Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Lại bàn về vấn đề "làng cổ Đường Lâm"

Cuốn sách làng cổ "Làng mạc ở châu thổ sông Hồng" của tác giả Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski

Trong bài "Phải chăng không có 'làng cổ Đường Lâm'?"[1] đăng trên báo Thanh niên số ra ngày 20/7/2020, sau khi giới thiệu cuốn Làng mạc ở châu thổ sông Hồng (Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski, Nxb Tri thức, 2020) nhà báo Ngọc An đã chủ yếu tóm lượt vài ý kiến của GS Nguyễn Văn Khánh (Khoa Lịch sử Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) và GS Nguyễn Quang Ngọc (nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển), được trình bày trong buổi tọa đàm xung quanh cuốn sách nói trên vừa diễn ra tại Trung tâm văn hóa Pháp (Hà Nội). Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là, theo nhà báo Ngọc An, GS Nguyễn Quang Ngọc đã khẳng định rằng "tác giả Nguyễn Tùng đã phủ định tuyệt đối làng cổ Đường Lâm", dù trong cuốn sách tôi đã giới thiệu khá chi ly làng cổ Mông Phụ ở xã Đường Lâm. Vì nghĩ là đã có sự ngộ nhận, tôi xin mạn phép trình bày ngắn gọn cách nhìn của tôi về mấy điểm sau đây:

1. Không thể dùng từ "làng" để gọi xã Đường Lâm hiện nay

Như ta biết, xưa kia đơn vị hành chính cơ sở của nước ta thường được gọi là  xã, thôn hoặc, ít hơn rất nhiều, giáp, phường, trang, trại… Trong thời Pháp thuộc, khoảng từ đầu thế kỷ 20 trở đi, tất cả các đơn vị hành chính cơ sở đều chính thức được gọi là "xã". Thế nhưng, trong cuộc sống hằng ngày, người Việt thường dùng từ làng để chỉ xã, vì nó có thêm một chút gì thân thương, tình cảm, hay, nói như nhà dân tộc học quá cố Nguyễn Từ Chi, "cảm xúc" (émotionnel)[2]. Cũng xin nói thêm rằng từ  làng  cũng được dùng cho các thôn thuộc vào một xã khi chúng có một bản sắc riêng (chẳng hạn có đình, chùa và một số tập tục riêng như hai thôn của xã Mông Phụ thời xưa là Mông Phụ và Phụ Khang).

Sau năm 1945, chắc vì thấy rất nhiều xã thường quá nhỏ (lắm khi chỉ có mươi hộ!), chính quyền cách mạng đã lập ra (mới) gồm nhiều (cũ), tức tương đương với tổng thời xưa: chẳng hạn xã (mới) Ðường Lâm hiện nay gồm cả thảy 9 thôn và là hóa thân của tổng Cam Thịnh. Cũng như thời xưa, hiện nay mọi người đều gọi một cách thân thương chín thôn ấy là chín làng. Do đó ta không thể dùng từ làng để gọi xã (mới) Đường Lâm; nếu không, sẽ có sự lẫn lộn giữa "làng = xã (mới) = tổng thời xưa" với "làng = xã (cũ) = thôn hiện nay".

Tưởng cũng nên nói thêm rằng, do việc chính quyền cách mạng lập ra mới, khi gặp từ , lắm khi ta không biết đó là (cũ) trước 1945 (thành phần của tổng) hay là hiện nay (tương đương với tổng gồm nhiều thôn hay làng)! Để tránh lẫn lộn, phải chăng nên gọi xã mới là tổng như trước Cách mạng Tháng Tám?

2. Xã Đường Lâm hiện nay không phải là một «làng cổ»

Trước hết là vì, như vừa trình bày trên đây, ta không thể dùng từ làng để gọi xã (mới) Đường Lâm.

Lý do thứ hai: Trong số chín thôn thuộc xã Đường Lâm hiện nay có năm thôn thực sự là những làng cổ (trên 500 năm, có nhiều kiến trúc xưa…): Cam Thịnh, Cam Lâm, Ðoài Giáp, Ðông Sàng và nhất là Mông Phụ. Bốn thôn kia thì đều tương đối mới: vào nửa đầu thế kỷ 19, Phụ Khang là một xóm biệt lập của Mông Phụ; vốn là xóm cũ của Ðông Sàng và Cam Thịnh, hai làng Hà Tân và Hưng Thịnh được biến thành thôn cách đây khoảng ba, bốn mươi năm; còn Văn Miếu thì mới tách ra từ Mông Phụ cách đây chưa đến mươi năm.

Phải chăng để dùng từ «làng» cho thực chính xác, ta nên dùng các cụm từ như «quần thể làng cổ Đường Lâm», «(các) làng cổ ở Đường Lâm»…?

3. Về tên Đường Lâm

Hiện nay dường như hầu hết các sử gia ở Việt Nam đều theo quan điểm của một số sử gia thuộc triều Nguyễn - như Nguyễn Văn Siêu (1795-1872) trong Đại Việt địa dư toàn biên -  cho rằng địa danh Đường Lâm, quê hương của hai vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng và Ngô Quyền là tên của làng Cam Lâm (甘霖 = mưa dầm dịu) hiện nay (vốn có tên là Cam Tuyền (甘泉tức suối ngọt) được đổi tên vào năm Thiệu Trị thứ hai (1842) vì “tuyền” (泉) là một trong ba chữ húy thời Thiệu Trị[3]), chứ không phải là tên huyện như đã được ghi trong nhiều sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc.

Trong bài "Về quê hương Ngô Quyền" (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 101, 8/1967, tr. 60-62), Trần Quốc Vượng đã dựa vào tấm bia đề ngày 18 tháng 2 năm thứ ba niên hiệu Quang Thái đời Trần Thuận-tông (1390)[4] để khẳng định rằng làng Cam Lâm (hiện nay chỉ có khoảng 120 hộ) chính là (châu) Đường Lâm mà nhiều sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc đã ghi.Thế mà, dựa vào các thay đổi địa danh cũng như vào việc không tôn trọng vài chữ húy đời Trần, Vũ Duy Mền đã chứng minh một cách nghiêm túc rằng bia nói trên không thể được lập vào năm 1390[5]. Cũng như Đào Duy Anh[6], Trần Trọng Dương và Nguyễn Tô Lan cho rằng bia Phụng tự bi nói trên đây được «ngụy tạo» (làm giả) vào quãng 1802 đến 1821. Hai tác giả đã đưa ra các luận cứ mới sau đây:

  • Chữ khắc trên văn bia đều là lối chữ chân nhỏ nhắn, quy củ của triều Nguyễn, khác hẳn với thư pháp đời Trần như của Trương Hán Siêu.
  • Nét khắc của bia rất sắc nét, chứng tỏ văn bản mới chỉ được khắc trong vòng 200 năm trở lại đây.
  • Về mỹ thuật, bia có cùng một phong cách với nhiều bia đời Nguyễn: không có trang trí diềm, trán gần như để trơn, hoa văn chỉ có mặt nhật nét mảnh và tia lửa yếu ớt.
  • Về quy mô, bia này rất khiêm tốn: chiều cao 54cm, rộng ngang 35 cm.
  • Về trật tự chữ, chữ viết trên ngạch bia đều ngang từ trái sang phải, trong khi ngạch bia đời Trần thường là sắp chữ dọc[7].

Cũng xin nói thêm rằng tổng Cam Giá Hạ (-> tổng Cam Giá Thịnh -> tổng Cam Thịnh  -> xã Đường Lâm), cùng với tổng Cam Giá Thượng (-> tổng Cam Thượng  -> xã Cam Thượng) láng giềng, chắc là hai hóa thân của giáp Cam Giá vào đời Lý: thật vậy, theo Đại Việt sử ký toàn thư  (I: tr. 247), năm 1117 “người giáp Cam Giá dâng hươu đen” cho vua Lý Nhân Tông (xã Đường Lâm thuộc vùng “bán sơn địa”, khá gần núi Ba Vì). Như ta biết, từ Hán - Việt cam giá 甘蔗 có nghĩa là “cây mía” xưa kia vốn được trồng rất nhiều ở vùng này, nên “mía” thành tên nôm của nó trong nhiều thành ngữ như “phố Mía” (tức phố Tân Hội nay không còn nữa), “chùa Mía” (tức chùa Sùng Nghiêm ở Đông Sàng), “chợ Mía” (chợ Đông Sàng), “gà Mía”, “bà chúa Mía”…

Tóm lại, ít ra là từ thế kỷ XII cho mãi đến ngày 21/11/1964 (khi xã Phùng Hưng được chính thức đổi thành xã Đường Lâm), tất cả các làng thuộc xã Đường Lâm hiện nay (kể cả làng Cam Lâm) dường như chưa bao giờ có tên được tạo với hai từ tố đường 唐 và lâm 林, thế mà học giả Hoàng Xuân Hãn đã phát hiện (Lý Thường Kiệt, 1950: tr. 437) quy luật sau đây: khi đổi tên, các làng hầu như luôn  giữ lại một từ tố của tên làng gốc như Cam Lâm đã giữ từ tố «cam» của Cam Tuyền!  

Để tìm hiểu sâu thêm về xã Đường Lâm, người đọc có thể tham khảo thêm trên mạng hai bài viết sau đây:

  • "Đường Lâm là Đường Lâm nào?" của Trần Ngọc Vương, Nguyễn Tô Lan, Trần Trọng Dương[8].
  • "Vài tâm đắc về làng xã Việt Nam" của Nguyễn Tùng[9].

 


[2] Le village traditionnel au Vietnam,Hà Nội, Nxb. Thế Giới, 1993

[3] Xem Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Hà Nội, Nxb. Văn hóa, 1997, tr. 141-142.

[4] Bia này hiện đặt  trong  đền thờ Phùng Hưng ở Cam Lâm.

[5] Xem http://www.hannom.org.vn/detail.asp?param=552&Catid=337).

[6] Đào Duy Anh, Đất nước Việt-nam qua các đời, Nxb. KHXH, H., 1964, tr. 84.

 

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 30 Tháng 7 2020 04:04