Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Nguồn gốc người Việt - người Mường [Chương 1]

Chương 1

 Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên

Các giả thuyết đã có

Trong một bài viết cho cuộc Hội thảo kỷ niệm 40 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Phùng Nguyên, nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn ( 2000: 8) thừa nhận:” Vấn đề khó khăn là cho đến nay chúng ta chưa biết được văn hóa Phùng Nguyên bắt nguồn từ văn hóa nào trước nó. Hiện nay, trong vùng phân bố của văn hóa Phùng Nguyên, chưa phát hiện được văn hóa nào sớm hơn Phùng Nguyên nhưng lại gần kề với văn hóa Phùng Nguyên. Giữa văn hóa Phùng Nguyên với các văn hóa tìm thấy trong vùng, như văn hóa Sơn Vi [1]có khoảng cách thời gian quá lớn. Vì vậy, có thể nói ta chưa có thể giải quyết được một cách rõ ràng vấn đề nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên”.

 

Thực tế, cho đến năm 2005, đã có một số giả thuyết trực tiếp hay gián tiếp nói về nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên. Ở đây, tôi sẽ điểm lại 4 giả thuyết đáng chú ý nhất của 4 nhà khảo cổ học hàng đầu Việt Nam và thế giới.

  1. Giả thuyết của Hà Văn Tấn

Trong hai bài viết vào hai năm 1975 và 1978, Hà Văn Tấn (1997:468-537) xác định người Phùng Nguyên là “cái lõi đầu tiên trong quá trình hình thành dân tộc Việt (Việt Mường)” và cho rằng cách đây khoảng 4000 năm, một số bộ lạc nói tiếng Tiền Việt-Mường từ phía Tây Nghệ-Tĩnh hay Tây Trường Sơn đã di chuyển lên phía Bắc, qua Hà Sơn Bình hoặc vòng qua vùng Tây Bắc xuống định cư ở vùng trung du Bắc Bộ. Tại đó, họ hòa hợp với một số bộ lạc Tày cổ ở quanh vịnh Hà Nội và tiếp thu văn hóa của các bộ lạc vùng ven biển nói tiếng Nam Đảo cổ để tạo ra văn hóa Phùng Nguyên. Khi biển lùi, các bộ lạc Phùng Nguyên đã lan tỏa ra khắp vùng đồng bằng Bắc Bộ. 

Các bằng chứng cho giả thuyết trên gồm:

  • Bằng chứng  khảo cổ:

Tư liệu khảo cổ học cho thấy: kiểu hoa văn gốm chấm rải khắc vạch đặc trưng cho văn hóa Phùng Nguyên không hề có ở khu vực phía Bắc văn hóa Phùng Nguyên, kể cả vùng Hoa Nam mà chỉ có ở khu vực phía Nam: vùng hang động miền núi Thanh- Nghệ -Tĩnh, Quảng Bình cũng như ở Cămpuchia, Philippines và các đảo châu Đại Dương.

  • Bằng chứng ngôn ngữ:

Trong khi đó, tư liệu ngôn ngữ học xác định: người nói tiếng Tiền Việt-Mường xưa phân bố  rộng ở khu 4 cũ và một phần vùng Tây Trường Sơn nên có thể họ là chủ nhân của những di chỉ  hậu kỳ Đá Mới có đồ gốm mang hoa văn gần gũi với hoa văn gốm Phùng Nguyên. Khi ra Bắc tiếp xúc với các bộ lạc Tày cổ, ảnh hưởng của tiếng Tày cổ đã làm cho tiếng nói của họ chuyển thành tiếng Việt-Mường chung, sau dần tách ra thành tiếng Việt và tiếng Mường.

  • Bằng chứng văn hóa dân gian:

Ngọc phả Đền Hùng và một số thần tích ở Vĩnh Phú, Hà Tây đều viết: Kinh Dương Vương lấy vợ cả và dựng đô đầu tiên ở Châu Hoan (Nghệ An), sinh Lạc Long Quân ở Hồng Lĩnh, sau ra Bắc lấy hai chị em con một tù trưởng ở Thanh Hóa, tiếp đó lại lấy một người con gái họ Ma ở Tuyên Quang. Lạc Long Quân sau thay cha nắm quyền ở phía Bắc, lấy bà Âu Cơ ở Hà Tây, dựng kinh đô nước Văn Lang ở Việt Trì. Một số truyền thuyết cũng nói đến cuộc tuần du của Hùng Vương từ miền Bắc vào miền Trung.

Từ đó có thể suy đoán: cuộc tuần du của Kinh Dương Vương từ Trung ra Bắc phản ánh cuộc thiên di của tổ tiên người Phùng Nguyên; việc Kinh Dương Vương lấy vợ họ Ma ở Tuyên Quang phản ánh sự hòa hợp của các bộ lạc nói tiếng Tiền Việt-Mường với các bộ lạc nói tiếng Tày cổ; cuộc tuần du của Hùng Vương từ miền Bắc vào miền Trung phản ánh sự lan tỏa của văn hóa Đông Sơn từ lưu vực sông Hồng tới vùng sông Mã, sông Cả.

Nhận xét

Giả thuyết của Hà Văn Tấn là giả thuyết đầu tiên và là giả thuyết  tiêu biểu cho xu hướng muốn tìm nguồn gốc bản địa cho văn hóa Phùng Nguyên, một xu hướng  cho đến nay ở Việt Nam vẫn là xu hướng chính thống và chủ đạo (Phụ lục  1A).  

Một giả thuyết như thế đương nhiên được mong đợi, nhưng ngay từ khi ra đời, nó đã không nhận được sự ủng hộ cần có.

Vì thế, tác giả của nó, đến năm 2000, như đã nêu trên, một mặt thừa nhận “vấn đề nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên chưa được giải quyết”, mặt khác, chỉ nhắc đến nó như một giả thuyết đã từng có và của ai đó.

Vì sao vậy? Bởi các bằng chứng của giả thuyết trên là yếu ớt, mong manh và đã nhanh chóng nhạt nhòa phôi pha dưới ánh sáng của những tư liệu mới.

  • Về  bằng chứng khảo cổ học

Các nghiên cứu sau năm 1978 đã chỉ rõ: luận cứ coi hoa văn khắc vạch-chấm dải đặc trưng cho văn hóa Phùng Nguyên không có ở vùng Hoa Nam là khiên cưỡng.

Năm 1986, học giả Nhật Nitta Ejji thông báo: đồ gốm ở di chỉ Đại Đôn Tử,Vân Nam cũng có kiểu hoa văn trên và gợi ý văn hóa Phùng Nguyên có thể có nguồn gốc Vân Nam.Hà Văn Tấn (2000:9) lập tức bác bỏ, cho rằng kiểu hoa văn trên gốm Đại Đôn Tử có niên đại muộn nên không thể là nguồn gốc của hoa văn Phùng Nguyên, thậm chí, đã chịu ảnh hưởng của hoa văn Phùng Nguyên. Ông bắt đầu thừa nhận dạng hoa văn gốm Phùng Nguyên đó “có ở Hoa Nam”, nhưng vẫn vớt vát rằng nó “rất hiếm”!

                                                                                                  

Hình 1: Hoa văn khắc vạch- chấm dải: Xiankezhou; Phục Quốc Đôn; Phùng Nguyên

Nguồn: Rispoli 2007; Lapteff 2006; Hán Văn Khẩn 2009

Tuy nhiên, nhà nữ khảo cổ học Ý Rispoli (2008: 235,292) trong một nghiên cứu công phu về hoa văn gốm ở Nam Trung Quốc-ĐNA đã chỉ rõ: các dạng hoa văn tương tự với hoa văn khắc vạch-chấm dải Phùng Nguyên, dù được tạo ra bằng nhiều dạng công cụ khác nhau như vỏ sò, con lăn, que hình răng nhưng về cơ bản đều có hai đường khắc vạch, bên trong in văn thừng, văn chải, văn chấm dải.  Bà gọi đó là “ hoa văn gốm in-khắc” [2]và chứng minh nó đã xuất hiện sớm nhất ở văn hóa Đại Khê, vùng Hồ Động Đình khoảng 6000-5000 TCN, lan tỏa đến vùng ven biển Quảng Đông –Phúc Kiến vào khoảng 4000 TCN, tới vùng lục địa ĐNA khoảng 2000 TCN với bằng chứng ;àmột mảnh gốm ở di chỉ Xiankezhou, Quảng Đông ( 4000-3000 TCN) và một mảnh gốm Phục Quốc Đôn, Phúc Kiến (3000-2000 TCN).[3]

Trình Năng Chung (2009:207) cho biết thêm:  hoa văn khắc vạch-chấm dải kiểu Phùng Nguyên cũng có trên đồ gốm ở ba di chỉ Thạch Hiệp, Thâm Loan, Đại Hoàng Sa ở Quảng Đông, tất cả có niên đại trong khoảng 2900-2200 TCN.

Như vậy, thực tế, dạng hoa văn khắc vạch –chấm dải trên gốm Phùng Nguyên cũng có ở Nam Trung Quốc và có niên đại sớm hơn  nhiều hoa văn Phùng Nguyên.                                                    

  • Về bằng chứng ngôn ngữ học

Có thể nói, bằng chứng ngôn ngữ học là bằng chứng quan trọng nhất trong giả thuyết của Hà Văn Tấn bởi nó đã dựa trên quan điểm của nhiều chuyên gia ngôn ngữ học trong và ngoài nướccoi quê hương của tiếng Tiền Việt-Mường là vùng Trung Lào- Trung Việt Nam, và từ đó tiếng Tiền Việt-Mường cùng với người Việt-Mường đã đi ra phía Bắc.

Tuy nhiên, đi vào chi tiết, chúng ta sẽ thấy có những khác biệt lớn giữa giả thuyết của Hà Văn Tấn với giả thuyết của các nhà ngôn ngữ họcvề thời gian đi ra phía Bắc của tiếng Tiền Việt-Mường. Các nhà ngôn ngữ học, người đoán đó là cuối thế kỷ 11 TCN, người lại định vào khoảng giữa thế kỷ 2- 9 SCN, tức đều muộn hơn nhiều so với thời văn hóa Phùng Nguyên được xác định là thế kỷ 20-15 TCN. Trong khi đó cũng có những quan điểm khác tỏ ra hợp lý hơn về quê hương của tiếng Việt-Mường trong mối liên hệ cội nguồn với tiếng Nam Á(Phụ lục 1 C).

  • Về bằng chứng văn hóa dân gian

Thường những điều ghi trong các ngọc phả hay thần tích có ý nghĩa rất lớn đối với tâm thức của cư dân địa phương, nhưng có ý nghĩa hạn hẹp cho khoa học lịch sử.

Được biết, ngọc phả Đền Hùng viết về sự tích Vua Hùng được soạn vào thế kỷ 15, thời Hậu Lê. Về dạng thư tịch đó, Trần Quốc Vượng (2006) nhận xét:“…Mọi bản tộc phả, gia phả, thần phả mà ta biết được hôm nay đều viết ở thời Lê và Lê - Trịnh - quê gốc Thanh - đều viết từ vua Hùng, Thánh Tản đến tổ tiên các dòng họ người Bắc đều gốc từ Thanh, Nghệ.  Nên “giải mã” những hiện tượng lịch sử hoá đó bằng cái bối cảnh triều Lê, rồi Lê - Trịnh và trào lưu di cư từ Thanh, Nghệ ra Bắc, sự “ưu tiên” “Tam phủ” Thanh Nghệ nó ảnh hưởng đến tâm thức các “ông đồ Nghệ” và các sĩ phu Nho học khác… Các bản “phả ký’ đó đã được “viết lại” theo một mẫu hình chung, mới được “chế tạo” ra. Không nên tin cậy hoàn toàn các cứ liệu của các bản “phả ký” đó….kiểu như bản “phả ký” họ Hà được làm lại mới đây đã viết Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương… những thổ hào địa phương có công trong kháng chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII, đều có tổ tiên gốc Nghệ”.

Việc viết lại lịch sử theo thị hiếu, nhu cầu thời đại là điều bình thường, dễ hiểu. Nhưng rõ ràng, những gì nói về Kinh Dương Vương trong ngọc phả Đền Hùng lại hoàn toàn trái ngược với truyền thuyết Họ Hồng Bàng, một truyền thuyết chắc chắn có nguồn gốc xa xưa hơn và như chúng ta sẽ thấy, phù hợp hơn với tư liệu thư tịch cũng như các phát hiện mới về khảo cổ học (Chương 5).    

Xem xét kỹ, giả thuyết của Hà Văn Tấn còn có nhiều điểm bất cập khác. Nó không chứng minh được các di chỉ ở miền Trung có hoa văn gốm giống hoa văn gốm Phùng Nguyên có niên đại sớm hơn các di chỉ Phùng Nguyên, nó cũng không lí giải vì sao các bộ lạc Tiền Việt-Mường lại từ bỏ môi trường rừng núi quen thuộc và thuận lợi của mình để đi rất xa ra phía Bắc để định cư ở vùng vịnh Hà Nội, nó cũng bỏ qua việc chỉ ra các bộ lạc Tày cổ ở quanh vịnh Hà Nội là chủ nhân của các văn hóa khảo cổ nào, và họ từ đâu đến?

Không ngẫu nhiên, nhà ngôn ngữ học Phạm Đức Dương, một trong những người đứng sau giả thuyết trên, trong một công trình gần đây (2007:509), một mặt cho rằng cư dânTiền Việt-Mường là những người săn bắt hái lượm và làm nương vùng cao từ vùng Bắc Đông Dương (?) đi xuống vùng vịnh Hà Nội, mặt khác cũng cài thêm ý  “chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên có thể chính là người Tày-Thái cổ”.

Chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên là người Tày-Thái cổ, đó cũng chính là giả thuyết của Trần Quốc Vượng- một nhà khảo cổ học hàng đầu khác của Việt Nam.

  1. Giả thuyết của Trần Quốc Vượng

Trong một bài viết năm 1991, Trần Quốc Vượng (1996:79,81) viết:

” Tôi thiên về ý kiến cho rằng người Phùng Nguyên tới trung du hay hội tụ về trung du từ các thung lũng phía Bắc (Tây Bắc, Việt Bắc và xa hơn nữa bên kia biên giới Việt-Trung hiện tại) đem theo nghề nông trồng lúa nước vốn đã phát triển hàng ngàn năm trước đó ở các thung lũng và bồn địa giữa núi vùng Vân- Quí, Quảng Tây, những ngày ấy còn là những lãnh thổ phi Hoa nhưng đã có giao lưu-tiếp xúc kinh tế văn hóa với miền Hoa Hạ ở phương Bắc… Những cư dân Tày –Thái cổ vừa gần gũi Nam Á vừa gần gũi Nam Đảo mà có học giả (K. P. Benedict) gọi là Kađai hay Nam Thái (Austro-Tai) có lẽ là chủ nhân chính của văn hóa Phùng Nguyên”. 

                                               Nhận xét

Trong hai bài viết ngắn trên, Trần Quốc Vượng đã không nêu các bằng chứng  cho giả thuyết của mình. Vì thế, chúng ta đành phải lượm lặt chúng từ các bài viết nằm đây đó của ông.[4]

  • Bằng chứng nông học

Ở trên, ta đã thấy Trần Quốc Vượng nhắc đến quan điểm: cao nguyên Vân Nam -Quí Châu là quê hương của nghề nông trồng lúa nước.

Quả thực, trong những năm 1980-1990, giả thuyết được công nhận rộng rãi nhất về quê hương của cây lúa và nghề trồng lúa ở châu Á là giả thuyết của hai học giả Nhật Bản Nakagaha và Hayashi (1977) coi đó là vùng chân núi Himalaya, từ Assam Ấn Độ đến Vân Nam, nơi có tính đa dạng cao nhất về gien của cây lúa hoang dại. [5]

Tuy nhiên, sau đó, thuyết này đã phải nhường bước cho thuyết coi quê hương của cây lúa và nghề trồng lúa là vùng hồ Động Đình, hiện là thuyết có được các bằng chứng khảo cổ học, sinh học đầy đủ và vững chắc nhất (Phụ lục 1 B).

 

                            

Hình 2: Nguồn gốc và sự  lan tỏa của cây lúa dựa trên Lý thuyết về vùng tập trung gien của hai học giả Nhật ( Japonica là lúa hạt ngắn, Javanica là lúa hạt to ngang, Indica là lúa hạt dài).

Nguồn: http://www.nics.go.kr/R_Study/Rice/Eng/Introduction/Origin/origin01.htm

  • Bằng chứng khảo cổ học

 Trong cuốn “Hà giang thời tiền sử”, Nguyễn Khắc Sử và Trình Năng Chung (2000:231), dù không chủ ý [6] nhưng đãđồng ý với Trần Quốc Vượng khi cho rằng: vào thời cuối Đá Mới- đầu Đồ Đồng, một bộ phận cư dân cổ thuộc các văn hóa Hà Giang, Mai Pha (Lạng Sơn) … đã tràn xuống vùng trung du Bắc Bộ để khai khẩn vùng đất mới với điểm hội tụ là ngã ba sông Việt Trì. Tại đây, cùng với cư dân khác, họ đã tạo nên các văn hóa Tiền Đông Sơn (bao gồm văn hóa Phùng Nguyên).

Các bằng chứng được đưa ra là: chất liệu, màu sắc, hình dáng của rìu bôn tứ giác Mai Pha rất giống rìu bôn tứ giác Phùng Nguyên; đồ gốm Hà Giang có hoa văn khắc vạch chấm rải giống gốm Phùng Nguyên; bàn đập vỏ cây, vòng đá và mũi giáo đá của văn hóa Hà Giang giống bàn đập vỏ cây, vòng đá, mũi giáo Phùng Nguyên .v.v.

Trong một cuốn sách viết riêng,Trình Năng Chung (2009:231) lại đưa ra các bằng chứng về “mối quan hệ mật thiết và trực tiếp” giữa các văn hóa Hà Giang, Mai Pha với các văn hóa phía Bắc. Cụ thể:  bộ di vật Hà Giang rất gần gũi với các bộ di vật ở hang Tiểu Hà, Vân Nam và ở di chỉ Cảm Đà Nham, Quảng Tây (chủ nhân của các bộ di vật đó có thể cùng là một tộc người); đồ gốm và rìu từ giác Mai Pha cũng rất gần gũi với đồ gốm và rìu tứ giác của các văn hóa ở vùng ven biển Quảng Đông và Hồng Kông; các xẻng đá tìm thấy ở 7 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có kiểu dáng, kích thước và kỹ thuật hoàn toàn giống các xẻng đá lớn ở Quảng Tây; nơi phát hiện các xẻng đá của các văn hóa Hạ Long, Mai Pha, Hà Giang cũng là địa bàn sống chủ yếu của các nhóm Tày-Nùng cổ; các học giả Trung Quốc tin rằng các xẻng đá đó có liên quan đến nông nghiệp hoặc nghi lễ nông nghiệp và chủ nhân của chúng có thể là người Lạc Việt, tổ tiên của người Choang Quảng Tây;  hai di chỉ Đại Hoa Thạch và Đại Đôn Tử ở Vân Nam cũng có nhiều loại rìu hình thang cỡ rất nhỏ, hiếm rìu có vai, bôn có nấc và không có kỹ nghệ xương như các di chỉ Phùng Nguyên; đồ gốm Đại Đôn Tử, Cảm Đà Nham có hoa văn khắc vạch chấm rải giống gốm Phùng Nguyên…Từ đó, Trình Năng Chung nhấn mạnh tới vai trò của các dòng sông Hồng, Đà, Lô, Gâm có khởi nguồn từ Vân Nam trong việc hình thành văn hóa Phùng Nguyên.

Tuy nhiên, về các luận cứ của Nguyễn Khắc Sử-Trình Năng Chung, Hán Văn Khẩn (2005:160) đã phản biện khá xác đáng rằng: niên đại của các văn hóa Hà Giang, Mai Pha chưa được xác định rõ và khả năng văn hóa Phùng Nguyên ảnh hưởng tới các văn hóa đó đã bị bỏ qua (vô tình hay cố ý?)

Trước đó, Hà Văn Tấn (1990/1997:675) cũng khẳng định: văn hóa Hà Giang chỉ là văn hóa cùng thời và có quan hệ giao lưu với văn hóa Phùng Nguyên.

Được biết, các di chỉ ở Vân Nam và Quảng Tây có niên đại C 14 như sau: Đại Hoa Thạch: 2000-1500 TCN; Đại Đôn Tử: 1500-1300 TCN; Cảm Đà Nham (ở thời kỳ II, thời kỳ có gốm mang hoa văn giống gốm Phùng Nguyên): 1800-1500 TCN (Trình Năng Chung 2009: 193, 199, 205; Rispoli: 2007: 241).Như vậy, nhìn chung, các di chỉ đó đều chỉ có niên đại xấp xỉ với niên đại của văn hóa Phùng Nguyên.

  • Bằng chứng ngôn ngữ 

Mặc dù là một nhà khảo cổ học, nhưng Trần Quốc Vượng là người rất quan tâm đến ngôn ngữ học lịch sử. Chính ông, trong một bài viết năm 2000 đã lưu ý đến tên nôm của làng Phùng Nguyên là Kẻ Noi. Theo ông, Kẻ NoiLàng Nhỏ Nhoi, giống hệt tên một làng ở Từ Liêm, Hà Nội có tên Hán- Việt là Cổ Nhuế.  Ông cũng lưu ý cạnh Kẻ Noi có Gò Chiền, là biến âm của Chiềng-một từ Tày-Thái cổ chỉ làng của thủ lĩnh.

Về từ Kẻ, Đào Duy Anh (1964/1994: 32) đã cho rằng, đó là từ tương ứng với các từ phiên âm Hán-Việt Cổ, Quả, Ca, Câu gắn với nhiều địa danh của người Choang ở Quảng Đông, Quảng Tây.

Về từ Noi, tuy Trần Quốc Vượng không nói rõ đó là một từ Tày-Thái, nhưng nhiều người biết ở Lào và Thái Lan có nhóm Tay Noi =Thái Nhỏ đối lập với nhóm Tay Yai =Thái Lớn. 

Về từ Chiền, trong một bài viết năm 1997, dựa trên một nghiên cứu của nhà dân tộc học người Thái Hoàng Lương, ông cũng nêu một loạt địa danh gắn với các từ Dền-Chiền-Triền-Viềng-ở Hà Bắc, Hà Tây, Vĩnh Phú, Hà Nội ( thuộc địa bàn của văn hóa Phùng Nguyên) mà theo ông, đều là biến thể của một từ gốc Tày-Thái cổ chỉ nơi ở của thủ lĩnh Việt, lang cun Mường, phìa tạo Thái với một công trình phòng vệ hay một cái thành nào đó. Ông cũng cho hay ở bên bờ Tiêu Tương có thành Tiêu Viềng nằm gần di chỉ Bãi Tự, một công xưởng chế tác đá thời Phùng Nguyên.

Trong các bài viết khác, ông lí giải tên sông Đuống ở Bắc Ninh là biến âm của Luống, một từ Tày cổ có nghĩa là Lớn.  Ông cũng dẫn tư liệu của Lê Tượng cho biết: quanh Đền Hùng còn lưu giữ nhiều địa danh Tày-Thái cổ. Tấm bia thời Lê Trịnh ở Đền Hùng còn ghi Nà (Ruộng) là những ruộng tế của Đền Hùng. [7]

Cũng cần nhấn mạnh là, vào thời gian Trần Quốc Vượng đưa ra giả thuyết trên, thuyết Nam Thái của nhà ngôn ngữ học Mỹ Benedict đang trên đà thời thượng và được các nhà sử học và dân tộc học đón nhận rất nhiệt tình, thậm chí hơn cả các nhà ngôn ngữ học. Đó là vì Benedict đã chứng minh một loạt từ nông nghiệp và luyện kim của tiếng Nam Thái là gốc của các từ cùng nghĩa trong tiếng Hoa, thể hiện truyền thống nông nghiệp lâu đời của người nói tiếng Thái.

Trong khi đó, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Tài Cẩn (1995), Phạm Đức Dương (1982, 2007) cũng đồng thanh khẳng định: các ngôn ngữ Tiền Việt-Mường chỉ có các từ về nghề săn bắt, hái lượm và làm nương rẫy, không có các từ chỉ văn minh nông nghiệp lúa nước. Cư dân Tiền Việt-Mường đã áp dụng mô hình kinh tế-xã hội lúa nước của cư dân Tày-Thái trong quá trình khai phá đồng bằng sông Hồng.

Trước đó, năm 1965, nhà ngôn ngữ học hàng đầu về tiếng Thái là Gedney cũng cho rằng: vùng đồng bằng sông Hồng chính là trung tâm của người Tày-Thái cổ.

Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, vấn đề hóc búa nhất đối với tất cả những ai chủ trương người Phùng Nguyên nói tiếng Tày-Thái là phải lý giải vì sao, khi nào và bằng cách nào người Việt-Mường nói tiếng Nam Á lại trở thành chủ nhân của vùng trung du-đồng bằng sông Hồng? Có vẻ, thủa sinh thời, Trần Quốc Vượng chưa quan tâm đến vấn đề này, hoặc đã quan tâm nhưng vẫn chưa có lời giải đáp.

Giờ đây, với tư liệu đầy đủ hơn, chúng ta có thể xác định nhiều từ nông nghiệp  tưởng là từ Thái thực ra lại là từ Nam Á, hoặc là từ Nam Phương hay Nam Thái (Phụ lục 1D).Mặt khác, các địa danh Tày-Thái ở vùng văn hóa Phùng Nguyên và quanh đền Hùng liên quan tới sự xuất hiện của vua Hùng và người Lạc Việt nói tiếng Tày-Thái vào thời Đông Sơn chứ không phải thời Phùng Nguyên (Chương 7, 16). Chủ nhân văn hóa Phùng Nguyên vẫn là người nói tiếng Nam Á, và đó chính là giả thuyết của nhà khảo cổ học danh tiếng Charles Higham.

. 3.  Giả thuyết của Higham

  • Bằng chứng nông học-ngôn ngữ  học

Higham (1996 b: 114) nhất trí và đưa ra những bằng chứng khảo cổ ủng hộ quan điểm của nhà ngôn ngữ học Blust (1976, 1993) về một cội nguồn duy nhất của nghề trồng lúa ở ĐNA, tương ứng với một cội nguồn chung cho các ngữ hệ Nam Á- Nam Đảo như thuyết Nam Phương của Schmidt (1906) chỉ ra.

Theo Blust,nghề trồng lúa đã ra đời ở vùng thượng lưu sông Dương Tử.[8] Từ đó, các nhóm người trồng lúa đã đi xuôi dòng sông xuống vùng ven biển phía Đông. Một số nhóm vượt biển tới Đài Loan, khởi đầu cho sự lan tỏa của những người nói tiếng Nam Đảo. Một số nhóm nói tiếng Nam Á khác xuôi theo các dòng sông về phía Tây và phía Nam. Nhóm nói tiếng Việt cổ đi xuống vùng hạ lưu sông Hồng, các nhóm nói tiếng Môn cổ và Khmer cổ đi xuống vùng trung và hạ lưu Mekong, nhóm nói tiếng Munda cổ theo dòng Brahmaputra tới Ấn Độ.

Tiếp đó, trong cuốn sách viết chung với một nhà khảo cổ học Thái Lan (Higham- Thosarat 1998), từ những phát hiện mới về quê hương nghề trồng lúa, ông lại đưa ra một giả thuyết khác được thể hiện trên bản đồ Hình 2.

Theo giả thuyết này, quê hương của nghề trồng lúa là vùng hồ Động Đình ở Nam Dương Tử, nơi có văn hóa Bằng Đầu Sơn (6500-5800 TCN). Người Bằng Đầu Sơn nói một ngôn ngữ là tổ tiên của cả tiếng Nam Á và tiếng Thái. Họ theo các dòng sông lớn đi về phía Tây Nam, trở thành tổ tiên của các nhóm nói tiếng Munda ở Ấn Độ, Môn ở Thái Lan, Khmer ở Cămpuchia và Việt ở Bắc Việt Nam. Họ cũng lan tỏa về phía Nam, Đông Nam tới Quảng Đông và Phúc Kiến.

Trên bản đồ, Higham không cho biết hai nhánh di dân đi tới Phúc Kiến, Quảng Đông nói ngôn ngữ gì.  Nhưng trong một bài viết trước đó (1996 a), ông xác định Phúc Kiến, Quảng Đông là vùng của người nói tiếng Nam Á. Ông dẫn các bài viết của Norman và Mei Tsu Lin (1976), của Norman (1985), của Hashimoto (1972) về dấu tích tiếng Nam Á ở Nam Trung Quốc, đặc biệt trong tiếng Mân Phúc Kiến và tiếng Việt Quảng Châu.

Theo Higham, văn hóa Phùng Nguyên cũng như các văn hóa Khok Phanom Di, ở Thái Lan là văn hóa của di dân từ Nam Trung Quốc. Đó là vì dù đã bằng mọi cách, nhưng cho đến nay vẫn không ai có thể chứng minh được rằng đã có một sự chuyển đổi tại chỗ từ kinh tế săn bắt hái lượm sang nông nghiệp ở cả Việt Nam và Thái Lan. Nếu vùng hồ Động Đình là quê hương của nghề trồng lúa và của tiếng Nam Á thì đó cũng là cội nguồn xa xưa nhất của những cư dân nông nghiệp đã thiên di tới Việt Nam và Thái Lan, nơi khi đó chỉ có những nhóm săn bắn hái lượm định cư ở vùng ven biển hoặc du cư ở vùng rừng núi.

                         .

 

Hình 2: Các di chỉ nông nghiệp sớm và các hướng lan tỏa của cư dân nông nghiệp.

A: Proto Munda; B: Proto Mon; C: Proto Khmer, D: Proto Viet

Nguồn: Higham-Thosarat  1998

  • Bằng chứng khảo cổ học

Theo Higham: hoa văn gốm Phùng Nguyên giống hoa văn gốm Bản Tha Kea, Bản Kao ở Thái Lan. Đồ gốm, cách tạo hoa văn gốm và táng tục Phùng Nguyên cũng tương tự đồ gốm, cách tạo hoa văn gốm và táng tục ở hai di chỉ Bạch Dương Thôn và Đại Đôn Tử ở Vân Nam. Sự gần gũi về hoa văn gốm cho thấy mối liên hệ cội nguồn giữa các nhóm di dân xuôi dòng sông Mekong và sông Hồng.

 

   

                       

                                                                                            

Hình 3: Hoa văn gốm: Ban Tha Kea; Phùng Nguyên; Phùng Nguyên.

Nguồn: Higham-Thosarat 1998; Hán Văn Khẩn 2009

 

Di chỉ Bạch Dương Thônnằm ở vùng Nhĩ Hải, ngay sát đầu nguồn sông Hồng. Tại đây, có dấu tích nền của 11 ngôi nhà và 34 ngôi mộ. Người chết nằm đầu hướng Bắc hay Đông. Trong 10 mộ vò, có 8 mộ trẻ em, 2 mộ người lớn. Hoa văn gốm là hoa văn khắc vạch chấm dải giống hoa văn gốm Phùng Nguyên. Đặc biệt, tại các hố đất tròn đã tìm được dấu tích lúa (thóc, trấu và rơm) có niên đại tới 2500-2000 TCN.

Di chỉ Đại Đôn Tử ở phía Đông vùng Nhĩ Hải, có 15 nền nhà và 27 mộ. Người lớn được chôn nằm thẳng nhưng đầu theo nhiều hướng khác nhau. Trẻ em chôn trong mộ vò. Gốm cũng có hoa văn cùng phong cách với gốm Bạch Dương Thôn.

Higham đặt câu hỏi: phải chăng tất cả các di chỉ trên phản ánh sự lan tỏa dần của các nhóm cư dân nông nghiệp từ một vùng đất cội nguồn ven sông Dương Tử, những người nói tiếng Nam Á cổ và tạo ra những hoa văn gốm giống nhau?

 

  • Bằng chứng nhân chủng-ngôn ngữ

Higham cho biết, một số nhà khảo cổ học coi giả thuyết của ông là lý thú và sát thực, riêng Bellwood đưa ra hai bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết trên. Một là việc người Semang, dân săn bắt hái lượm ở Nam Thái Lan và Bắc Malaysia thuộc chủng Negrito dáng thấp, da đen, tóc xoăn nhưng nói tiếng Nam Á. Hai là việc người Senoi, dân làm nông, cũng nói tiếng Nam Á, nhưng lại không có những đặc điểm của chủng Negrito. Cả hai nhóm đều khác với những người Malay nói tiếng Nam Đảo thuộc chủng Nam Mongoloid.

Theo Bellwood, người Semang là con cháu của những người săn bắt hái lượm thời văn hóa Hòa Bình.[9]Người Senoi cũng thế nhưng đã lai tạo với những di dân Nam Mongoloid vốn là chủ nhân của văn hóa Đá Mới Bản Kao ở Thái Lan, những người đã mang nông nghiệp và tiếng Nam Á đến cho họ. Hai ví dụ trên cho thấy những người Negrito thuộc đại chủng Australoid chuyên săn bắn hái lượm thời văn hóa Hòa Bình đã  hòa nhập với những người Nam Mongoloid chuyên làm nông đến từ phía Bắc.

                                                  Nhận xét

Giả thuyết của Higham, phát triển từ giả thuyết của Blust, khá hấp dẫn với tính hợp lý và dễ hiểu khi gắn cội nguồn của các nền văn hóa Đá Mới ở ĐNA lục địa với sự lan tỏa của những người trồng lúa theo các dòng sông. Chúng ta sẽ xem xét cụ thể các bằng chứng của ông .

  • Bằng chứng ngôn ngữ học

Một lần nữa, chúng ta lại thấy, trong mọi giả thuyết về nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên, luận cứ ngôn ngữ học có vai trò đặc biệt quan trọng.

Không phải là nhà ngôn ngữ học, nhưng từ sự nghiên cứu của riêng mình về Họ Từ Người (Phụ lục 4 B), từ tên tự gọi chung có nghĩa Người của các tộc người thuộc các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo, Thái-Kađai, Mông-Dao… tôi tin giả thuyết về một cội nguồn chung của các ngữ hệ trên là một giả thuyết đúng hay là một quan điểm đúng.

Mối liên hệ cội nguồn giữa 3 ngôn ngữ Môn-Khmer-Việt là điều rất rõ ràng. Vì vậy, bằng chứng ngôn ngữ học trong giả thuyết của Higham là có cơ sở vững chắc.

  • Bằng chứng khảo cổ học

Khi xác định di chỉ Bạch Dương Thôn ở ngay đầu nguồn sông Hồng, có niên đại sớm hơn văn hóa Phùng Nguyên, lại có đồ gốm và táng tục tương tự đồ gốm và táng tục Phùng Nguyên, với mũi tên trên bản đồ chỉ thẳng từ đầu nguồn tới hạ nguồn sông Hồng, rõ ràng, Higham muốn chỉ ra văn hóa Phùng Nguyên có cội nguồn trực tiếp từ văn hóa Bạch Dương Thôn, Vân Nam.

Tuy nhiên,  Rispoli (2007:240,285) cho biết, mới đầu bà rất ủng hộ giả thuyết của Higham và cũng cho rằng dạng hoa văn khắc vạch-in chấm ở hai di chỉ Bạch Dương Thôn, Đại Đôn Tử là bằng chứng cho mối liên hệ cội nguồn giữa các văn hóa Đá Mới ở Vân Nam, Thái Lan và Việt Nam. Nhưng sau đó, bà thấy niên đại các di chỉ ở Vân Nam có hoa văn khắc vạch-in chấm chỉ khoảng 2200-1500 TCN, tương đương hoặc muộn hơn đa số các di chỉ ở Việt Nam và Thái Lan có niên đại 2500-1500 TCN. [10] Mặt khác, nhiều dấu hiệu cho thấy các văn hóa Đá Mới ở Vân Nam có quan hệ cội nguồn với các văn hóa Đá Mới ở Cam Túc-Thanh Hải và gắn với sự lan tỏa của các cư dân nông nghiệp nói tiếng Tạng-Miến dọc theo vùng chân núi Himalaya, trong khi đó, các văn hóa Đá Mới ở Việt Nam, Thái Lan có mối quan hệ cội nguồn với các văn hóa Đá Mới ở Phúc Kiến Quảng Đông và Quảng Tây.

Rispoli đã có lý bởi ngoài tục chôn một số người chết đầu hướng Đông, người Bạch Dương Thôn và Đại Đôn Tử lại có những táng tục không hề thấy trong văn hóa Phùng Nguyên như có khu mộ táng riêng, tục chôn người chết không đầu, tục chôn mộ vò cho trẻ em và cho cả người lớn (cải táng). Họ cũng không có tục nhổ răng như người Phùng Nguyên và người Khok Phanom Di. Nhà ở Bạch Dương Thôn và Đại Đôn Tử là dạng nhà nửa hầm, có cột và vách tre đan đắp đất. [11]  Dạng nhà đó cùng với tục chôn trẻ em trong mộ vò chính là đặc trưng của văn hóa Từ Sơn-Bùi Lý Cương ở Hà Bắc-Hà Nam của người nói tiếng Hán-Tạng (Sagart 2008:145).

Một điểm khác biệt rất quan trọng nữa là Bạch Dương Thôn đã có dấu tích lúa, trong khi các di chỉ Xóm Rền, Phùng Nguyên cho đến nay vẫn không thấy mảy may.

                                     

 

Hình 4:  Di vật Bạch Dương Thôn: Đồ gốm; Đồ đá

Nguồn: Rispoli 2007;ndcnc.ynlib.cn

Hơn nữa, đồ gốm, hoa văn gốm và đồ đá Bạch Dương Thôn có các dạng rất khác lạ với đồ gốm và đồ đá Phùng Nguyên và Khok Phanom Di (Hình 4) . Hoa văn gốm Bạch Dương Thôn in bằng miệng vỏ sò với những đường chấm thẳng dày dặc và đơn sơ, trong khi hoa văn gốm Phùng Nguyên, Khok Phanom Di tạo bằng que hay con lăn với các mô típ hình học thiên về các đường cong rất phong phú. Đồ đá Bạch Dương Thôn, đặc biệt rìu đá, phần lớn có hình tam giác, khác rìu bôn Phùng Nguyên đa số có hình tứ giác.

Như vậy, hai di chỉ Bạch Dương Thôn và Đại Đôn Tử nhiều khả năng hơn là của người nói tiếng Tạng-Miến và không có quan hệ cội nguồn với văn hóa Phùng Nguyên và Khok Phanom Di như Higham đinh ninh.

  • Bằng chứng nhân chủng- ngôn ngữ

Hai tộc người Semang và Senoi là hai minh chứng về sự tác động của  di dân nông nghiệp nói tiếng Nam Á thuộc chủng Mongoloid từ phía Bắc đến đối với các cư dân săn bắn hái lượm Negrito thuộc chủng Australoid phương Nam. Chúng ủng hộ giả thuyết của Higham về mặt nhân chủng-ngôn ngữ, nhưng chúng không chỉ ra những người Mongoloid nói tiếng Nam Á đó từ đâu đến.

Tóm lại, giả thuyết của Higham có những luận cứ ngôn ngữ học và nhân chủng-ngôn ngữ học rất có giá trị nhưng các luận cứ khảo cổ học, khi xem xét kỹ lưỡng, lại tỏ ra phiến diện và thiếu chính xác.

Trong khi đó, nghiên cứu của Rispoli, một mặt không ủng hộ giả thuyết của Higham, nhưng mặt khác lại ủng hộ mạnh mẽ chogiả thuyết của Peter Bellwood.

 

  1.  Giả thuyết của P. Bellwood

            Trong cuốn Những nhà nông đầu tiên (2005), được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Hà Nội (2010),nhà khảo cổ học Úc Peter Bellwood đã đưa ra hai bản đồ thể hiện sự lan tỏa của các văn hóa Đá Mới và các ngữ hệ  từ Trung Quốc tới ĐNA.

Tuy không nói rõ, nhưng nhìn bản đồ chúng ta thấy Bellwood cho rằng người Phùng Nguyên nói tiếng Tày-Thái, đến từ Hồng Kông và vùng đồng bằng sông Châu.

 

            

Hình 5:Các hướng lan tỏa của các văn hóa Đá Mới có niên đại 5000-3000 TCN cùng nông nghiệp sớm từ Nam Trung Quốc.

Nguồn:  Bellwood 2010         

 

                      

Hình 6: Sự lan tỏa của các ngữ hệ chính ở Đông Á và ĐNA.

Nguồn: Bellwood 2010

  • Bằng chứng khảo cổ học

Về các bằng chứng cho giả thuyết của mình, Bellwood (2010:149-151) viết:

“Trong khoảng 2500-1500 TCN, Việt Nam đã trở thành một phần của vùng ĐNA lục địa có sự phổ biến của một phức hợp Đá Mới với đặc trưng là hoa văn gốm khắc vạch xen chấm rải thường được tạo bằng một công cụ có răng hay mép vỏ sò...Chính ở giai đoạn này, chắc chắn đã xuất hiện trong văn hóa Phùng Nguyên một số dạng hiện vật tương tự với các hiện vật ở Nam Trung Quốc như rìu đá có vai, mũi lao đá mài, vòng tay và khuyên tai đá, dọi se sợi đất nung…Sự phân bố rộng của dạng hoa văn gốm đặc trưng khắc vạch xen chấm dải ở khắp vùng cực Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam và Thái Lan sau 2500 TCN cho thấy khu vực này có một hiện tượng giống với hiện tượng ở các vùng có sự lan tỏa của nông nghiệp khác: đó là tính thống nhất về phong cách văn hóa ban đầu được tiếp nối bằng tính đa dạng địa phương sau đó…Tổng kết tư liệu thời Đá Mới ở ĐNA lục địa, chúng ta có những dấu hiệu về sự lan tỏa của dạng đồ gốm với hoa văn khắc vạch-chấm dải được xác định rõ là gắn với nghề trồng lúa ở cực Nam Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan trong khoảng 2500-1500 TCN. Các lan tỏa trên diễn ra nhanh, rộng và ít có dấu hiệu về tính liên tục từ các dạng gốm bản địa thời văn hóa Hòa Bình. Một câu hỏi còn lại là: nếu vào thời đó có một cuộc thiên di của dân nông nghiệp từ Nam Trung Quốc xuống thì nó đã theo con đường nào: xuôi theo các dòng sông lớn, hay dọc theo bờ biển Việt Nam, hay cả hai ? Chỉ các nghiên cứu trong tương lai mới trả lời được câu hỏi này”.

  • Luận cứ ngôn ngữ học

Trong một bài viết khác, Bellwood (2009:2) lại nói về ngôn ngữ của người Phùng Nguyên như sau:

 …“Người nói tiếng Thái-Kađai sống ở phần lớn miền núi phía Bắc Việt Nam, còn người Việt, người Mường  nói tiếng Nam Á sống ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng rừng núi liền đó. Sự phân bố đó đã khiến Bắc Việt Nam trở thành vùng ngoại vi của quê hương tiếng Thái-Kađai bao gồm đảo Hải Nam, Quảng Tây, Quí Châu và có lẽ cả Quảng Đông (Ostapirat 2005). Tại đó, tiếng Thái-Kađai có tính đa dạng cao nhất với các nhóm Tày-Nùng-Thái ở Việt Bắc, Tây Bắc và các nhóm Bê, Lê ở đảo Hải Nam. Rõ ràng, vào thời Đá Mới, phần lớn Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam gắn với cư dân nói tiếng Tày-Thái cổ, dù tôi phải nhấn mạnh rằng, chúng ta không thể kết nối tư liệu khảo cổ học và tư liệu ngôn ngữ học một cách chính xác ở từng nơi cụ thể mà chỉ có thể đưa ra những loại hình trên diện rộng”...

Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, người Việt-Mường có lẽ đã tới vùng đồng bằng sông Hồng từ phía Nam và phía Tây (chứ không phải từ phía Bắc), nơi cư trú của tất cả các nhóm có họ hàng với họ về ngôn ngữ tạo thành ngữ hệ Nam Á phân bố về phía Tây đến tận Ấn Độ (nhóm Munda). Tiếng Việt-Mường có họ hàng với các ngôn ngữ Môn-Khmer nhưng đã trải qua một quá trình phân hóa mạnh mẽ do tiếp thu tính đơn âm và thanh điệu cùng với nhiều từ Hoa. Ngay một người không phải là nhà ngôn ngữ học cũng có thể phát hiện tiếng Việt còn gìn giữ các nguyên âm dài [12]và nhiều từ cơ bản gốc Nam Á. Vậy người nói tiếng Tiền Việt-Mường đã đến vùng đồng bằng sông Hồng và thay thế tiếng Thái-Kađai khi nào? Tôi cho rằng họ đã đến vào cuối thời Đá Mới hay đầu thời Đồng Thau, muộn nhất là vào thời Đông Sơn. Có lẽ, điều đó khiến văn hóa Đông Sơn có cả nguồn gốc Thái-Kađai và Việt-Mường…Vào đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tổ tiên của những nói tiếng Nam Á và Tày-Thái cũng đến sống ở dải đất hiện là Việt Nam. Họ từ đâu đến hay nguồn gốc đích thực của họ vẫn là một vấn đề còn gây tranh cãi. Trong cuốn sách ”Những nhà nông đầu tiên”,  tôi cho rằng họ là những di dân từ Nam Trung Quốc đến do dân số tăng nhờ việc sản xuất lương thực, đặc biệt là trồng lúa và nuôi lợn. Giả thuyết đó thiên về một sự lan tỏa của người nói tiếng Thái-Kađai tới Bắc Việt Nam từ các vùng đất láng giềng giờ được gọi là Nam Trung Quốc, nơi vào thời Đá Mới rõ ràng không phải là đất của người nói tiếng Hoa, cùng với một sự lan tỏa của người nói tiếng Môn-Khmer từ một vùng đất cội nguồn, có thể là Tây Nam Trung Quốc hoặc Tây ĐNA, xuôi theo dòng Mekong qua Thái Lan, Lào và Campuchia tới Việt Nam”.

 

Nhận xét

  • Về bằng chứng  khảo cổ học

Với bản đồ Hình 5, Bellwood đã cho ta thấy khá rõ các cội nguồn xa và gần của văn hóa Phùng Nguyên thông qua những trục lan tỏa của các văn hóa Đá Mới từ phía Bắc. Dù thế nào, trong một công trình tổng quát về lịch sử nông nghiệp Đá Mới trên phạm vi toàn thế giới, đương nhiên, ông không thể đưa ra những bằng chứng khảo cổ đầy đủ, chi tiết về cội nguồn của văn hóa Phùng Nguyên.

Như đã nêu, Rispoli (2007: 284-92), khi đưa ra một số luận cứ phản bác giả thuyết của Higham lại có những luận cứ ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết của Bellwood. Cụ thể, Rispoli đã dựng lại quá trình lan tỏa của một tập hợp các yếu tố Đá Mới bao gồm nghề trồng lúa, chăn nuôi, kỹ nghệ chế tác đồ đá mài, vỏ sò, vỏ trai, các dạng đồ gốm và hoa văn gốm, tục chôn người nằm ngửa đã lan tỏa từ vùng trung lưu Dương Tử tới Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam với 3 giai đoạn như sau:

-Giai đoạn 1 (8000-6000 TCN): văn hóa Đá Mới từ vùng hồ Động Đình –Bà Dương đi về phía Nam, dọc theo các sông Nguyên, Tương từ Hồ Nam xuống Quảng Tây. Một số yếu tố cũng đi về phía Tây tới cao nguyên Vân-Quí, về phía Đông tới Quảng Đông.

-Giai đoạn 2 (6000-4000 TCN): kỹ nghệ đá mài và nghề gốm tới Đông Quảng Đông và sau đó tới Bắc Việt Nam, nơi cư dân chủ yếu vẫn sống bằng săn bắt hái lượm.

-Giai đoạn 3 (4000-2500 TCN): các dạng văn khắc vạch, văn chải, văn in mép vỏ sò xuất hiện trên đồ gốm ở Quảng Đông vào thiên niên kỷ 4 TCN, tới Quảng Tây vào đầu thiên niên kỷ 3 TCN, rồi từ Quảng Đông qua Quảng Tây hoặc đi thẳng tới Bắc Việt Nam vào cuối thiên niên kỷ 3, đầu thiên niên kỷ 2 TCN. Cũng vào thời gian trên, các dạng hoa văn khắc vạch-chấm rải tương tự các nguyên mẫu ở vùng ven biển Quảng Đông-Phúc Kiến xuất hiện ở vùng lục địa ĐNA. Trên cơ sở đó, trong khoảng thời gian ít nhất là 600 năm, trong quá trình phát tán, các cư dân Đá Mới ở vùng lục địa ĐNA ( đặc biệt là ở Việt Nam và Thái Lan) đã phát triển và chia sẻ các dạng hoa văn gốm phong phú và độc đáo của mình. Đây cũng là thời kỳ tục chôn người nằm ngửa từ phía Bắc dần thay thế tục chôn người tư thế ngồi xổm/bó gối thời trước đó ( thời Hòa Bình).

Tóm lại, trong một nghiên cứu công bố 2 năm sau khi cuốn sách của Bellwood ra đời, Rispoli dù không chủ ý, đã cung cấp những bằng chứng khảo cổ rất cụ thể cho giả thuyết của Bellwood.

 

  • Về bằng chứng  ngôn ngữ  học

Là một nhà khảo cổ học, đương nhiên, về ngôn ngữ,Bellwood phải dựa trên quan điểm của các nhà ngôn ngữ học mà ông thấy hợp với giả thuyết của ông. Đó chính là quan điểm của Ostapirat coi tiếng Thái-Kađai ra đời ở  đảo Hải Nam-Quảng Đông-Quảng Tây vào khoảng 2000 TCN, tương ứng với niên đại của văn hóa Phùng Nguyên và quan điểm của Diffloth coi quê hương của tiếng Việt-Mường là miền Trung Lào- Việt Nam, từ phía Tây vùng ĐNA.

Tuy nhiên, một thách thức lớn cho giả thuyết của Bellwood về mặt ngôn ngữ học chính là vấn đề tiếng Tiền Việt-Mường đã đi ra phía Bắc khi nào và bằng cách nào thay thế tiếng Tày-Thái ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, một vấn đề mà các nhà ngôn ngữ học cũng đã đưa ra một vài cách trả lời, nhưng rất khác nhau và đều chưa thuyết phục (Phụ lục 1C). Bellwood đoán thời tiếng Việt-Mường tới vùng đồng bằng sông Hồng là cuối thời Đá Mới (tức cuối thời Phùng Nguyên) hay đầu thời Đồng Thau ( tức thời Đồng Đậu) và muộn nhất là vào thời Đông Sơn. Nhưng họ từ đâu đến và làm thế nào để trở thành cư dân chủ thể của vùng Bắc Việt Nam? Qua trao đổi riêng, Bellwood cũng thừa nhận ông chưa thể trả lời được câu hỏi quan trọng này.

           

 Kết luận

Trong 4 giả thuyết đã nêu, có 3 giả thuyết đoán định văn hóa Phùng Nguyên đến từ Nam Trung Quốc. Trong 3 giả thuyết, giả thuyết của Higham coi người Phùng Nguyên là người nói tiếng Nam Á đến từ Vân Nam, giả thuyết của Bellwood coi người Phùng Nguyên là người nói tiếng Tày-Thái cổ đến từ Quảng Đông, giả thuyết của Trần Quốc Vượng, về mặt khảo cổ kết nối hai giả thuyết trên, song về mặt ngôn ngữ lại tương đồng với giả thuyết của Bellwood.

Cần nhấn mạnh, dù đều rất quan tâm đến tiền sử Việt Nam, Higham và Bellwood không chuyên tâm đi tìm nguồn gốc của văn hóa Phùng Nguyên. Công việc đó, trước hết và chủ yếu là trách nhiệm của các học giả Việt Nam nghiên cứu thời tiền sử.

Theo tôi, để làm được việc đó, việc đầu tiên cần có là một nghiên cứu so sánh đầy đủ, cụ thể hơn các di vật, di tích tiêu biểu của văn hóa Phùng Nguyên với các di vật và di tích của các văn hóa Đá Mới ở hướng ưu tiên-hướng Đông Bắc theo giả thuyết của Bellwood.         

 


[1]Văn hóa Sơn Vi là văn hóa hậu kỳ Đá Cũ( trên 9000 TCN), lấy tên theo một địa điểm cũng ở Phú Thọ.

[2] Tiếng Anh: incised and impressed pottery style.

[3]Theo Bellwood (2009), dạng hoa văn “khắc vạch-chấm rải” còn có trên đồ gốm Đá Mới có niên đại 6400 TCN ở vùng Đông Nam Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ).

[4]Trong một bài về chân dung Trần Quốc Vượng, Đỗ Lai Thúy viết: Các luận điểm của Trần Quốc Vượng trong các phát ngôn tùy hứng và tản mạn vương vãi khắp nơi cần được tập hợp lại và hệ thống hóa. Trần Quốc Vượng chắc không làm được điều ấy, mà chỉ có một người nào đó, trong đám học trò của ông, hiểu thầy là làm được.

[6]Theo lời Trình Năng Chung.

[7]Đúng ra, theo Lê Tượng: 50% địa danh trên tấm bia trên có từ đầu là , và nhiều nơi quanh Đền Hùng gọi ruộng là -một từ Tày-Thái.

[8]Ở đây, Blust vẫn dựa trên giả thuyết về quê hương nghề trồng lúa ở Assam-Vân Quí thịnh hành vào những năm 1980.

[9]Văn hóa Hòa Bình-lấy tên tỉnh Hòa Bình ở Việt Nam, là văn hóa phổ biến ở Nam Trung Quốc và ĐNA của những người săn bắt hái lượm.

[10]  Lưu ý làRispoli lấy niên đại của văn hóa Phùng Nguyên theo các tư liệu cũ, các tư liệu mới chỉ xác định niên đại 2000-1500 TCN. Các nguồn tư liệu đưa niên đại của Bạch Dương Thôn rất khác nhau: Alice Yao (2010): 2470-1750 TCN. Trang mạng của Viện khảo cổ Trung Quốc: 2200-2100 TCN. Từ điển Hỗ Động: 1770±50 TCN.

[11]Từ điển Hỗ Động-mục Bạch Dương Thôn.

[12]Tiếng Việt có 13 nguyên âm, gồm 10 nguyên âm dài như i, e, a, ô, u… 

Các bài viết liên quan: