Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Lý luận - phê bình văn học miền Nam trước 1975 và lý luận - phê bình văn học thời kỳ đổi mới - nhìn lại và suy ngẫm ...

1. Nước ta, sau ngày thống nhất, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, khoa nghiên cứu văn học đã có nhiều thành tựu trên các lĩnh vực nghiên cứu văn học dân tộc và văn học thế giới. Trong đó, có thành tựu của lý luận - phê bình, cụ thể là việc giới thiệu và ứng dụng các khuynh hướng lý luận - phê bình hiện đại của phương Tây vào việc nghiên cứu các hiện tượng văn học mà trước kia với nhiều lý do chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu. Đó là những công trình như: Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1992) của Hoàng Trinh; Triết học và mỹ học phương Tây hiện đại (1992) Nguyễn Hào Hải (chủ biên); J. P.Sartre: Văn học là gì (1999) Nguyên Ngọc dịch... Văn học so sánh, lý luận và ứng dụng (2000) Lưu Văn Bổng (chủ biên); Phân tâm học và văn học nghệ thuật (2000) Đỗ Lai Thúy biên soạn; Văn học phi lí (2001) Nguyễn Văn Dân biên soạn; Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX (2001) của Phương Lựu; Phê bình lý luận văn học Anh - Mỹ (2002) Lê Huy Bắc (chủ biên); Tác phẩm văn học như là quá trình của Trương Đăng Dung (2004) J.M. Lotman: Lý luận phê bình văn học thế giới Thế kỷ XX (2007), do Lộc Phương Thủy (chủ biên); Lý luận văn học (2009) của R.Wellek và A.Warren do Nguyễn Mạnh Cường dịch, Thơ quan niệm và cảm nhận(2010) và Văn học nhìn từ văn hóa ( 2012) của Trần Hoài Anh; Sáng tạo và giao lưu (2004) của Phạm Vĩnh Cư; Việt Nam và phương Tây tiếp nhận và giao thoa trong văn học (2007) của  Đặng Anh Đào;Giọng điệu trong thơ trữ tình (2003) của Nguyễn Đăng Điệp, Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1995); Một chặng đường đổi mới lý luận văn học Việt Nam (1986- 2011) của Cao Thị Hồng (2011); Văn học... gần và xa, , 2003; Những ngả đường vào văn học, (2006) của Hoàng Ngọc Hiến; Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại (2008) của Đào Duy Hiệp; Đổi mới đọc và bình văn (2000) của  Đỗ Đức Hiểu; Đọc và tiếp nhận văn chương (2002) của Nguyễn Thanh Hùng...

     Như vậy, vượt qua những rào cản phi lý một thời, lý luận - phê bình văn học thời kỳ đổi mới đã vươn ra biển lớn mạnh dạn/ chủ động hòa nhập vào dòng chảy của lý luận – phê bình văn học thế giới và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định mà một trong những nguyên nhân tạo nên các kết quả này, phải chăng là việc đổi mới nền lý luận - phê bình theo hướng tiếp nhận các trường phái lý luận - phê bình hiện đại của phương Tây. Thế nhưng, bộ phận văn học ở miền Nam trước 1975, trong đó có lý luận - phê bình, mà việc tiếp biến các học thuyết / trường phái lý luận - phê bình văn học phương Tây được xem như một nhân tố quan trọng tạo nên diện mạo đa dạng, phong phú, sinh động của lý luận - phê bình văn học ở miền Nam vẫn chưa được xem là một bộ phận của văn học dân tộc để nghiên cứu một cách thoả đáng. Vì vậy, một trong những yêu cầu của quá trình đổi mới lý luận - phê bình văn học nước nhà, ngoài việc tiếp biến các thành tựu lý luận - phê bình văn học hiện đại của thế giới, nên chăng còn phải chọn lọc, kế thừa, phát triển các thành tựu của lý luận - phê bình văn học dân tộc trong đó có lý luận - phê bình văn học ở miền Nam trước 1975.

Giai đoạn 1954 - 1975, do hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử, đất nước bị chia cắt thành hai miền. Điều này đã tạo nên sự khác biệt trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc. Nếu ở miền Bắc, văn học phát triển thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng thì ở miền Nam, văn học phát triển đa dạng, phong phú, sinh động nhưng cũng khá phức tạp với nhiều khuynh hướng khác nhau, thể hiện rõ nhất là ở bộ phận lí luận - phê bình. Vì vậy, không thể coi tất cả tác phẩm văn học, đặc biệt là những công trình lý luận phê bình là “đồi trụy”, là “nô dịch”, là “sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới”. Bởi lẽ, lý luận - phê bình văn học ở miền Nam 1954 - 1975, với sự tiếp biến nhiều giá trị lý luận - phê bình văn học dân tộc và thế giới, trong đó nổi bật là lý luận - phê bình văn học phương Tây hiện đại, bên cạnh mặt hạn chế còn có những thành tựu nhất định.  Do vậy, nó phải có vị trí xứng đáng trong nền lý luận - phê bình văn học dân tộc. Vì ở miền Nam, giai đoạn 1954 -1975, dưới chế độ Việt Nam cộng hòa “các nhà trí thức yêu nước, có khuynh hướng dân tộc dân chủ cũng có đóng góp cho nền lý luận văn học nước nhà. Có thể kể tên các tác giả như: Nguyễn Hiến Lê, Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Đặng Tiến, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Đăng Thục, Lữ Phương, Vũ Hạnh, Lý Chánh Trung, Nguyễn Sĩ Tế... Các học giả miền Nam một mặt giới thiệu tiếp thu các học thuyết lý luận phương Tây, góp phần hiện đại hóa lý luận và phê bình, mặt khác xây dựng một số bộ văn học sử Việt Nam, chú trọng phương diện văn hóa dân tộc của văn học” (1). Và với tinh thần đổi mới tư duy lý luận - phê bình văn học “đã đến lúc phải thừa nhận nhiều nguồn lý luận văn học có giá trị khoa học, tránh thái độ kỳ thị trước các lý luận gọi là phi Mác - Xít”. (2)

Có thể nói, xã hội miền Nam từ 1954 - 1975 là một xã hội tích hợp nhiều nền văn hóa, trong đó có văn hóa phương Tây và văn hóa Mỹ. Với chủ trương mở cửa du nhập văn hóa nước ngoài một cách tự do, nhiều trường phái triết học, mỹ học, lý luận - phê bình văn học phương Tây đã “tràn” vào miền Nam và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống lý luận - phê bình văn học. Chính vì vậy, bức tranh lý luận - phê bình văn học ở miền Nam đã xuất hiện nhiều trường phái lý luận - phê bình phương Tây như: phân tâm học; chủ nghĩa hiện sinh; mỹ học tiếp nhận; cấu trúc luận; hiện tượng luận... cũng là điều tất yếu. Bởi, nếu trong những năm 1930 - 1945, khi trào lưu lãng mạn chủ nghĩa của phương Tây tràn vào văn học chúng ta qua phong trào Thơ Mới và tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn thì theo Lý Hoàng Phong ở miền Nam “nếu trào lưu hiện sinh, trào lưu siêu thực có tác động trong văn thơ chúng ta cũng là thường” (3). Tình hình này cho thấy sự đa phức trong đời sống lý luận - phê bình văn học miền Nam với việc khám phá các hiện tượng văn học từ những điểm nhìn khác nhau giữa các khuynh hướng lý luận - phê bình trên con đường tìm đến chân giá trị của văn chương.

Tuy nhiên, ở một phương diện nào đó, sự tiếp biến các khuynh hướng lý luận -  phê bình phương Tây không chỉ tạo nên sự đa dạng của lý luận - phê bình văn học ở miền Nam mà còn góp phần làm phong phú và hiện đại hóa lý luận - phê bình văn học dân tộc vốn còn nghèo nàn và lạc hậu so với lý luận - phê bình văn học hiện đại của thế giới. Nói như Nguyên Sa – Trần Bích Lan: "Nhìn tổng quát cả một thế kỷ văn chương ta thấy sự giao tiếp với văn học nghệ thuật Tây phương thúc đẩy ta tiếp nhận mau lẹ để tiếp nhận cái khác. Ta như bị thúc đẩy với một tiếng nói không âm thanh: phải đổi thay thật nhanh, phải biến dịch thật mau, cho nên, người này vừa làm xong cổ điển, không đợi những thế kỷ 18 và 19 trôi qua, người kia tiến ngay đến siêu thực, cùng một tác giả có thể nhảy từ tả chân sang siêu thực rồi đến hiện sinh. Và cái sự thay đổi mau lẹ đó, nhìn ở mặt trái nó đáng buồn vì chưa thật là ta, vì còn mang nặng dấu vết này, dấu vết nọ, nhưng nhìn ở mặt phải, nó nói lên sự khao khát đổi thay. Và khi họ đổi thay để bắt kịp những đổi thay của văn học nghệ thuật thế giới, sự khao khát đó sẽ đóng vai động lực của những sáng tạo lớn"(4).

Việc tiếp nhận văn hóa phương Tây trong đó có các trường phái lý luận - phê bình văn học đã tạo điều kiện cho sự phát triển của lý luận - phê bình văn học ở miền Nam với những khát vọng đổi thay trên tinh thần sáng tạo. Đây chính là động lực, là tiền đề quan trọng tạo những bước nhảy vọt trong tiến trình vận động, phát triển của tư duy lý luận - phê bình văn học ở miền Nam và cũng là bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng nền lý luận - phê bình văn học nước nhà hiện nay, nếu chúng ta tiếp nhận, nghiên cứu lý luận phê bình văn học miền Nam  giai đoạn 1954-1975 trên tinh thần khách quan, khoa học và cầu thị mà những thành tựu của lý luận - phê bình văn học nước nhà trong thời kỳ đổi mới như đã nói ở trên là một minh chứng.

2. Với một bối cảnh xã hội văn hóa  khá đa phức, ở miền Nam trong thời kỳ này có thể không có những nhà lý luận - phê bình chuyên nghiệp, nghĩa là họ không thuần túy làm công việc lý luận - phê bình như ý kiến của một số nhà nghiên cứu, mà tiêu biểu là ý kiến của Võ Phiến khi ông cho rằng:“thời kì 1954-1975 gặp cái rủi ro hiếm thấy là trong suốt hai mươi năm trời không có được lấy một nhà phê bình chuyên nghiệp. Trên báo chí vẫn có những bài điểm sách, giới thiệu, phê bình; nhưng hầu hết là bài của giới sáng tác nhận xét lẫn nhau” (5).Hay ý kiến củaLữ Phương khi nói về thực trạng lý luận - phê bình văn học ở miền Nam cũng nhận xét "chúng ta không có những nhà phê bình chuyên nghiệp đáng tin cậy và điều kiện sinh hoạt văn học hiện tại của ta đã không đủ yếu tố để tạo nên những người như vậy"(6). Nhưng không vì thế những công trình lý luận - phê bình của họ lại thiếu tính chuyên nghiệp. Ngược lại, với những gì họ viết ra trong các công trình nghiên cứu của mình thật sự đó là những tác phẩm lý luận - phê bình đúng nghĩa, có tính khoa học, có giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn. Bởi những tác phẩm này được xây dựng trên một cơ sở lý thuyết rõ ràng, không phải là những suy luận chủ quan, cảm tính theo kiểu phê bình nghiệp dư. Đó là các công trình của một số gương mặt lý luận - phê bình tiêu biểu mà tác phẩm của họ thật sự giá trị, có ảnh hưởng không chỉ đến đến đời sống lý luận - phê bình văn học ở miền Nam trước kia mà còn ảnh hưởng đến nền lý luận phê bình văn học của dân tộc ngày nay như: Nguyễn Văn Trung với  Lược khảo Văn học (3 tập); Nhận định (6 tập); Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết; Ngôn ngữ và thân xác; Ca tụng thân xác... Thanh Lãng với Bảng lược đồ Văn học Việt Nam; Phê bình văn học thế hệ 1932; Văn học Việt Nam hai thế hệ dấn thân yêu đời... Lê Tuyên với Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày, Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh; Đỗ Long Vân với Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương, Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung; Đặng Phùng Quân với Triết học và văn chương; Đặng Tiến với Vũ trụ thơ; Trần BíchLan - Nguyên Sa với Một bông hồng cho văn nghệ, Quan điểm văn học và triết học; Huỳnh Phan Anh với Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Đi tìm tác phẩm văn chương; Võ Phiến Tiểu thuyết hiện đại; Phạm Công Thiện với Ý thức mới trong văn nghệ và Triết học, Hố thẳm tư tưởng; Tam Ích với Ý văn, Văn nghệ và phê bình; Bùi Giáng với Thi ca tư tưởng, Tư tưởng hiện đại; Doãn Quốc Sĩvới Văn học và tiểu thuyết; Nguyễn Đăng Thụcvới Thế giới thi ca Nguyễn Du;Lữ Phương với Mấy vấn đề Văn nghệ; Vũ Hạnh với Tìm hiểu Văn nghệ, Đọc lại Truyện Kiều; Nguyễn Trọng Vănvới Phạm Duy đã chết như thế nào?; Uyên Thao với Các Nhà văn nữ Việt Nam 1900-1970, Thơ Việt Nam hiện đại; Tạ Tỵ với Mười Khuôn mặt Văn nghệ, Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay; Trần Nhựt Tân với Dư Vang Nghệ thuật... Trong đội ngũ những nhà lý luận - phê bình văn học ở miền Nam , có thể nói Nguyễn Văn Trung là một trong những nhà lý luận - phê bình văn học "có tầm ảnh hưởng lớn"(7). Bởi, theo Nguyễn Trọng Văn ông là người "có công trong việc giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới của phương Tây với độc giả Việt Nam. Những triết gia, những tư tưởng gia, những văn nghệ sĩ cùng những chuyển biến văn học, triết học quan trọng ở ngoại quốc thường được ông trình bày, giới thiệu một cách gọn gàng, mạch lạc" (8). Vì thế, theo chúng tôi, dù nền lý luận - phê bình văn học ở miền Nam 1954 - 1975 không có những nhà lý luận - phê bình chuyên nghiệp đúng nghĩa như Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn văn học 1930-1945, nhưng vẫn là một nền lý luận - phê bình mang tính chuyên nghiệp cả trong nội dung khoa học và hình thức hoạt động.

Chính vì vậy, chỉ trong hai mươi năm, lý luận - phê bình văn học ở miền Nam từ những bước đi ban đầu mang tính khai phá ở giai đoạn 1954-1963 với những bài điểm sách, điểm tình hình thời sự văn học và những cuộc trao đổi, thảo luận về một số vấn đề lý luận - phê bình như: “Nhân vật trong tiểu thuyết”, “Nói chuyện về thơ bây giờ”, “Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam” trên tạp chí Sáng tạo (1960); phỏng vấn các nhà văn quan niệm "về truyện ngắn", "về sáng tác" trên tạp chí Bách khoa (1961) của Nguiễn Ngu Í... cũng như việc giới thiệu một số trào lưu tư tưởng phương Tây mà chủ yếu là chủ nghĩa hiện sinh như: "Vấn đề giải thoát con người trong Phật giáo và Tư tưởng J.P.Sartre" của Nguyễn Văn Trung (Đại học số 2/1958);“Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh J.P.Sartre” của Quang Ninh (Văn hóa Á Châu số 9/1958); “Khái niệm về chủ nghĩa hiện sinh” của Quang Ninh (Sáng tạo số 28/1959); “Vị trí trào lưu hiện sinh trong lịch sử triết lý” của Trần Văn Toàn (Đại học số 12/1960);“Phác họa hiện tượng luận về thẩm mỹ học của tiểu thuyết”của Nguyễn Văn Trung (Đại học số 2/1961); “Trình bày và phê bình hai quan niệm nổi loạn của Albert Camus” của Thạch Chương (Sáng tạo số 9/1960); “Nietzsche (1844-1900) Con người siêu Việt” của Nguyễn Anh Linh (Bách khoa số 92/1960); “Bộ mặt của triết học hiện sinh” của Trần Hương Tử (Bách khoa số 114/ 1961); "Lược khảo phong trào thi ca siêu thực Pháp" của Lê Huy Oanh (Văn nghệ số 4,5,6 /1961)...

     Nhưng đến sau 1963, khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ kéo theo sự tan rã của chủ nghĩa "cần lạo nhân vị" thì chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành một trong những hệ tư tưởng chi phối đời sống chính trị xã hội ở đô thị miền Nam. Và từ đó lý luận - phê bình văn học ở miền Nam đã bước sang một trang sử mới. Nhiều trường phái triết học, mỹ học, lý luận - phê bình văn học khác của phương Tây cũng được giới thiệu khá rầm rộ như:Hiện tượng học, Cấu trúc luận, Mỹ học tiếp nhận, Phê bình mới...Và từ đây lý luận - phê bình văn học ở miền Nam đã phát triển với nhịp độ khá nhanh trên cả bình diện phẩm và lượng. Hàng loạt các bài viết về những trào lưu tư tưởng phương Tây được tập trung giới thiệu như: "Quan niệm cơ cấu trong các khoa học nhân văn" (Bách khoa từ 126 - 271/1968); "Thuyết cơ cấu và phê bình văn học" (Bách khoa số 289 - 294/1969) của Trần Thái Đỉnh; "Tìm hiểu cơ cấu luận như một phương pháp, một tiểu thuyết và đặt vấn đề tiếp thu" (Bách khoa số 293 - 294/1969) của Nguyễn Văn Trung; "Lịch sử của cảm giác buồn nôn trong văn chương Tây phương hiện đại" của Hoàng Văn Đức (Văn số 2/1964); "J.P.Sartre thân thế và sự nghiệp" của Trần Thiện Đạo (Văn số 31/1965); "Phấn đấu cho một nền tiểu thuyết mới" của Alain Robbe - Grillet, do Trần Thiện Đạo dịch và giới thiệu (Văn số 33/1965); "Những vấn đề của văn nghệ phương Tây hiện đại" của Triều Sơn (Văn số 34/1965); "Văn chương là gì?" của J.P.Sartre, do Nguyễn Minh Hoàng dịch và giới thiệu (Văn số 56- 65/1966); “Tìm hiểu thuyết cơ cấu” của Trần Thiện Đạo (Văn học số 2/ 1967); “Phân tâm học và thiền” của Chơn Hạnh (Tư tưởng số 1/1967); “Thời gian qua Kant, Hegel và Husserl” (Tư tưởng 4,5/1968); “Triết học hiện sinh và chính trị” của Trần Thái Đỉnh (Bách khoa số 264/1968); “Sartre trong đời sống” của Nguyễn Văn Trung (Bách khoa số 267-268/1968); “Samuel Beckett và thẩm quyền của ngôn ngữ” của Huỳnh Phan Anh (Khởi hành số 29/1969);“Nietzsche và Mật Tông” của Ngô Trọng Anh (Tư tưởng số 5/1970); “Phê bình mới, phê bình cũ” của Nguyễn Văn Trung (Bách khoa số 381/1972)... Và rất nhiều công trình lý luận - phê bình văn học có giá trị như: Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương (1966), Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung (1967) của Đỗ Long Vân; Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (1965), Ngôn ngữ thân xác (1967),Lược khảo văn học 2 (1966), Lược khảo văn học 3 (1968) của Nguyễn Văn Trung; Một bông hồng cho văn nghệ (1967) Một mình một ngựa, (1971), của Nguyên Sa; Mấy vấn đề văn nghệ (1967) của Lữ Phương; Ý Văn 1 (1967), Văn nghệ và phê bình (1969) của Tam Ích; Tạp bút -tiểu luận (1969) của Võ Phiến; Đọc lại truyện Kiều (1966); Tìm hiểu văn nghệ (1970) của Vũ Hạnh; Vũ trụ thơ (1972) của Đặng Tiến; Văn chương và kinh nghiệm hư vô (1968), Đi tìm tác phẩm văn chương (1972), Duyên Anh tuổi trẻ mộng và thực (1972) của Huỳnh Phan Anh; Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1970) của Phạm Công Thiện; Dư vang nghệ thuật (1971) của Trần Nhựt Tân; Thơ Việt Nam hiện đại (1969), Các nhà văn nữ Việt Nam 1900-1970 (1973) của Uyên Thao; Mười khuôn mặt văn nghệ (1970), Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972) của Tạ Tỵ; Văn học và tiểu thuyết (1973) của Doãn Quốc Sỹ; Thẩm mỹ học thông khảo (1974) của Nguyễn Văn Xung; Văn học và ngữ học (1974) của Bùi Đức Tịnh; Triết học và văn chương (1974) của Đặng Phùng Quân... Đặc biệt hơn cả là nhiều trào lưu tư tưởng triết học phương Tây có ảnh hưởng rất lớn lớn đến tư duy lý luận phê bình văn học ở miền Nam lúc bấy giờ đã được giới thiệu một cách có hệ thống như: Quan điểm văn học và triết học, của Nguyên Sa - Trần Bích Lan (1960), Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đạicủa Ăng –Đrê Mô- Roa ,Tràng Thiên dịch (1965); Hành trình vào phân tâm học, của Vũ Đình Lưu (1968); Descartes nhìn từ phương Đông của Nguyên Sa (1969), Phân tâm học và tình yêu, của Erich Fromm Bản dịch của Thụ Nhân, (1969) Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn, của Vũ Đình Lưu (1969), Nghiên cứu phân tâm họccủa Sigmund Freud, Vũ Đình Lưu dịch, (1969),Hành trình vào triết học của Trần Văn Toàn (1969); Nguyên Tử hiện sinh và hư vôcủa Nghiêm Xuân Hồng (1969); Những chủ đề triết học hiện sinh của E. Mounier, Thụ nhân dịch (1970); Đưa vào triết học của Nguyễn Văn Trung (1970); Mổ xẻ nhà văn hiện sinh Jean - paul Sartre của Nguyễn Quang Lục (1970) Sartre và Heidegger trên thảm xanh của Tam Ích (1970); Những tác phẩm biến đổi thế giới của Robert B.Downs, bản dịch của Hoài Châu và Từ Huệ, (1970) Phân tâm học Tính dục của Sigmund Freud, Thụ Nhân dịch, (1970);Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu Châu thế kỷ XX, của  R.M. Albérès Vũ Đình Lưu dịch, (1971) Phân Tâm học,  của J. P. Charrier Lê Thanh Hoàng Dân dịch, (1972) Những vấn đề triết học hiện đạicủa Lê Tôn Nghiêm (1971); Martin Heidegger - Hữu thể và thời gian, Lê Tôn Nghiêm giới thiệu, Trần công Tiến dịch (1973); Những dị biệt giữa hai nền triết lý Đông Tây của Kim Định(1974), Triết lý là gì? của Martin Heidegger, Phạm Công Thiện dịch, (1974), Biện chứng pháp là gì? của Trần Thái Đỉnh (1974)…

Không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các học thuyết, các trào lưu tư tưởng nước ngoài, các nhà lý luận - phê bình còn ứng dụng các lý thuyết đó vào việc tìm hiểu giá trị của các hiện tượng văn học và đã có một số tác phẩm khá thành công như: Lược khảo văn học (3 tập) của Nguyễn Văn Trung; Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đày của Lê Tuyên; Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương, Vô kỵ giữa chúng ta hay là hiện tượng Kim Dung của Đỗ Long Vân; Vũ trụ thơ của Đặng Tiến; Văn chương và kinh nghiệm hư vô, Đi tìm tác phẩm văn chương của Huỳnh Phan Anh... Hay một số bài đăng trên các báo như: “Nhân vị trong Hồn bướm mơ tiên”của Đỗ Minh Vọng (Đại học số 4, 5/1958); “Thời gian hiện sinh trong Đoạn trường tân thanh”(Đại học số 9/1959), "Biện chứng phản diện trong Cung oán ngâm khúc" (Đại học số 3/1958) của Lê Tuyên; “Gặp gỡ giữa Ôn Như Hầu và Albert Camus” (Văn số 2/1964) của Đặng Tiến; “Nỗi khắc khoải siêu hình trong thơ Hàn Mặc Tử” (Văn số 73-74 /67) của Nguyễn Xuân Hoàng; "Thử phát họa một bản đồ địa ngục theo Chế Lan Viên" (Văn học giai phẩm /1974) của Đỗ Long Vân...

Với việc ứng dụng lý thuyết của các trường phái lý luận - phê bình văn học phương Tây hiện đại như: Phân tâm học; Chủ nghĩa hiện sinh; Cấu trúc luận; Hiện tượng luận; Mỹ học tiếp nhận... vào việc tìm hiểu nhiều hiện tượng văn học, các nhà lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam đã thổi vào đời sống văn học một luồng sinh khí góp phần tạo ra những giá trị mới cho nhiều tác phẩm văn học của dân tộc vốn chỉ được nhìn nhận qua hệ qui chiếu của triết học và mỹ học phương Đông. Có thể nói việc dịch và giới thiệu văn học nước ngoài trong đó có các công trình lý luận - phê bình đã trở thành một trào lưu khá thịnh hành và phát triển ở miền Nam từ giữa thập niên sáu mươi nên có những nhà xuất bản từ khi mới ra đời đã chủ trương chỉ in sách dịch như nhà xuất bản Giao Điểm. Hoặc như tờ báo Văn "trong hơn 11 năm đã dành ra hơn 90 số đặc biệt cho văn học ngoại quốc. Tức là xấp xỉ 1/3 tổng số báo xuất bản"(9). Và đây cũng là một trong những nhân tố góp phần tạo nên sự phát triển nhanh chóng của văn học miền Nam trong đó có lý luận - phê bình. Tuy nhiên trong việc ứng dụng các hệ lý thuyết vào phê bình văn học, các nhà lý luận phê bình văn học ở miền Nam không vận dụng cứng nhắc một lý thuyết nào mà luôn kết hợp nhiều lý thuyết khi đánh giá các hiện tượng văn học. Bởi theo Tam Ích nếu "nhắm mắt lại mà áp dụng các giáo điều thì đều mắc phải bệnh ấu trĩ cho nhà sáng tác. Rồi đến ấu trĩ cho nhà phê bình cũng theo những nguyên tắc có sẵn mà nói, và ấu trĩ luôn cho độc giả"(10). Và có lẽ đây cũng là một trong những vấn đề cần được nhận thức lại trong việc đổi mới tư duy lý luận - phê bình văn học của chúng ta hôm nay.

Như vậy, với việc đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt lý luận - phê bình, việc mở rộng giới thiệu nhiều trường phái triết học, mỹ học, lý luận - phê bình văn học phương Tây, sự phát triển của đội ngũ các nhà lý luận - phê bình, đời sống lý luận - phê bình văn học ở miền Nam 1954-1975 đã có những bước phát triển nhanh chóng. Đó là bức tranh lập thể nhiều sắc màu, là dàn đồng ca nhiều giọng điệu, là bầu trời nhiều vì sao tuy sinh động nhưng phức tạp và cũng có những giới hạn nhất định. Sự phân hóa này phản ánh khá trung thực đời sống lý luận - phê bình văn học ở miền Nam. Mặt khác, nó cũng thể hiện tính đa dạng trong việc nhìn nhận, đánh giá các hiện tượng văn học, tránh được căn bệnh “giản đơn, công thức, đồng phục" về phương diện lý luận - phê bình mà rất nhiều năm đã trở thành quán tính của nền lý luận phê bình văn học ở miền Bắc giai đoạn 1954 - 1975 cũng như nền lý luận phê bình văn học cả nước trước thời kỳ đổi mới. Tình hình này chỉ thật sự được khắc phục trong lý luận phê bình văn học dân tộc từ 1986 đến nay, khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới, mạnh dạn mở cửa tiếp nhận nhiều trường phái lý luận – phê bình văn học trên thế giới, trong đó có hệ hình lý thuyết phương Tây mà những công trình nghiên cứu mang tính tổng kết của lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới như: Phê bình văn học Việt Nam: Nhìn nghiêng từ phương pháp (2009) của Đỗ Lai Thúy; Sơ lược về tình hình và thành tựu của lý luận, phê bình văn học từ sau 1975 (2009) của Nguyễn Văn Long (chủ biên); Thi pháp học hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam thế kỷ 20 qua góc nhìn của một người nghiên cứu (2009) của Trần Đình Sử; Các khuynh hướng cơ bản của lý luận văn học hiện đại trên thế giới và Việt Nam (2010) của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Văn hóa phương Tây với sự vận động và phát triển của lý luận  - phê bình văn học dân tộc trong xu hướng toàn cầu hóa (2014) của Trần Hoài Anh; Hội thảo Thành tựu văn học Việt Nam Ba mươi năm đổi mới của Đại học Khoa học Huế (tháng 5/2016)… là những xác chứng. Và đây có thể xem là nét tương đồng giữa lý luận - phê bình văn học miền Nam trước 1975 và lý luận - phê bình văn học thời kỳ đổi mới.

   3. Đã hơn bốn mươi năm, từ ngày đất nước thống nhất và tiến hành công cuộc cải cách, xuất phát từ yêu cầu đổi mới tư duy lý luận - phê bình văn học và thực tiễn của việc nghiên cứu văn học, trên cơ sở khảo sát những tác phẩm lý luận - phê bình văn học ở  miền Nam và lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới, thiết nghĩ đã đến lúc cần phải nghiên cứu một cách thấu đáo, khách quan, khoa học tình hình lý luận - phê bình văn học ở miền Nam trong tiến trình vận động, phát triển lý luận - phê bình văn học dân tộc, để khẳng định vai trò của nó trong nền lý luận - phê bình văn học nước nhà. Như thế nền lý luận - phê bình văn học dân tộc sẽ trở nên đa thanh, đa diện, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu được mở rộng hơn đáp ứng nhu cầu đổi mới tư duy lý luận - phê bình văn học dân tộc trong thời kì hội nhập và phát triển. Bởi, theo Nguyễn Khoa Điềm: “dù đất nước đã mở cửa nhưng việc khai thác thành quả của lý luận hiện đại thế giới cũng như truyền thống lý luận của dân tộc lại chưa được nghiên cứu đầy đủ có hệ thống” (11). Không những thế, theo Lộc Phương Thủy: “việc giới thiệu, dịch thuật các tác phẩm học thuật nước nước ngoài ở Việt Nam còn chưa được bao nhiêu. Cần phải mở nhiều ô cửa ra thế giới tham khảo kinh nghiệm” (12).

Mở cửa ra nước ngoài là tất yếu nếu chúng ta không muốn tụt hậu so với thế giới đang biến đổi như vũ bão trong thời đại công nghệ 4.0. Nhưng mở cánh cửa quá khứ của nền lý luận - phê bình văn học dân tộc, trong đó có bộ phận lý luận - phê bình văn học ở miền Nam vốn chịu ảnh hưởng khá nhiều của lý luận - phê bình văn học phương Tây cũng là việc làm có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn để đẩy góp phầnnhanh quá trình hiện đại hoá nền lý luận - phê bình văn học dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển theo tinh thần nghị quyết 23 - NQ/TW của Bộ chính trị, khoá X "về xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới", đó là: "Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc thành quả lý luận văn học, nghệ thuật của ông cha và của thế giới, vận dụng sáng tạo, làm phong phú lý luận văn học Việt Nam hiện đại." (13)

Như vậy, Nhà nước không những định hướng mà còn trao cho các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình chiếc chìa khóa. Nhiệm vụ của các nhà lý luận phê bình là phải mạnh dạn dùng chiếc chìa khóa này không chỉ mở cánh cửa quá khứ để “khai quật” những di sản văn chương của dân tộc, trong đó có di sản lý luận phê bình văn học ở miền Nam trước 1975, mà còn mở cả cánh cửa tương lai để khám phá cái hay, cái đẹp, cái hiện đại của lý luận phê bình thế giới, từ đó vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với khí quyển văn hóa xã hội của đất nước, tạo sự phong phú, đa dạng, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, làm thế nào để nền lý luận phê bình văn học nước nhà hội nhập một cách tích cực, toàn diện, sâu sắc với nền lý luận phê bình văn học thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa.

 

 Chú thích:

(1) Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, H, 2000, tr.753.

(2) Trần Đình Sử, “Lý luận văn học Mác – Xít trong bối cảnh toàn cầu hóa tri thức”, Văn nghệ số 16, ra ngày 16/4/2005, tr.3

 (3) Lý Hoàng Phong, "Có chăng một sự kỳ lạ trong văn nghệ mới", Văn nghệ số12/1962, tr.13

(4) Nguyên Sa, Một bông hồng cho Văn nghệ, Nxb Trình Bày, Sài Gòn, 1967, tr.93-94.

(5), (7), (9) Võ Phiến, Hai mươi năm Văn học miền Nam (1954-1975), Nxb Văn nghệ CA - USA 1987, tr.17, tr.193, tr.240

(6) Lữ Phương, Mấy vấn đề Văn nghệ, Nxb Trình Bày, Sài Gòn 1967, tr.99

(8) Nguyễn Trọng Văn, "Những người con hoang của Nguyễn Văn Trung", Bách Khoa số 264 /1968, tr.51

(10) Tam Ích, Ý Văn1, Nxb Lá Bối, Sài Gòn 1967, tr.29

(11) Nguyễn Khoa Điềm, "Phát biểu kết luận hội nghị lý luận phê bình văn học nghệ thuật toàn quốc", Tạp chí Nhà văn số 4/2006, tr.62

(12) Lộc Phương Thuỷ "Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam" Nghiên cứu Văn học số 1/2005, tr.17

(13) Trích nghị quyết 23 - NQ/TW của Bộ chính trị, khoá X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2008, tr.23

 

                     Địa chỉ liên lạc: PGS.TS. Trần Hoài Anh

                   Khoa Văn hóa học – Trường Đại học Văn hóa Tp Hồ Chí Minh

           NR. 130/2, Đường 30; P.6, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh

           Đt 0905.704.888, Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

        (Thư từ liên lạc xin vui lòng gởi về địa chỉ nhà riêng - Cám ơn!)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các khuynh hướng phê bình văn học ở Việt Nam từ sau 1986, cũng được quan tâm bàn đến trong các công trình nghiên cứu:

 

Bakhtin M., Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và dịch, giới thiệu), Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao -Trường viết văn Nguyễn Du xuất bản, Hà Nội, 1992; Bakhtin M. Những vấn đề thi pháp Đostoevski, (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội,1998; Barthes R. Độ không của lối viết, (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1997; Eagleton T. Chủ nghĩa Marx và phê bình văn học, (Lê Nguyên Long dịch), ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2009; Gulaiep N.A. (1982), Lý luận văn học, (Lê Ngọc Tân dịch), Nxb Đại học và Trung học Chuyên nghiệp Hà Nội; Kundera M. Nghệ thuật tiểu thuyết, (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Đà Nẵng, 1998; Llin I.P, Tzurganova E.A. (chủ biên), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX, (Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2003; Likhachev D.X., Thi pháp văn học Nga cổ, Nxb Văn học, Hà Nội, 2010; Lotman IU.M., Cấu trúc văn bản nghệ thuật, (Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2004; Nhiều tác giả, Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết, (Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh sưu tầm, biên soạn), Nxb Hội Nhà văn- Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2003; Nhiều tác giả, Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, (Đỗ Lai Thúy biên soạn), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004; Nhiều tác giả, Phân tâm học và văn hóa tâm linh, (Đỗ Lai Thúy biên soạn), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004; Tzevan Todorov, Thi pháp văn xuôi, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004; Tzevan Todorov, Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, (Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008; Lộc Phương Thủy (Chủ biên), Lý luận phê bình văn học thế giới Thế kỷ XX, Tập một, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Lộc Phương Thủy (Chủ biên), Lý luận phê bình văn học thế giới Thế kỷ XX, Tập hai, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Francois Lyotard J., Hoàn cảnh hậu hiện đại, (Ngân Xuyên dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, giới thiệu), Nxb Tri thức, Hà Nội, 2007; Jaccard R., Freud cuộc đời và sự nghiệp, (Hoàng Thạch dịch), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006; Wellek R.và Warren A., Lý luận văn học, (Nguyễn Mạnh Cường dịch), Nxb Văn học, Hà Nội, 2009...

Văn học tầm nhìn biến đổi, Nxb Văn học, Hà Nội, 1996; Nguyễn Xuân Kính với Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học Xã hội, 2006; Phong Lê với Văn học và công cuộc đổi mới, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994; Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1997; Hiện đại hóa và đổi mới văn học Việt Nam thế kỷ XX,Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2009; Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết với Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007; Phương Lựu (Chủ biên) với Lý luận văn học (tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997; Lý luận, phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn học-Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2001; Lý luận văn học, Tập I, Văn học, Nhà văn, Bạn đọc, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2002; Từ văn học so sánh đến thi học so sánh, Nxb Văn học- TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, Hà Nội, 2002; Lý luận phê bình văn học, Nxb Đà Nẵng, 2004; Tuyển tập, Tập I, Lý luận văn học cổ điển phương Đông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2005; Tuyển tập, Tập III, Lý luận văn học Mác-Lênin, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006; Lý luận văn học, Tập 3, Tiến trình văn học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006; Phương Lựu Vì một nền lý luận văn học dân tộc-hiện đại,Nxb Văn học, Hà Nội, 2009;  Nguyễn Đăng Mạnh với Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; Nhà văn Việt Nam hiện đại - Chân dung, phong cách, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003,  Phan Ngọc với Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ văn học, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1985; Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000; Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002; Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Lao động, 2009; Vương Trí Nhàn với Những kiếp hoa dại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2001;  Nhiều tác giả với Một thời đại văn học mới (Tiểu luận), Nxb Văn học, Hà Nội, 1987; Năm mươi năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1996, Việt Nam nửa thế kỷ văn học 1945-1995(Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1996;Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, (Phạm Xuân Nguyên sưu tầm và biên soạn), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001; Văn học so sánh nghiên cứu và triển vọng, (Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh tuyển chọn), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2005; Văn học Việt Nam sau 1975, những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006; Nghiên cứu văn học Việt Nam những khả năng và thách thức, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2009; Thi pháp học ở Việt Nam, (Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn và biên soạn), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010;  Mai Hải Oanh với Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2009; Huỳnh Như Phương với Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh, 2007; Phạm Văn Sĩ với Về tư tưởng và văn học hiện đại phương Tây, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1986, Chu Văn Sơn với Thơ điệu hồn và cấu trúc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007; Trần Đăng Suyền với Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002; Trần Đình Sử với Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996;Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội,1999; Lý luận và phê bình văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội, 2000;  Trần Đình Sử (Chủ biên) Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử), Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2004; Trần Đình Sử (Chủ biên) Giáo trình lý luận văn học, Tập1, Bản chất và đặc trưng văn học, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2007; Trần Đình Sử (Chủ biên), Giáo trình lý luận văn học, Tập 2, Tác phẩm và thể loại văn học,Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007; Trần Đình Sử (Chủ biên), Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử), Phần 2, Nxb Đại học Sư Phạm Hà Nội, 2008; Nguyễn Bá Thành với Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2006; Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX-Lý luận phê bình nửa đầu thế kỷ, Quyển Năm, Tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 2004;  Nguyễn Ngọc Thiện (Chủ biên), Văn học Việt Nam thế kỷ XX- Lý luận, phê bình 1945-1975, Quyển Năm, Tập VII, Nxb Văn học, Hà Nội, 2008; Nguyễn Ngọc Thiện, Lý luận, Phê bình và Đời sống Văn chương, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010; Đỗ Lai Thúy với Con mắt thơ, Nxb Lao động, Hà Nội, 1992; Từ cái nhìn văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1999; Bút pháp của ham muốn, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2009;  Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010;  Phan Trọng Thưởng với Văn chương- tiến trình- tác giả- tác phẩm, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001; Lê Ngọc Trà với Thách thức của sáng tạo, thách thức của văn hóa, Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 2002; Lý luận và văn học, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2005; Văn chương thẩm mỹ và văn hóa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007; Hoàng Trinh với Ký hiệu nghĩa và phê bình văn học, Nxb Văn học, Hà Nội, 1979; Từ ký hiệu học đến thi pháp học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992; Trần Huyền Sâm (biên soạn và giới thiệu) với Những vấn đề lý luận văn học phương Tây hiện đại, Nxb Văn học, Hà Nội, 2010; Phạm Quang Trung với Lý luận trước chân trời mở, Nxb Giáo dục, Hà Nội, (1998); Phong Lê (chủ biên), Văn học và hiện thực, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990; Trương Đăng Dung, Nguyễn Cương (đồng chủ biên),Các vấn đề của khoa học văn học; Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội,1990;  Nhiều tác giả, Lý luận và phê bình văn học đổi mới và phát triển (Kỷ yếu hội thảo khoa học),  Viện Văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, Trịnh Bá Đĩnh (chủ biên), Lịch sử lý luận, phê bình văn học Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2013... Và đây là lĩnh vực phát triển năng động nhất, đa dạng nhất, phong phú nhất đã không chỉ xác chứng cho việc phát triển đa dạng phong phú, một đặc điểm vô cùng quan trọng của lý luận phê bình trong 30 năm đổi mới (1986-2016) mà còn cho thấy tinh thần dân chủ trong tranh luận văn học, một phẩm tính mới của nền lý luận bình văn học thời kỳ đổi mới mà chủ trương đổi mới của Đảng là nguyên nhân tạo nên phẩm tính quí giá này. Đây không chỉ là thành tựu quan trọng của lý luận – phê bình văn học thời kỳ đổi mới mà còn là một hệ giá trị vô cùng có ý nghĩa góp phần khẳng định sự đúng đắn trong đường lối cách mạng của Đảng. Đồng thời có thể nói, tinh thần dân chủ của nền lý luận phê bình văn học 30 năm đổi mới (1986-2016)  cũng góp phần, không chỉ tác động đến không khí dân chủ trong sáng tác, sáng tạo của văn nghệ sĩ mà còn ảnh hưởng đến không khí dân chủ trong đời sống xã hội, góp phần đưa công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà thành quả sau 30 năm đổi mới là một minh chứng sinh động cho vấn đề này.