Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Văn Như Cương và gia đình

Với người Việt Nam, gia đình khi nào cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống. Sống trong cuộc đời 80 năm, Nhà giáo Văn Như Cương có gia đình lớn. Với tư cách là người con, người anh, người em, người chồng, người cha, người ông - trên cương vị nào,  Nhà giáo Văn Như Cương cũng hoàn thành xuất sắc vai trò của mình.

CHA MẸ

Cha ông là Văn Đức Bích, mẹ ông là Phan Thị Sương; nhà có 7 người con (5 gái, 2 trai), Nhà giáo Văn Như Cương là con thứ tư trong gia đình. Gia đình ông là một gia đình nề nếp, các thành viên đoàn kết, yêu thương lẫn nhau, lấy việc học làm trọng - vừa để làm người, vừa để lập nghiệp.

Trong hàng chục năm tiếp xúc, trò chuyện với Nhà giáo Văn Như Cương, cũng có đôi ba lần ông kể về người cha của mình. Đó là những dịp hiếm hoi chúng tôi ngồi riêng với nhau (thường trong lúc chờ những người bạn khác tới). Qua những câu chuyện của ông, tôi hiểu đại bộ phận đàn ông xứ Nghệ đều có tình cảm đặc biệt đối với người cha, nhưng họ đều kìm lòng không muốn thổ lộ. Ông không kể về người cha theo cách ca ngợi, dãi bày, mà chỉ kể về những sự kiện đáng nhớ, đặc biệt là những lần ông vợ chờ vợ sinh con (đương nhiên, Nhà giáo Văn Như Cương cũng chỉ được nghe kể lại). Những câu chuyện này hàm chứa tình cảm ông dành cho cha mình, cũng như những ảnh hưởng về sau.

Ông Văn Đức Bích (1900 - 1970) là một nhà giáo có trí tuệ, giàu bản lĩnh và sống một cuộc đời đầy, biến cố, thăng trầm. Là ông đồ người Nghệ, việc muốn có con trai là điều hiển nhiên. Đơn giản là vì các ông đồ Nghệ “nhiễm” tư tưởng Nho giáo rất sâu. Mong muốn có con trai, trước hết là để tiếp tục sự nghiệp của cha; sau đấy mới là để nối dõi tông đường, sau nữa là để có người trò chuyện, để truyền nghề; hoặc là để cho họ hàng, người thân không áy náy. Với bất cứ lý do gì thì việc đàn ông xứ Nghệ khát khao có con trai là điều có thật và rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, ông Văn Đức Bích đã không bị cái mong muốn lớn lao này chi phố nhiều trong cuộc sống. Ngay từ đầu thứ kỷ XX, ông đã nhận thức được vấn đề con trai, con gái đều có giá trị như nhau. Người ta kể rằng, ông vốn đi dạy học ở nơi xa, nhưng cứ mỗi lần vợ sắp sinh con là ông trở về. Ngày xưa, vợ sinh con ngay trong buồng tại nhà. Ông ngồi ở gian ngoài, hồi hộp chờ đợi. Lần đầu tiên, người ta thông báo vợ ông sinh con gái, ông tỏ ra vui vẻ, hạnh phúc. Đến lần thứ hai vợ ông sinh con gái, sắc mặt ông vẫn không thay đổi. Rồi lần thứ ba, vợ ông sinh con gái, ông vẫn tỏ ra vui sướng cùng với vợ con. Đến lần thứ tư, vợ ông sinh con trai (chính là Nhà giáo Văn Như Cương sau này), ông cũng không tỏ ra vui sướng thái quá, vẫn giữ nguyên nét mặt như những lần trước vợ sinh con gái. Đây chính là thể hiện quan niệm tiến bộ của ông đồ Nghệ từ gần một thế kỷ trước.

Vốn là một trí thức ở một làng quê có truyền thống yêu nước, ông Văn Đức Bích giác ngộ và tham gia cách mạng rất sớm. Ông là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam nhưng trong cải cách ruộng đất bị quy kết sai thành phần, bị khai trừ khỏi Đảng. Sau khi sửa sai, ông được khôi phục lại đảng tịch nhưng hình như ông không còn nhiệt tình hoạt động nữa. Ông dồn tâm sức nuôi dạy các con ăn học thành người. Cả 7 người con của ông đều là những người trọng lễ nghĩa.

Tuy nhiên, trong ông còn nhiều ẩn ức và những kỷ niệm không vui trong thời cải cách ruộng đất. Có lẽ cải cách ruộng đất đã làm gián đoạn những dự định trong nghề làm thầy của mình. Điều này khiến ông không có niềm vui trọn vẹn, mặc dù con cái đều trưởng thành, có sự nghiệp riêng. Nhà giáo Văn Như Cương là con trai cả của ông nên gần gũi và hiểu bố mình nhất. Việc ông nhớ và đưa  lên facebook một bài thơ của bố mình chứng tỏ điều đó. Thầy Văn Như Cương viết: “Nhân ngày của cha, chép lại bài thơ buồn sau đây của cha tôi. Bài thơ này ông viết năm 1960 lúc 60 tuổi:

Mừng rỡ làm chi hỡi các con,

Vui gì cảnh lão, cảnh hoàng hôn.

Càng thêm tuổi thọ càng thêm nhục,

Rượu thọ, thơ xuân chỉ gợi buồn.

Rõ ràng, đây là một bài thơ làm trong dịp sinh nhật 60 tuổi, đáng ra phải là một bài thơ vui nhưng ông Văn Đức Bích là người không thích vui gượng. Thêm nữa, ông cũng muốn các con không nên tỏ ra vui thái quá trước việc ông lên lão ở tuổi 60. Đây là thái độ tỉnh táo của người có trách nhiệm trong cuộc đời. Yêu mến, kính trọng cha, Nhà giáo thuộc lòng bài thơ đó và đã hiểu được tâm trạng của cha mình.

Ông Văn Đức Bích suốt đời làm nghề dạy học một nhà giáo có chí, có tâm. Ông đã từng làm hiệu trưởng một trường cấp 1 ở xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Vào năm 2015, trường tổ chức kỷ niệm, có mời Nhà giáo Văn Như Cương tham dự. Sự kiện này được Nhà giáo Văn Như Cương ghi lại trên Facebook Cương Như Văn vào ngày 21 Tháng 11 2015:

“Dự lễ 95 năm ngày thành lập trường tiểu học xã Quảng Ngọc (Quảng Xương, Thanh Hóa) và ngày 20/11. Tôi bất ngờ được mời vì cách đây 95 năm ông cụ sinh ra tôi làm Hiệu trưởng đầu tiên ở đó. Tôi thật sự xúc động vì sự tôn sư trọng đạo vẫn không hề mai một.”

Nhà giáo Văn Như Cương tự hào về cha mình đã từng làm hiệu trưởng khi ông còn rất trẻ. Điều này chứng tỏ ông Văn Đức Bích trưởng thành rất sớm. Chỉ tiếc khi sắp đến tuổi về hưu thì ông lại bị quy sai thành phần, khiến ông có những tháng ngày bị đối xử tàn tệ. Điều này theo ông mãi cho đến khi ông về thế giới bên kia.

Ông Văn Đức Bích mất vào năm 1970, hưởng thọ 70 tuổi. Lúc này con trai Văn Như Cương đang học tập, nghiên cứu ở Moskva nhưng ông cũng linh cảm được việc mất cha. Điều này cũng đã được ông ghi lại trên Facebook Cương Như Văn như sau:

Tôi chưa bao giờ được gặp một nhà ngoại cảm, chỉ thấy ảnh thôi. Cũng chưa bao giờ được chứng kiến việc các nhà ngoại cảm tìm mộ các liệt sĩ, chỉ nghe kể lại hoặc đọc trên báo chí mà thôi. Bởi vậy trong lòng cứ nghi nghi, hoặc hoặc, nửa tin, nửa ngờ. Tuy nhiên tôi không xem rằng “ngoại cảm” là chuyện mê tín dị đoan, mà là chuyện khoa học. Mà là khoa học thì phải cố tìm cách chứng minh hoặc phủ định một cách khoa học.

2-11-2013:Tôi xin kể chuyện sau đây của chính mình. Ai tin thì tin, không tin thì thôi.

Vào năm 1970 lúc ở Moskva, một đêm tôi nằm mơ thấy mình bị rụng cả hai hàm răng. Cái cảm giác cả đống răng rụng đầy mồm khiến tôi thức dậy. Biết chỉ là nằm mơ nhưng tôi vô cùng sợ hãi và mồ hôi toát ra như tắm… Số là hồi bé tôi đã mấy lần nghe bố tôi kể chuyện về giấc mơ rụng răng của ông. Ông nằm mơ thấy rụng răng lúc đang dạy học xa nhà khoảng một ngày đường đi bộ. Và tối hôm đó có người nhà tìm đến báo tin ông nội tôi mất….

Hồi ấy, một bức thư từ đi từ Hà nội đến Moskva phải mất 1tháng, và đúng 1 tháng sau cái đêm ấy tôi nhận được thư nhà, đau đớn báo tin bố tôi đã mất… Nhiều người giải thích rằng đó là “thần giao cách cảm”.Trong tiểu thuyết Jane Eyre của Charlotte Bronté cũng nói chuyện thần giao cách cảm, đọc đến đoạn ấy tôi cứ nổi da gà….”.

Nhà giáo Văn Như Cương là con trai cả nên được ông Văn Đức Bích yêu thương và đặt nhiều kỳ vọng. Đặc biệt, trước khi ông Văn Như Cương ra đời, cụ Văn Đức Bích đã có 3 người con gái. Tuy nhiên, cách biểu hiện tình cảm của đàn ông xứ Nghệ thường kín đáo, sâu đằm, chất chứa bên trong chứ ít khi biểu hiện ra bên ngoài. Đàn ông xứ Nghệ rất ít khi ôm nhau, hôn nhau; thậm chí nhớ nhau họ cũng không nói. Họ thường nghĩ về nhau, lo cho nhau, mong cho nhau gặp nhiều may mắn trong cuộc đời. Họ không chỉ đơn thuần mong, mà âm thầm làm tất cả những gì có thể để người thân của mình hạnh phúc. Người cha Văn Đức Bích và người con Văn Như Cương là những người như vậy. Họ vẫn “thấy” nhau dù ở cách xa ngàn dặm. Điều này đã được một số nhà ngoại cảm chứng minh.

Còn với mẹ ông - bà Phan Thị Sương, ông có rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Năm 1996, khi tôi đang làm tại Tạp chí SINH VIÊN, anh Trần Bá Dung (lúc đó là Phó Tổng biên tập phụ trách Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp) có đưa cho tôi tấm ảnh ông Văn Như Cương cõng mẹ. Tôi thấy bức ảnh rất ấn tượng nên xin phép đăng tấm hình này lên Tạp chí SINH VIÊN. Sau này gặp ông, tôi nhắc chuyện này và được ông kể cụ thể.

“Đó là năm 1994, cũng là Tết cuối cùng ông được về với mẹ ở quê nhà. “Trước đó trời mưa, đường làng không phải như bây giờ, còn là đường đất thịt rất trơn và lầy. Mùng 1 Tết,  theo lệ thường chúng tôi vẫn ra nhà thờ họ, đến chúc Tết bà con, láng giềng. Do đường trơn, mẹ không đi được, vì vậy tôi đã cõng mẹ tôi. Mẹ bảo: “Con buồn cười, để mẹ đi cũng được!”. Sở dĩ mẹ tôi không muốn tôi cõng, bởi trước đó, tôi bị đâm xe máy gãy chân phải bó bột. Nhưng tôi vẫn cõng mẹ và điều làm tôi ngạc nhiên là mẹ tôi nhẹ quá. Mẹ tuy không ốm đau gì nhưng rất nhẹ. Tôi kêu lại “Trời ơi! Sao tự nhiên mẹ nhẹ bỗng đi thế này!”. Mẹ nói:“Người già chỉ có da và xương thì phải nhẹ chứ?  Con đừng lo gì cả! Mẹ chỉ sợ chân con còn đau không đi xe máy được thôi”. Chuyện là vậy nhưng tôi không để ý rằng có người đã chụp ảnh được cái cảnh “Con cõng mẹ”. Sau này được tác giả tặng cho bức ảnh đó, tôi có viết 4 câu để nhớ lại tâm trạng của mình lúc ấy:

“Con sáu mươi cõng Mẹ chín tư

Mẹ ơi, Mẹ nhẹ thế này ư?

Thôi, con đừng có lo cho mẹ

Mẹ sợ chân con sẽ mỏi nhừ!”

Đi đường gặp rất nhiều bà con chòm xóm láng giềng. Ai ai cũng chào hỏi vui vẻ : “Chào cố Bích, chào ông Cương, chúc mừng năm mới!”, “Ông Cương mấy mươi rồi mà còn khỏe rứa?”,  “Cố Bích sướng nhé, có ông con râu bạc cõng đi chơi !”… Đấy là kỷ niệm tôi không bao giờ quên…”.

Chàng thanh niên Văn Như Cương rời làng quê đi học, đi làm xa nhưng khi nào cũng tâm niệm phải sống đẹp để xứng đáng với truyền thống của gia đình, dòng họ, thôn xóm. Thầy Văn Như Cương - Một “ông đồ Nghệ” hiện đại điển hình đã chứng tỏ được những phẩm chất của mình trên từng cương vị trong gia đình.

Là người con, ông hết mực tôn kính và yêu thương cha mẹ. Vì bận học tập nghiên cứu và đường xa cách trở, ngày cha ông mất, ông không thể có mặt. Vì vậy, hình như ông dồn hết tình cảm của mình cho mẹ. Dù bận rộn trăm công nghìn việc nhưng năm nào ông cũng về quê nhiều lần, đặc biệt trong những dịp lễ, tết. Hình ảnh ông râu dài, tóc bạc, cõng mẹ đi trên đường làng trong một ngày mưa đã nói lên tình thương yêu vô bờ bến của ông dành cho mẹ. Rất hay và rất may, có người đã ghi lại được hình ảnh này và lan truyền rộng rãi. Điều thú vị nữa là chính ông đã đề thơ cho bức ảnh này.

NGƯỜI VỢ - NGƯỜI BẠN ĐỜI

Người ta nói, phía sau một người đàn ông thành đạt thường có một người phụ nữ lịch lãm, chỉn chu, hết lòng lo toan cho người đàn ông đó. Nhà giáo Văn Như Cương chưa bao giờ nhận mình là người thành đạt nhưng những gì ông làm được, ông để lại thì xã hội công nhận ông là người rất thành đạt. Tuy nhiên, thành đạt của nhà giáo khác với thành đạt của chính khách hay doanh nhân. Điều chúng tôi muốn nói tới ở đây là mối tình đẹp của thầy giáo Văn Như Cương với cô Đào Kim Oanh. Hai người này nổi tiếng nhưng vì họ là nhà giáo chứ không phải là diễn viên, ca sĩ nên báo chí, truyền thông cũng không khai thác nhiều, hơn nữa, bản thân thầy cô cũng là những người kín tiếng.

Chỉ đến khi thầy Cương lâm trọng bệnh, người ta mới bắt đầu chú ý tới “hậu phương” vững chắc của thầy và phát hiện ra rất nhiều điều thú vị, trong đó tình yêu và người bạn đời của thầy là một điểm sáng đáng chú ý. Nhà giáo Văn Như Cương và người bạn đời Đào Kim Oanh đã gắn bó với nhau gần 60 năm, từ khi họ là học sinh, sinh viên cho đến lúc họ có cháu, có chắt. Hầu như thầy cô không bao giờ rời xa nhau, trừ 4 năm thầy Cương sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh và bảo vệ tiến sĩ. Thầy cô không chỉ đơn thuần gắn bó với nhau như vợ chồng, mà họ còn là những đồng nghiệp, những người cùng đứng mũi chịu sào để Trường Lương Thế Sinh vượt qua mọi khó khăn, thử thách, có được vị thế như hôm nay.

Viết đến đây, tôi bỗng nhớ đến câu nói của Franz Schubert (1797-1828) - Một nhà soạn nhạc người Áo có cái nhìn cuộc đời sâu sắc. Ông nói: “Thật hạnh phúc cho người đàn ông nào tìm được người bạn đích thực, nhưng còn hạnh phúc hơn là người đàn ông tìm được người bạn đích thực bên trong người vợ của mình”. Điều này thật đúng với trường hợp của Nhà giáo Văn Như Cương với người bạn đời của mình là cô Đào Thị Oanh. Họ có nhau, đi cùng nhau suốt đoạn đường gần 60 năm. Trong nhiều trường hợp, cô Oanh là bạn đồng hành, là đồng nghiệp, là người phụ tá đắc lực của thầy Cương.    

Nhưng trước hết phải nói tới họ có một tình yêu đẹp này nở giữa một thầy giáo trẻ và một cô nữ sinh. Tình yêu nảy nở khi thầy giáo trẻ Văn Như Cương còn dạy ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tình yêu này mãnh liệt đến mức cô nữ sinh Hà Thành vào Vinh để học đại học vì thầy giáo Cương lúc đó chuyển vào xây dựng Trường Đại học Sư phạm Vinh. Vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước mà một nữ sinh Hà thành rời bỏ Thủ đô Hà Nội để vào xứ Nghệ cũng là một câu chuyện vô cùng lãng mạn rồi. Đôi uyên ương này ngày đó kín tiếng nên ít ai biết tình yêu của họ đã diễn ra như thế nào, được thử thách ra sao. Trong một bài viết mới đây trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An - Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Khắc Phi - một người bạn, một đồng nghiệp của Nhà giáo Văn Như Cương có đề cập tới tình yêu của hai người.

Chỉ biết khi cô Đào Kim Oanh tốt nghiệp đại học, hai người đã xin hai bên gia đình cho họ làm lễ cưới. Mới đây, cô con giá út của họ - chị Văn Thùy Dương đưa trên trang facebook cá nhân của mình tấm thiệp cưới của bố mẹ.Tấm thiệp vô cùng giản dị có ghi tên của cô dâu - Đào Kim Oanh và chú rể Văn Như Cương. Điều đang nói là mặt sau của tấm thiệp, chú rể Văn Như Cương còn viết thêm như thế này: “Theo ý chúa, bọn mình sẽ cưới nhau vào tối ngày 30/6 tại Vinh. Cậu mừng cho bọn mình nhé”. Lời lẽ giản dị, đáng yêu như vậy, ai được mời mà chẳng tới dự. Dân cư mạng còn khoái trá hơn khi đăng cùng tấm thiệp là tấm ảnh thuở mới cưới của đôi vợ chồng trẻ. Gương mặt hạnh phúc của hai người trong tấm ảnh đen trắng khiến nhiều người ao ước.

Ngày ấy, chàng sinh viên Sư phạm quê Nghệ An Văn Như Cương về trường nữ sinh Trưng Vương thực tập thì gặp cô học trò Đào Kim Oanh. Hai bên cảm mến nhau. Tình yêu cứ thế nảy nở giữa chàng trai xứ Nghệ và cô gái Hà thành.

Được gia đình đồng thuận, cô Oanh theo thầy Cương vào Nghệ An khi thầy được giao nhiệm vụ xây dựng trường Đại học đầu tiên tại Vinh năm 1959. Năm 1961, cô Oanh tốt nghiệp, thầy Cương xin bố mẹ đôi bên cho phép hai người được về chung một nhà. Năm 2017, họ đã là vợ chồng của nhau được 56 năm.

Sống với nhau dài như vậy nhưng sự đằm thắm và lãng mạn vẫn luôn luôn đồng hành cùng họ. Cô nữ sinh trường Trưng Vương vẫn giữ được sự lãng mạn thuở ban đầu, mặc dù bây giờ họ đã có cháu, có chắt. Bài thơ “Toán và hoa” của thầy Cương nói lên điều này:

Em cắm hoa tươi đặt cạnh bàn,

Mong rằng Toán học bớt khô khan.

- Em ơi, trong Toán nhiều công thức

Đẹp cũng như hoa lại chẳng tàn.

Phải thấy là chỉ những người giữ được lửa tình yêu mới có thể cắm hoa và làm thơ sau hàng chục năm sống với nhau. Và cũng thấy ngay đây là thơ của một nhà toán học. Chỉ những người mê toán mới thấy công thức cũng như hoa.

Tình yêu của bố mẹ khiến con cái tự hào và nhớ mãi những chi tiết thú vị mà bố mẹ kể. Chị Văn Thùy Dương, con gái út thì nhớ mãi và tâm đắc chuyện lần đầu tiên mẹ đưa bố về giới thiệu với bà ngoại. Anh thanh niên Văn Như Cương biết rằng, trong bối cảnh đó, mẹ của người yêu sẽ không bỏ qua bất cứ cử chỉ nào của anh con rể tương lai. Vì vậy, dù cơm rất ngon thì anh vẫn ăn rất nhỏ nhẹ, từ tốn và ăn rất ít. Dù mẹ vợ tương lai nói với con gái: “Con ơi, lấy thằng ăn ít thế sau này chẳng làm được gì giúp con đâu, đàn ông phải ăn như hổ mới có sức khỏe để chăm vợ con chứ!”. Đây là một nhận xét có vẻ phê phán nhưng thực ra là có ý khen sâu xa: Đây là con người rất đáng quý, biết nhường nhịn và hi sinh vì người khác.

Đúng là như vậy, anh thanh niên Văn Như Cương ý tứ mới ăn ít như thế chứ không phải anh không khỏe. Điều này được chứng minh liên tục cả gần 60 năm sau đó: Người chồng Văn Như Cương là chỗ dựa vững chắc cho cả gia đình, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Vốn là người lạc quan và có đầu óc hài hước, thầy Văn Như Cương khi nào cũng tạo được không khí vui tươi, đầm ấm và yên bình trong gia đình, kể cả khi họ nuôi lợn và “được” công an tới “thăm”.

Thầy Văn Như Cương là người chồng yêu thương và tôn trọng vợ suốt 56 năm chung sống. Dù là người quảng giao, dù cũng rất thích giao tiếp với bạn bè nhưng hầu như ông không bao giờ lỡ hẹn với vợ. Ông thường về nhà đúng giờ và thực hiện trọn vẹn những gì ông hứa làm cho vợ. Tôi nói điều này là có bằng chứng rất thuyết phục chứ không phải suy đoán. Số là, chúng tôi có một nhóm bạn bè vong niên, hầu như tuần nào cũng ngồi lại với nhau, nhâm nhi ly rượu, cốc bia; thông tin tình hình và bàn chuyện thế sự. Những câu chuyện không đầu, không cuối như vậy nhưng vô cùng bổ ích. Thầy Văn Như Cương tham gia những cuộc gặp gỡ như thế này thường xuyên nhưng hầu như bao giờ cũng ra về sớm nhất. Tôi để ý, cứ sau khi nghe một cuộc điện thoại thì thầy vui vẻ thông báo là sắp phải về. Một lần, vì ngồi bên cạnh thầy nên tôi thấy điện thoại hiện lên chữ “My love”; thầy nghe, nói rất dịu dàng rồi thông báo sắp phải về. Tò mò, tôi hỏi: “Anh vừa nói chuyện với ai đấy?”. Thầy trả lời ngay: “Bà Oanh chứ còn ai nữa!”. Tôi thán phục nên buột miệng: “Ối cha ơi, đã gần tám mươi tuổi rồi mà anh chị còn lãng mạn và trẻ trung quá! Ghi nhớ số điện thoại của vợ dưới cái tên “My love” - “Tình yêu của anh” thì quả thực trẻ trung thật!”. Nghe tôi nói như vậy, ông mỉm cười ý nhị rồi nói: “Cậu hơi kém đấy! Đây không phải tiếng Anh, mà là tiếng Nghệ. Do đó “My love” phải đọc là “Mi lo về”. Thôi, mình về đây, uống như vậy đủ rồi”.

Ông yêu vợ và hài hước như thế nên vợ ông cũng đáp lại tình cảm đó một cách hài hòa; hiểu và vui vẻ thực hiện những gì ông góp ý một cách chân tình và có lý. Ví dụ, khi thấy vợ nói chuyện điện thoại lâu quá, ông nhẹ nhàng nói: “Em ơi, điện thoại là phương tiện để thông tin chứ không phải để tán gẫu…”. Tuy bị nhắc nhở khi đang nói chuyện cao hứng, với người khác, có thể là họ giận, hay ít ra cũng không vui vẻ thực hiện điều góp ý của chồng. Còn cô Oanh thì khác, cô nhanh chóng kết thúc cuộc điện đàm và thầm biết ơn là chồng đã nhắc nhở nhẹ nhàng, tế nhị.

Ở đây có hai điều đáng nói: 1. Người nhắc nhở cũng rất nhẹ nhàng, ngắn gọn nhưng đã có sự phân tích ở trong đó; 2. Người vợ ở đây đã hiểu chồng, biết rằng cần thiết thì chồng mới nhắc nên vợ tiếp thu ngay. Đây là một câu chuyện nhỏ của vợ chống Nhà giáo Văn Như Cương nhưng nó cũng cho chúng ta thấy “bí quyết” của việc sống hòa thuận bên nhau gần 60 năm của đôi vợ chống nhà giáo này.

Dù là người độc đáo trong nhiều phương diện của cuộc sống, nhưng bên người vợ của mình, thầy Văn Như Cương khi nào cũng thơ trẻ và muốn làm cho vợ vui. Ông đã nhiều lần mua đồ dùng, quần áo, thức ăn cho gia đình; ít nhiều giúp vợ một tay… Như đại đa số đàn ông vẫn làm, ông thường bớt giá tiền để được vợ khen là mua được rẻ, giá hời. Và có lần ông phải chịu thiệt vì vợ nhượng lại thịt, cá cho hàng xóm với cái giá ông nói. Đấy là những kỷ niệm vui khó quên.

Và gia đình thầy Cương - cô Oanh đã có hạnh phúc viên mãn trong suốt nhiều năm, kể cả lúc lâm chung thì thầy Văn Như Cương cũng có vợ con ở bên cạnh. Thầy đi vào cõi vĩnh hằng trong vòng tay của người vợ đã gắn bó 60 năm. Chính vì vậy, ông thanh thản ra đi như chìm vào giấc ngủ, sau khi đã hoàn thành tất cả những việc quan trọng trong đời. Có chăng người vợ của ông cảm thấy thiếu thốn, trống vắng ông trên sân trường, nhất là vào mùa khai giảng. Nhưng với cách sống của ông, với những gì ông làm được, con cháu, thầy cô, học trò dường như vẫn thấy ông hiển hiện trong công việc hàng ngày của họ. Đây là một trong những điều đặc biệt mà Nhà giáo Văn Như Cương làm được - tình yêu thương, sự kính trọng của mọi người dành cho ông vẫn đong đầy, ngay cả khi ông đã về thế giới bên kia.

CON CHÁU, ANH CHỊ EM

Nhà giáo Văn Như Cương là người cha của 3 cô con gái. Ông hết mực yêu thương các con, dạy dỗ để các con bước vào đời đàng hoàng, đĩnh đạc. Ông nuôi nấng các con trưởng thành, giúp con con xây dựng gia đình và sự nghiệp. Ông đã hướng cả 3 người con của mình theo nghề dạy học để kế tục sự nghiệp của mình, dù các con của ông học những ngành nghề khác nhau. Đúng là hiếm có gia đình nào mà cả vợ chồng, con cháu đều làm cũng một nghề. Nếu Làng Quỳnh xem việc học là nghề truyền thống thì gia đình Nhà giáo Văn Như Cương xem nghề dạy học là nghề truyền thống. Từ đời ông, đời cha, đời con, đời cháu đều làm nghề dạy học. Gia đình ông Văn Như Cương làm được việc này vì nhiều người trong số con, cháu noi gương bố, gương ông để làm nghề dạy học, mặc dù trước đó họ học ngành khác chứ không học sư phạm. Và điều cơ bản nhất, thuận lợi nhất là gia đình có trường tư thục có uy tín là Trường Lương Thế Vinh.

Văn Liên Na là người con gái đầu của Nhà giáo Văn Như Cương. Cô sát cánh bên bố mẹ xây dựng và phát triển Trường Lương Thế Vinh từ rất sớm. Hiện nay cô giữ chức Phó Hiệu trưởng Trường Lương Thế Vinh. Là người chị cả, cô Văn Liên Na có ý nhường nhịn các em; cô lặng lẽ làm những việc khó ít ai để ý. Cô là người thừa kế được tính nhân hậu của cha.

Văn Quỳnh Giao là con gái thứ hai. Cô đã có những tháng năm du học ở nước ngoài. Cô học ngành Ngữ văn tại Trường Đại học Tổng hợp Moskva mang tên Lomonosov. Với những người Việt Nam tốt nghiệp trường đại học danh tiếng này, không khó để tìm một công việc tốt ở ngoài xã hội. Nhưng do yêu quý bố mẹ, tôn trọng sự nghiệp của bố mẹ nên cô cũng gắn bó với Trường Lương Thế Vinh,  và hiện tại cũng là Phó Hiệu trưởng của trường này.

Văn Thùy Dương là con gái út của vợ chồng Nhà giáo Văn Như Cương. Ông cha ta nói “giàu con út, khó con út” với ý nghĩa là con út có khi phải gánh vác trọng trách của gia đình. Có vẻ như điều này đang ứng nghiệm, tuy cũng chỉ là Phó Hiệu trưởng nhưng vốn nhanh nhẹn, tháo vát nên cô xuất hiện trước công chúng, trước báo chí nhiều hơn. Cô cũng học được cha mình sự độc đáo; ví dụ, cô là tác giả của cái biển chỉ dẫn trên đường Phạm Hùng: “Trường Lương Thế Vinh 201 mét”. Có người hỏi: “Sao không ghi 200 mét cho chẵn mà lại ghi 201 mét?”. Ghi thế cho ấn tượng, làm cho nhiều người chú ý. Mà đúng thật, đến tôi cũng chú ý và nhớ mãi chuyện này.

Để cả ba người con đoàn kết, sát cánh bên nhau chăm lo cho Trường Lương Thế Vinh, thầy Văn Như Cương đã có ý thức giáo dục, hướng dẫn các con từ bé. Là một nhà giáo giàu kinh nghiệm, ông cũng dạy dỗ con con dựa trên nguyên tắc khiêm khắc và bao dung. Các con ông cảm thấy rất rõ điều đó và cố gắng làm tốt mọi việc để ông vui lòng.

Không chỉ yêu thương các con hết lòng, Nhà giáo Văn Như Cương  còn dành nhiều thời gian, công sức để chăm sóc và dạy dỗ các cháu. Có vẻ như ông dồn tâm huyết vào cậu cháu trai cao lớn, thông minh, nhanh nhẹn hoạt bát và xem ông như một thần tượng. Cậu cháu này đã sang Mỹ để học quản lý ngành liên quan đến tài chính nhưng vì là cháu của thầy Văn Như Cương nên cậu ta cũng rất quan tâm đến giáo dục. Trường Lương Thế Vinh là một cái đích để chàng trai này hướng tới. Chính cậu đã tâm sự: “Với tôi, thầy Cương là một người ông, một người thầy và một hình mẫu mà tôi sẽ luôn luôn cố gắng từng ngày từng giờ để trở thành”.  Với sức trẻ và được học hành bài bản, chắc chắn chàng thanh niên Đặng Văn Quỳnh sẽ làm được nhiều việc cho trường, cho xã hội.

Từ khi Đặng Văn Quỳnh mới sinh ra đã được ông yêu thương, quan tâm, chăm sóc hết mực. Thầy Văn Như Cương không phải là người phân biệt đối xử, yêu người này, không thích người kia, mà nói như người ta nói cháu Quỳnh và ông Cương hình như có duyên với nhau, hợp nhau nên quấn quít nhau. Ông Cương có rất nhiều cháu, nhưng bài thơ : “Ông yêu cháu nhất nhà/Yêu hơn yêu mẹ cháu/Yêu hơn cả yêu bà/Vì cháu chưa biết nói/Chẳng cãi ông bao giờ” chắc là ông Cương viết cho cháu Quỳnh. Ngoài ra, ông còn viết bài thơ nói về vì sao ông đặt tên cho cháu là Quỳnh.

Nhà giáo Văn Như Cương là người đặt tên cho tất cả các cháu, chắt. Đặt tên người bao giờ cũng là công việc thú vị nhưng đầy khó khăn. Vốn là người uyên bác và xem trọng chữ nghĩa nên thầy Cương đặt tên cho các cháu, các chắt đầy ý nghĩa. Tên của hai cháu là con của chị Văn Liên Na được ông Cương đặt cho là Nguyễn Văn Hà An, Nguyễn Văn Hà Anh; có cả họ bố, họ mẹ trong đó. Đến tên các chắt được đặt là Nguyễn Nguyên Đan (con trai, tên bố là Đức nên nên lấy chữ Đ ghép với tên mẹ thành Đan); em của Nguyễn Nguyên Đan cũng tên là Đan nhưng là con gái nên có tên đệm là Linh  thành Nguyễn Linh Đan.

Tên của hai cháu con của chị Văn Quỳnh Giao được đặt là Phùng Văn Hiểu Trâm và Phùng Văn Bội Trâm. Nguyên tắc lấy cả họ bố và họ mẹ cũng được áp dụng ở đây.

Một điều thú vị là con trai của cháu Đặng Văn Quỳnh được lấy họ của Nhà giáo Văn Như Cương nên được đặt tên là Văn Nhân Văn. Có lẽ đây là cái tên cuối cùng thầy Cương đặt cho chắt của mình trước lúc đi xa mãi mãi.

Thầy Văn Như Cương có rất nhiều cháu, chắt. Ông yêu tất cả các cháu như nhau. Nhưng như người ta thường nói, con người có mệnh, có duyên hợp nhau. Có một người cháu mà ông Văn Như Cương thấy hợp. Đó là cháu gái Đặng Tiểu Tô Sa. Cô cháu gái Đặng Tiểu Tô Sa‎ cũng có nhiều kỷ niệm với ông ngoại. Trong một status đăng trên facebook của mình, cô có làm bài thơ như sau:

(6 Tháng 2, 2015 · Tu Son ·)

Trong nhà nở những bông mai

Ông tôi sống khoẻ sức dai thọ trường

Lộc cành xanh những yêu thương

Trắng mai nở đóa toả hương ngọt lành.

Cô viết thêm: “Ông ơi ông sửa cho cháu!”. Không biết thầy Cương có sửa thơ cho cháu gái hay không, nhưng với tư cách là người ông chắc thầy Cương vui lắm khi thấy cháu gái viết như vậy. Dù còn ít tuổi nhưng cô tỏ ra tinh tế khi nhìn hoa mai, nghĩ về ông. Cốt cách của người quân tử thường được so sánh với hoa mai. Cái duyên của hai ông cháu còn được thể hiện ở chỗ dù du học bên Australia nhưng Tô Sa vẫn theo dõi tình hình sức khỏe của ông hàng ngày. Và 10 giờ 30 phút tối cô về đến nhà thì 12 giờ 27 phút ông ra đi.

Nhà giáo Văn Như Cương có 7 anh chị em và luôn luôn quan tâm đến nhau, giúp đỡ nhau nhiều trong cuộc sống. Cứ có cơ hội là họ lại đến với nhau, nhiều khi chỉ cần thấy nhau là đủ. Tôi có một số lần đi với ông về Nghệ An, dù bận rộn với chương trình trong những chuyến đi với bạn bè như vậy, nhưng kiểu gì ông cũng tranh thủ thời gian đến thăm những người chị của mình. Thật cảm động khi chị em đã ở cái tuổi bảy mươi, tám mươi vẫn dành cho nhau những tình cảm, sự quan tâm sâu sắc.

Trong đại gia đình của Nhà giáo Văn Như Cương, các thành viên hay nói với nhau, gửi gắm tình cảm trong những bài thơ chân tình, mộc mạc và đầy ắp tình cảm. Đây hình như là truyền thông gia đình, kể từ người cha Văn Đức Bích. Ông Bích làm thơ khá nhiều. Thầy Văn Như Cương làm thơ rất sớm và thơ của ông khiến những nhà thơ chuyên nghiệp cũng phải vị nể. Và những bà chị gái của thầy Cương cũng làm thơ. Trong status ngày 16 Tháng 2, 2015, trên Facebook Cương Như Văn, thầy Cương viết: “Nghe tin thằng em bị trọng bệnh, hai bà chị già rất sốt ruột, muốn ra Hà Nội thăm em, nhưng mọi người không cho đi vì các bà cũng không khỏe khoắn gì. Khi nghe nói em đã khỏi bệnh ung thư, các chị không tin, sợ em mình nói dối để yên lòng người thân yêu. Hôm nay, thằng em quyết định về quê “trình diện” để chứng minh rằng đúng là mình đã khỏi bệnh.

Về nhà thật là hạnh phúc, gặp các chị, anh rể, cháu chắt, nội ngoại...Ai cũng mừng cho tôi, nhờ phúc ấm tổ tiên mà tai qua nạn khỏi. Chị tôi đọc mấy câu thơ rất cảm động:

EM TÔI

Em tôi nghị lực vững bền,

Vượt qua trọng bệnh, vượt lên chính mình.

Trọn cuộc đời vì học sinh,

Lương Thế Vinh mãi lưu hình dáng em

                                   Chị gái: Văn Hiền Lương.

Khi nhận được những lời động viên như vậy từ chị gái, không ai không cảm động. Thầy Văn Như Cương có tới ba người chị gái là Văn Thị Nương, Văn Thị Hiền Lương và Văn Thị Hường; cùng hai người em là Văn Đức Dương và Văn Xuân Hương. Tôi có vài lần đi cùng Thầy Cương về Nghệ An trong vài ngày. Kiểu gì Thầy Cương cũng xin tác đoàn để đến thăm các chị. Đã ở cái tuổi “cổ lai hy” mà vẫn được các chị quan tâm, chăm sóc là niềm hạnh phúc lớn.

Nhà có 7 anh chị em ruột, cùng với dâu, rể, cháu chắt đã biến thành một cộng đồng thân thiết mà thầy Cương là trung tâm của cộng đồng này. Ngày thầy ra đi, cả cộng đồng quây quần bên nhau tạo thành một khối vững chắc để vượt qua nỗi đau lớn mà không thể có cách gì bù đắp nổi. Nhưng là những con người tỉnh táo, họ biết chấp nhận quy luật của cuộc sống. Hơn nữa, người mà họ yêu thương, quý trọng đã làm hết những việc lớn trong cuộc đời.

Đúng hôm Nhà giáo Văn Như Cương về cõi vĩnh hằng, bên ông gần như đầy đủ người thân: Cháu ở bên Australia về, các chị từ Nghệ An ra. Ông thanh thản chìm vào giấc ngủ ngàn thu trong vòng tay người vợ, trước sự chứng kiến của tất cả người thân. Có lẽ, trời đất thánh thần, cỏ cây cũng đã chứng giám những việc thiện ông làm suốt cả cuộc đời nên ông được ban thưởng sự ra đi êm ái đó.

___________________________

Rút từ sách: Nhà giáo Văn Như Cương và những điều còn mãi