trì tính trung lập”[45]. Tuy nhiên, các sự kiện như: Sau khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam, Tổng thống Carter vẫn cử Bộ trưởng Tài chính Michael Blumenthal đến Trung Quốc, cải thiện mối quan hệ mậu dịch giữa hai nước cũng như việc Mỹ đã không chỉ trích mạnh mẽ “cuộc chiến tranh trừng phạt” của Trung Quốc trong khi lại điều các tầu sân bay Midway và Constellation vào khu vực biển Đông[46]… đã khiến cho thế giới và các bên liên quan có cơ sở cáo buộc Washington ủng hộ cuộc “phản kích” của Trung Quốc. Đó cũng là những căn cứ quan trọng để Liên Xô lên án Mỹ đã có sự thỏa thuận ngầm và bật đèn xanh cho Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Có vẻ như muốn giữ một cự ly nhất định đảm bảo vị trí trung lập đối với cuộc khủng hoảng Trung - Việt, quan điểm của Mỹ là “phải đảm bảo quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, quân Việt Nam rút khỏi Campuchia và ngăn chặn Liên Xô mở rộng cuộc xung đột này”[47]. Như vậy, lập trường của Mỹ về cuộc chiến tranh này bị quy định, ràng buộc bởi chiến lược của Liên Xô và gắn chặt với vấn đề Campuchia hơn là chính bản thân cuộc chiến. Mục tiêu duy nhất của Nhà Trắng là không để Liên Xô can thiệp mở rộng xung đột, biến xung đột thành một cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Liên Xô với một khả năng rất lớn là đe dọa lợi ích của Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở châu Á. Bên cạnh đó, những bình luận của tờ New York Times rằng, “hành động Trung Quốc xâm lược Việt Nam sẽ làm trở ngại đến lòng tin của dân chúng và Quốc hội Mỹ đối với quyết sách bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh”[48] càng cho thấy rõ Nhà Trắng quan tâm  đến một trong những trọng tâm đối ngoại lớn của mình hơn là tham gia giải quyết cuộc chiến. Rất có thể ý định của Tổng thống Carter là giữ một khoảng cách vừa đủ đối với cuộc xung đột, bởi mối quan hệ mới bình thường giữa Mỹ và Trung Quốc còn đang rất mong manh, nếu Washington công khai tỏ ra không hài lòng đối với hành động xâm lược của Trung Quốc, không loại trừ khả năng mối quan hệ ấy sẽ trở nên dễ vỡ. Sau này, Tổng thống Carter có phân trần trong cuốn hồi ký của mình rằng, “tháng 2 năm 1979, khi quân đội Trung Quốc tràn qua biên giới phía Bắc Việt Nam, các nhà lãnh đạo Liên Xô liền tố cáo Mỹ và Trung Quốc thông đồng với nhau - đương nhiên đó không phải là sự thật. Thật ra chúng tôi cũng đã từng muốn can ngăn Trung Quốc”[49].

      Không lâu sau khi Trung Quốc phát động chiến tranh chống Việt Nam, Australia và New Zealan đã bày tỏ sự hối tiếc về việc diễn ra xung đột giữa những người Cộng sản châu Á và kêu gọi nhanh chóng giải quyết  vấn đề bằng con đường hòa bình[50].Bộ trưởng Ngoại giao của New Zealand mong muốn rằng, cácnhà lãnh đạo thế giới sẽ hành động thận trọng, khôn ngoan và kiềm chế để tránh những hành động o có thể dẫn đến một cuộc xung đột lớn ở châu Á. Cẩn trọng để không đi chệch “đường ray” mà Mỹ và nhiều nước phương Tây đã đi, Thủ tướng Australia Malcolm Fraser kêu gọi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và Trung Quốc rút lực lượng khỏi Việt Nam[51]. Khi Trung Quốc bắt đầu tấn công Việt Nam, thì Bộ trưởng Công nghiệp Anh Eric Varky có chuyến thăm Bắc Kinh để thảo luận về việc bán vũ khí cho Trung Quốc. Cuộc xâm lược của Trung Quốc đã khiến các nghị sĩ Anh vận động Chính phủ xem xét lại quyết định cung cấp cho Trung Quốc các máy bay phản lực Harrier và cuối cùng các thỏa thuận mua bán đã bị ngưng trệ [52]. Ở nhiều quốc gia châu Âu khác, các vụ mua sắm vũ khí của Trung Quốc cũng vấp phải những khó khăn tương tự bởi sự lo ngại ngày càng gia tăng về “chủ nghĩa phiêu lưu quân sự” của Trung Quốc.

      Trong khi chính phủ các nước phương Tây có thái độ tương đối trung dung và dè dặt, thì nhiều tầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, nghiệp đoàn… đã thổi lên một làn sóng phản đối Trung Quốc, ủng hộ nhân dân Việt Nam. Tại Anh, Na Uy, Finland, CHLB Đức, Mỹ và Thụy Điển…, ngay sau khi biết tin Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh chống Việt Nam, nhiều cuộc biểu tình phản đối đã nổ ra[53]. Đơn cử như ở nước  Anh, người dân Anh không chỉ biểu tình phản đối trước Đại sứ quán Trung Quốc, mà còn tổ chức nhiều cuộc biểu tình trước Dinh Thủ tướng Anh, đòi Chính phủ Công đảng chấm dứt việc cung cấp vũ khí cho Trung Quốc và phải tham gia vào việc giúp Việt Nam xây dựng lại đất nước[54]. Hay như tại CHLB Đức, liên tiếp trong các ngày từ 18-02-1979, nhiều đoàn đại biểu của các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau đã đến Đại sứ quán Việt Nam tại Bon để biểu thị tình đoàn kết, sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược. Nhiều cuộc biểu tình, tuần hành đã được tổ chức tại Bon, Munich, Phran-Phuoc, Cologne…. và nhiều thành phố khác của CHLB Đức. Các đoàn biểu tình giương cao các khẩu hiệu như: “Bọn Trung Quốc xâm lược hãy cút khỏi Việt Nam!”, “Không được đụng đến Việt Nam!”, “Kiên quyết bảo vệ Việt Nam!”…[55].  Còn tại Helsinki (Finland), ngày 6-3-1979, đã khai mạc Hội nghị khẩn cấp ủng hộ Việt Nam. Tham gia Hội nghị có đại biểu của hơn 100 nước và hơn 30 tổ chức quốc tế bao gồm các chính đảng, các ủy ban hòa bình, các tổ chức thanh niên, phụ nữ các nước…[56]. Ngày 23-3-1979, Chính phủ Finland đã quyết định chuyển số tiền tín dụng phát triển cho Việt Nam vay trị giá 55 triệu mác thành viện trợ không hoàn lại[57].

      3- Phản ứng của Ấn Độ, Nhật Bản và các nước ASEAN

      Là nước có biên giới chung với Trung Quốc, đã từng trải nghiệm cuộc chiến tranh mà Trung Quốc gây ra năm 1962, Ấn Độ có sự đồng cảm sâu sắc với Việt Nam. Ngày 19-02-1979, phát biểu tại cuộc họp của hai viện Quốc hội Ấn Độ, Tổng thống Neelam Sanjiva Reddy đã bày tỏ sự lo ngại sâu sắc trước việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Kêu gọi Trung Quốc nhanh chóng rút lực lượng ra khỏi Việt Nam, coi đó như bước đầu tiến tới chấm dứt chiến sự, Tổng thống Neelam Sanjiva Reddy đồng thời lưu ý rằng, “những diễn biến trên vùng biên giới Trung Quốc - Việt Nam có nguy cơ đe dọa nền hòa bình và an ninh quốc tế”[58]. Thủ tướng Ấn Độ Morarji Desai cũng "bày tỏ những  tiếc nuối và đau khổ sâu sắc trước sự bùng nổ của chiến sự"[59]. Thể hiện thái độ phản đối Trung Quốc, Ngoại trưởng Ấn Độ Atal Bihari Vajpayee đã rời Bắc Kinh sau khi gửi kháng nghị lên án cuộc xâm lược Việt Nam tới Đại sứ Trung Quốc tại Ấn Độ, chấm dứt sớm 2 ngày chuyến thăm của một quan chức chính chính phủ cấp cao đến Trung Quốc sau gần 20 năm gián đoạn quan hệ[60]. Atal Bihari Vajpayee phê phán lời tuyên bố “dạy cho Việt Nam một bài học” của Đặng Tiểu Bình và nói rõ: “Không nước nào, dù lớn đến đâu hành động như tên cảnh sát. Đã vĩnh viễn qua rồi cái thời của thập tự chinh trừng phạt và chính sách ngoại giao pháo thuyền”[61]. Trong cuộc họp của Thượng nghị viện Ấn Độ (20-2-1979), nhiều nghị sĩ thuộc tất cả các chính đảng Ấn Độ đã lên tiếng phê phán Bắc Kinh “luôn hành động dựa trên thế mạnh đối với các nước láng giềng”[62]. Đảng Quốc Đại còn kêu gọi nhân dân Ấn Độ hiến máu cho Việt Nam và tăng cường quyên góp thuốc men giúp đỡ Việt Nam. Chính phủ Ấn Độ viện trợ cho Việt Nam thuốc chữa bệnh và chăn len trị giá 300 ngàn Rupi[63] và trong năm 1979, tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục và khoa học - kỹ thuật[64]. Như vậy, việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam đã làm trì hoãn đáng kể quá trình khởi động lại quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc.

      Sau khi Việt Nam đưa quân vào Campuchia, quan hệ Việt Nam- Nhật Bản xấu đi nghiêm trọng. Nhật Bản công khai lên án Việt Nam xâm lược Campuchia, đình chỉ viện trợ và hợp tác kinh tế với Việt Nam. Nhật Bản từ chối lên án cuộc xâm lược của Trung Quốc vào Việt Nam, chỉ bày tỏ “sự hối tiếc sâu sắc về hành động của Trung Quốc"; đồng thời, thúc giục Trung Quốc rút quân trước khi cuộc chiến mở rộng. Nhà nghiên cứu Keiko Hirata nhận xét về lập trường của Tokyo như sau: “Nhật Bản không thể cưỡng lại áp lực quốc tế, đặc biệt là từ phía Mỹ, buộc phải hành động trong một dàn nhạc do phương Tây làm nhạc trưởng, cô lập Đông Dương được hậu thuẫn bởi Liên Xô”[65]. Cũng cần lưu ý thêm rằng, quyết định cắt giảm viện trợ cho Hà Nội của Tokyo không hẳn là do áp lực từ Washington, mà chính xác hơn là một động thái nhằm đặt mình vào vị trí trung gian giữa các trung tâm quyền lực đầy mâu thuẫn và bất ổn: ASEAN - Việt Nam, Trung Quốc - Liên Xô, Hoa Kỳ - Đông Dương. Ngoài ra, lợi ích kinh tế, ngoại giao và an ninh của Hiệp ước hữu nghị Trung - Nhật là quá lớn để có thể hy sinh vì lên án hoặc thực hiện một số hành động trừng phạt Trung Quốc.

      Để chuẩn bị chiến tranh với Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đã có chuyến công du dài 9 ngày đến Thái Lan, Malaysia và Singapore, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của những nước này trong cuộc đối đầu với Việt Nam. Vốn gay gắt chỉ trích việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia và lật đổ chế độ Pol Pot do Trung Quốc ủng hộ, các nước ASEAN đã phản ứng khá thận trọng trước cuộc tấn công của Trung Quốc. Các thành viên khối ASEAN đều nhìn việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia lẫn việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam với những xúc cảm phức tạp. Một mặt, các quốc gia Đông Nam Á hết sức lo lắng về những cuộc cách mạng cộng sản mà Trung Quốc đã và đang ủng hộ; mặt khác, những quốc gia này cũng luôn cảm thấy bất an trước một Việt Nam đang lên có sự gắn bó chặt chẽ với Liên Xô. Thế nên, khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, các nước ASEAN tuy nhìn thấy ở đó một phương thức hữu hiệu kiềm chế Hà Nội, song cũng chính hành động đó đã đánh thức những lo ngại có tính truyền thống vê tham vọng của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á. Vì thế, sau khi Trung Quốc xâm lược Việt Nam, các nước ASEAN đã đưa ra một Dự thảo nghị quyết tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, yêu cầu Việt Nam rút quân  khỏi Cămpuchia và Trung Quốc phải rút quân khỏi Việt Nam và Dự thảo đã bị Liên Xô phủ quyết[66].

                                                           *                               *

                                                                          *

      Việc Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, sử dụng vũ lực để “răn đe” một quốc gia yếu hơn, vốn từng là đồng minh, có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ đã chứng minh cho thế giới thấy sự bất cân xứng vốn có trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước nhỏ hơn cũng như sự bất chấp đến tàn nhẫn của Trung Quốc khi theo đuổi lợi ích quốc gia. Cuộc chiến tranh do Trung Quốc khởi xướng đã để lại ấn tượng đặc biệt u ám đối với các nước láng giềng của Trung Quốc - những quốc gia có vị trí địa - chính trị được đặt cạnh Trung Quốc như một định mệnh nghiệt ngã, không thể thay đổi. Vì lẽ đó, khi Trung Quốc gây chiến với Việt Nam, dư luận quốc tế lập tức quan tâm và có những phản ứng, thái độ khác nhau. Các nước liên quan trực tiếp và cả không liên quan đã phân cực, chia rẽ trong lập trường, quan điểm khi đánh giá về cuộc chiến. Nhìn chung, phản ứng của dư luận quốc tế đối với việc Trung Quốc phát động cuộc “trừng phạt Việt Nam” là hoàn toàn ngược lại với những tính toán và mong đợi của Bắc Kinh. Trong khi đa số các nước đều phủ định, phản đối hành động của Trung Quốc, coi đó như một biểu hiện đầy đủ nhất, tập trung nhất của chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, của chủ nghĩa Sô vanh nước lớn, thì cũng có những nước hoặc đứng hẳn về hoặc nghiêng về phía Trung Quốc. Bên cạnh đó, cũng có những quốc gia tương đối dè dặt, thận trọng, trung dung trong thể hiện thái độ. Bức tranh đa màu sắc đó cho thấy những đặc trưng của một giai đoạn lịch sử khi lợi ích phe phái, ganh đua quyền lựcvà lợi ích quốc gia quấn bện, đan xen, ràng buộc, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau; trong đó, xét đến cùng, lợi ích quốc gia vẫn là giá trị chủ chốt nhất, phổ quát nhất và hợp pháp nhất, quyết định mọi quyết sách, mọi diễn biến  chính trị. Đó cũng là những đúc kết, những bài học lớn về nhận diện, xử lý và giải quyết các mối quan hệ quốc tế mà mỗi quốc gia luôn phải đối mặt trong suốt chiều dài tồn tại và phát triển của mình.

 

 


[1] Báo Nhân dân, Số 9021, 19 Tháng Hai 1979, tr.1.

[2 ]Báo Nhân dân, Số 9022, Tlđd, tr.1.

[3] Phát biểu của Chủ tịch Fidel Castro phản đối Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979,  ngày 21-2-1979 (phiên bản tốc ký- Hội đồng Nhà nước), http://www.cuba.cu/gobierno/discursos/1979/esp/f210279e.html. Xem thêm: Báo Nhân dân, Số 9025, 23 Tháng Hai 1979, tr.1.

[4]Báo Nhân dân,Số 9028, 26 Tháng Hai 1979, tr.1.

[5]Báo Nhân dân, Số 9021, 19 Tháng Hai 1979, tr.1; Báo Nhân dân, Số 9022, 20 Tháng Hai 1979, tr.1;Báo Nhân dân, Số 9023, 21Tháng Hai 1979, tr.1.

[6]Правдa,19 февраля 1979 г, c1.  Xem thêm Báo Nhân dân,  ngày 19-2-1979, tr.1.

[7]BáoNhân dân, Số 9021, Tlđd, tr.1.

[8]BáoNhân dân, Số 9021, Tlđd, tr.1.

[9]BáoNhân dân,Số 9022, Tlđd, tr.1 và tr.3;Báo Nhân dân, Số 9036, 6 tháng Ba1979, tr.4

[10]Báo Nhân dân, Số 9028, 26 tháng Hai 1979, tr.4.

[11]Far Eastern Economic Review,March 16, 1979.

[12]Báo Nhân dân, Số 9021, Tlđd, tr.1.

[13]Bành Mộ Nhân: Quyết sách của Trung quốc trong cuộc Chiến tranh trừng phạt Việt Nam, Lưu tại thư viện Quân đội,1986, tr.141.

[14]Bành Mộ Nhân: Quyết sách của Trung quốc trong cuộc Chiến tranh trừng phạt Việt Nam,Sđd, tr.142.

[15]China's Foreign Aid1978, Occasional Papers in Contemporary Asian Studies 29, No. 8, 1979, p.15.

[16]Tại Hungaria, từ 21 đến 24-2-1979, công nhân các nhà máy, nông dân các hợp tác xã nông nghiệp, trí thức ở các Trung tâm nghiên cứu khoa học, các trường đại học…đã mittinh phản đối Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam(Báo Nhân dân, Số 9033, Tlđd, tr.1).

[17]Ở Ba Lan, từ ngày 27 đến ngày 1-3-1979, các nhà máy, xí nghiệp, các hiệp hội, các tổ chức chính trị - xã hội, các câu lạc bộ, các trường đại học… đều tổ chức mitinh, thông qua nghị quyết lên án tội ác của Trung Quốc đối với Việt Nam, đòi Trung Quốc nhanh chóng rút toàn bộ quân đội ra khỏi Việt Nam(Báo Nhân dân, Số 9038, 8 Tháng Ba 1979, tr.3).

[18]Ngày 19-2-1979, các tổ chức chính trị, các đoàn thể và hiệp hội Mông Cổ tổ chức mitinh và tuần hành lên án Trung Quốc với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

[19]Báo Nhân dân, Số 9024, 22 Tháng Hai 1979, tr.1.

[20]Báo Nhân dân, Số 9033, Tlđd, tr.3; Báo Nhân dân, Số 9037, 7 tháng Ba 1979, tr.3.

[21]Báo Nhân dân, Số 9033, Tlđd,tr.3.

[22]Báo Nhândân, Số 9033, 3 Tháng Ba 1979, tr.1.

[23]Báo Nhân dân, Số 9023, Tlđd, tr.1; Báo Nhân dân, Số 9024, Tlđd, tr.1.

[24]Hoxha, Enver: Selected Works, Vol.5,Tirana, 1975–1988, p.786.

[25]Regarding China’s Withdrawl of Aid from Albania, Bolshevik, Vol. 8, No. 3,  August 1978.

[26]Igor N. Selivanov: Moscow–Hanoi–Tirana Relations in theContext of the Split in the “Socialist Camp”,Journal of Social Issues in Southeast Asia Vol. 32, No. 2 (2017), p.505.

[27]Chỉ riêng viện trợ quân sự, trong một thời gian ngắn, Liên Xô đã  chuyển đến Việt Nam hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp, xe bộ binh cơ giới, 400 khẩu pháo và súng cối, 50 tổ hợp pháo phản lực Grad BM-21, hơn 100 khẩu pháo phòng không, 400 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai và hàng nghìn tên lửa, 800 súng chống tăng RPG-7, 20 máy bay tiêm kích(Ромахина Мария: Как СССР помог Вьетнаму отразить китайскую агрессию, Военное обозрение, 26 ноября 2013. Xem thêm: Владимир Сумароков: Наглядная демонстрация военной мощи,Военное обозрение, 26 ноября 2013).

[28]Báo Quân Đội Nhân dân, Số 6376, 18 tháng Ba 1979, tr.1; BáoNhân dân, các Số 9025, 9028,9038, 9054; Báo Lao Động, Số 2974, 17 Tháng 5/1979,

[29]Đó là các Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Ý, Đảng Cộng sản Đức (DKP), Đảng Cộng sản Holland, Đảng Cộng sản Canada, Đảng Cộng sản Ireland, Đảng Cộng sản Na Uy, Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, Đảng Cộng sản Dominica, Đảng Cộng sản Brazil,Đảng Cộng sản Ấn Độ, Đảng Cộng sản Sri Lanka, Đảng Cộng sản Nam Phi, Đảng Cộng sản Nhật Bản,  Đảng Cộng sản Syria, Đảng Cộng sản Venezuela, Đảng Cộng sản Uruguay, Đảng Cộng sản Peru, Đảng Cộng sản Mexio, Đảng Cộng sản Chile…

[30]Chinese Troops Launch Invasion of Vietnam;Facts On File World News Digest  23 Feb. 1979; Báo Nhân dân, Số 9023, Tlđd, tr.1;Báo Nhân dân,Số 9024, Tlđd, tr.1; Báo Nhân dân, Số 9025, Tlđd, tr.1.

[31]Kim, Kook-Chin :"An Overview of North Korean–Southeast Asian Relations". In: Park Jae Kyu, Byung Chul Koh, and Tae-Hwan Kwak (eds.), The Foreign Relations of North Korea. Boulder, CO: Westview Press,1987.

[32]Hungarian Embassy in Mongolia, Report, 2 March 1983. Subject: Vietnamese views about North Korean policies. MOL, XIX-J-1-j Vietnam, 1983, 125. doboz, 162-10, 002530/1983

[33]Vietnam’s role in North Korea, Asia Times,August 1, 2017.

[34]Hungarian Embassy in Canada, Ciphered Telegram, 8 June 1979. Subject: Vietnamese-DPRK relations. MOL, XIX-J-1-j Korea, 1979, 80. doboz, 81-1, 001791/1/1979.

[35]Hungarian Embassy in Canada, Ciphered Telegram, 8 June 1979, Ibid.

[36]BalazsSzalontai: How the North Korean-Vietnamese friendship turned sour, North Korea New, 1 November 2017.

[37]Chinese Troops Launch Invasion of Vietnam, Ibid.

[38]Michael Dobbs: Romania Splits With Pact Allies on Chinese Attack, February 20, 1979.

[39]Michael Dobbs: Romania Splits With Pact Allies on Chinese Attack, Ibid.

[40]Henry Kissinger: On China, Penguin Books,  2011, p.496.

[41]Henry Kissinger: On China,Ibid, pp.497-498.

[42]Henry Kissinger: On China,Ibid, p.500.

[43]Henry Kissinger: On China,Ibid, pp.501-502.

[44]Chinese Troops Launch Invasion of Vietnam, Ibid. Xem thêm: King C. Chen: China's War Against Vietnam: a Military AnalysisMaryland Series in Contemporary Asian Studies, Number5, 1983 (58), p.17.

[45]Chinese Troops Launch Invasion of Vietnam, Ibid.

[46]Adam B. Siegel: The Use of Naval Forces in thePost-War Era: U.S. Navy and U.S. Marine Corps Crisis Response Activity, 1946-1990, CRM 90-246 (Alexandria, VA: Center for Naval Analyses, February 1991, p.41.

[47] Cyrus Vance: Hard Choices, Critical Years In America’s Foreign Policy, New York: Simon and Schuster, 1983, p.125.

[48]New York Times,February 18, 1979, p.1.

[49]Jimmy Carter: Keeping Faith: Memoirs of a President,  University of Arkansas Press, 1995, p.243.

[50]Indian's Visit to China Cut Off in Protest,  The New York Times,February 19, 1979.

[51]Indian's Visit to China Cut Off in Protest,  Ibid.

[52]Edward Harvey:  The Modernisation of China and the Harrier ‘Jump-Jet’: Sino-British relations during China’s ‘opening-up’ to the World, The Berlin Historical Review: 1 (2013), Dec 1, 2013, p.14-15.

[53]Báo Nhân dân, Số 9024, 9025, 9026 Tháng Hai 1979; Số 9060, 30 Tháng Ba 1979).

[54]  Báo Nhân dân, Số 9060

[55]Báo Nhân dân, Số 9028, 26 Tháng Hai 1979.

[56]Báo Nhân dân, Số 9037, 7 Tháng Ba 1979, tr.1.

[57]Báo Nhân dân,Số 9059, 29 Tháng Ba 1979, tr.1.

[58]Báo Nhân dân, Số 9023, Tlđd, tr.1.

[59]Chinese Troops Launch Invasion of Vietnam, Ibid.

[60]Indian's Visit to China Cut Off in Protest, The New York Times,February 19, 1979. Xem thêm báo Nhân dân, Số 9022, 20 Tháng Hai 1979, tr.1.

[61]BáoNhân dân, Số 9030, 28 Tháng Hai 1979, tr.4.

[62]BáoNhân dân, Số 9025, 23 Tháng Hai 1979, tr.4.

[63]Báo Nhân dân, Số 9054, 24 Tháng Ba 1979, tr.1.

[64]C. Ravindranatha Reddy: India and Vietnam: Era of Friendship and Cooperation 1947-1991, Chennai: Emerald Publishers p. 52; Government of India Ministry of External Affairs (1979/80), Annual Report, , 2009,  p.12.

[65]Keiko Hirata: Japan as a Reactive State?:Analyzing Japan's Relations with the Socialist Republic of Vietnam,Japanese Studies, 1998, Vol. 18, No. 2, p.19.

[66]Soviet Union and China Trade Charges at the U.N, The New York Times, February 25, 1979.

Sửa lần cuối vào Thứ sáu, 01 Tháng 3 2019 16:47