Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Nguồn gốc người Việt - người Mường [Lời giới thiệu, Lời đầu sách, Mục lục chi tiết]

LỜI GIỚI THIỆU

Khi trao tay bản thảo sách này, Tạ Đức đã hẹn và tôi thì nhận: đọc xong trong một tuần!

Nhưng một tuần, rồi gấp đôi thế, tôi vẫn chưa thể đọc xong. Bởi quá nhiều vấn đề. Lại toàn là những “chuyện tày đình” cả! Tuy nhiên, thật mừng là khá lâu rồi, bây giờ mới thấy có người đủ sức, đặc biệt là đủ gan để làm những chuyện này.

Cái gan đầu tiên, chính là việc không những chê, mà còn gỡ bỏ, điều mà tác giả gọi là”vòng kim cô” của những học thuyết một thời chính thống về sự phát triển bản địa tuyệt đối (liên quan đến các vấn đề tự lực tự cường, độc lập tự chủ…) của dân tộc; về sự coi nhẹ, thậm chí phủ nhận, các tác động và ảnh hưởng quyết định ngoại lai, đặc biệt là các cuộc và kiểu thiên di mà lại thành chủ thể ( liên quan đến sự nghiệp chống ngoại xâm, chống can thiệp từ bên ngoài…) của lịch sử.

Tôi-từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, khi đi khai quật lần thứ nhất Phùng Nguyên, tham gia phát hiện Núi Đọ, sớm tìm kiếm được thêm nhiều trống đồng…cũng ở trong số người đầu tiên đội và truyền những “vòng kim cô”như thế; đồng thời, cũng nhiều lần giật mình nhận ra sự thể là kẻ”sống sót” được từ ấy cho tới tận bây giờ.

Vì thế, mấy tuần liền đọc trước sách này, thấy tác giả nói khơi khơi về nguồn gốc phương Bắc của Phùng Nguyên, Đông Sơn; về các cuộc di cư từ đủ các miền phương Bắc để không những thành ra người Việt, người Mường, mà còn thành ra cả các đấng bậc từ Hùng Vương đến nhà Lý, nhà Trần, nhà Nguyễn…thì không khỏi đầu tiên là thấy lạ, và e-ái ngại nữa!

Nhưng rồi, qua từng trang, từng mục, đọc rất hấp dẫn, thấy tác giả, khi nói ra những điều này, là nói với cái gan dạ từ một tinh thần khoa học thực sự cầu thị tha thiết, từ một ý chí và tấm lòng kiên định, nhiệt thành vì sự phát triển –đổi mới của khoa học lịch sử; và nhất là cái hệ thống mà Tạ Đức xây dựng nên ở đây, là sản phẩm của một sức lực tìm tòi, khám phá, đặc biệt là tổng hợp, công phu, rộng lớn và có phương pháp; đồng thời, thăng (cân) bằng và rành rẽ trên nền của bước phát triển khoa học và công nghệ thông tin hiện đại.

Tôi thấy-như tác giả đã tâm sự-vấn đề chỉ còn là xem xét, coi những luận cứ và bằng chứng được trình bày ở sách này, có đủ độ xác tín, đã đủ sức thuyết phục.

Vì thế, sách này cần được đọc kỹ. Nó rất dầy, với nhiều thông tin và vấn đề, nhưng dễ đọc, thậm chí còn lôi cuốn người ta chăm chú đọc. Và rồi: nghĩ.

Hà Nội, đầu Hạ, 2013

Nhà sử học Lê Văn Lan

 .......................................................................................................................................................................

LỜI ĐẦU SÁCH

Dân ta phải biết sử ta

              Cho tường gốc ngọn nước nhà Việt Nam

Hồ Chí Minh

Muốn biết về nguồn gốc của mình vừa là một bản năng, vừa là một ý thức làm Người (cho dù không hằng xuyên, mạnh mẽ). Với câu hỏi:  Ta là ai, từ đâu tới? nhiều thế hệ người Việt Nam đã đưa ra các câu trả lời, hoặc bằng truyền thuyết dân gian, hoặc bằng sử sách.

Trong các câu trả lời đã có, tôi muốn đặc biệt nhắc đến câu trả lời cổ xưa nhất của tổ tiên chúng ta trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, tiếp đó, đến các câu trả lời   trong hai cuốn Đại Việt Sử Lược thời Trần và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thời Lê, rồi đến các câu trả lời của nhà sử học chuyên nghiệp số 1 Việt Nam thế kỷ 20 Đào Duy Anh (1904-1988) trong cuốn Lịch sử cổ đại Việt Nam (Hà Nội 1957, 2005, 2010) và của nhà sử học không chuyên số 1 Việt Nam thế kỷ 20 Bình Nguyên Lộc (1914-1987) trong cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”(Sài Gòn 1971).

Đó là vì, trong cuốn sách này, dựa trên những thành tựu của khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, sử học và di truyền học của cả Việt Nam và thế giới trong hơn 40 năm qua, tôi sẽ đưa ra những câu trả lời mới, đầy đủ và chi tiết hơn nhưng về cơ bản đồng thuận với những câu trả lời đã có trong truyền thuyết Hồng Bàng và trong các công trình nêu trên.

Về nội dung, chủ đề chính của cuốn sách là nguồn gốc của hai nền văn hóa Đá Mới Phùng Nguyên và văn hóa Đồng Thau Đông Sơn; sự hình thành của các nước Xích Quỉ, Việt Thường, Văn Lang, Âu Lạc, Nam Việt ( những nước được coi là của tổ tiên người Việt), từ đó, làm sáng tỏ các nguồn gốc khác và giống nhau của người Việt và người Mường, điều khác với quan điểm phổ biến hiện nay.

Về hình thức, cuốn sách gồm 17 Chương và 31 Phụ lục. Các Chương sẽ bàn trực tiếp về các chủ đề chính, các Phụ lục gồm những nghiên cứu độc lập về những vấn đề có liên quan chặt chẽ hoặc là cơ sở cho việc hiểu biết các chủ đề chính.Tất cả phối hợp với nhau nhằm giúp độc giả hiểu biết sâu sắc và toàn diện hơn về lịch sử người Việt và người Mường trong mối liên hệ cội nguồn với nhiều dân tộc ở Việt Nam, Đông Á và Đông Nam Á.

Là một người được đào tạo về ngành Dân tộc học tại khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1976 đến 1980, được hành nghề tại Viện Dân tộc học -Ủy ban Khoa học xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) từ 1980 đến 1989, được tu nghiệp tại nước Đức từ 1989 đến 1990, đặc biệt được độc lập tự chủ nghiên cứu tại Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á  từ 1999, tôi viết cuốn sách này như một cách làm tròn bổn phận nghề nghiệp, một cách đền đáp lại những gì đã nhận được từ Tổ tiên, Đất Nước và Cuộc Đời.

Là một học trò của Giáo sư Sử học Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tôi rất tâm đắc với lời của Thày : ”Nếu sự thật nâng chúng ta lên thì chúng ta càng phấn khởi nhưng có cái đau đớn chúng ta cũng phải chấp nhận. Chân lý phải được đặt lên cao nhất. Sự thật lịch sử phải được tôn trọng đầy đủ.[1]

Mới đây, tôi được biết, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, người từng là thày dạy sử, vị tướng làm nên lịch sử và là một nhà sử học lớn, đã nói và nhắc đi nhắc lại với GS Phan Huy Lê rằng: "Cái rất gần giữa quân sự với sử học là phải coi trọng sự thật. Sử mà không coi trọng sự thật không còn là sử, quân sự mà không coi trọng sự thật thì thất bại ngay lập tức... Phải tôn trọng sự thật, dù là sự thật cay đắng nhất cũng phải chấp nhận, từ sự thật đó mới tạo được thành công".[2]

Là một người yêu thích những bài ca đầy hào khí Tây Nguyên, hào khí Đông Sơn xưa của nhạc sĩ Nguyễn Cường, tôi cũng rất tâm đắc với một câu châm ngôn của Anh: “Đừng kêu ca hay nguyền rủa bóng tối, hãy thắp lên một ngọn lửa”.

Tôi hi vọng cuốn sách này sẽ là một ngọn lửa nhỏ góp phần làm sáng tỏ lịch sử Đất Nước, làm ấm lên tri thức lịch sử Dân tộc, làm cháy lên tình yêu đối với các ngành sử học, dân tộc học, khảo cổ học, ngôn ngữ học và khoa học xã hội  nói chung.

Lời cảm ơn

Viết cuốn sách này, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quả của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các học giả trong nước như Đào Hùng, Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Việt, Ngô Thế Phong, Trịnh Sinh,  Nguyễn Chiều, Nguyễn Lân Cường, Vũ Duy Mền, Trần Chí Dõi ; các học giả ngoài nước như Barbara Cohen, Tzehuey Chiou Pang, Lindsey Kiang, David Thomas,  Peter Bellwood, William Meacham, Charles Higham, Kashinaga Masao, Yang Yong, Jiao Tienlong, John Whitemore, những người đã mua, tặng cho tôi hay chia sẻ với tôi một số cuốn sách và tư liệu rất bổ ích.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người đã đọc bản thảo (toàn bộ hay một phần) và cho tôi những Lời giới thiệu, Nhận xét, gợi ý bổ ích và động viên quí báu: nhà sử học Chương Thâu và vợ là nhà giáo Thanh Xuân (cô giáo dạy văn lớp 3 A của tôi), nhà sử học Lê Văn Lan, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà báo Đào Hùng, bốn nhà khảo cổ học Nguyễn Việt, Ngô Thế Phong, Phạm Thị Ninh, Lâm Thị Mỹ Dung, hai đồng nghiệp (một thời) Phạm Phong Lan và Nguyễn Minh, nhà văn-nhà báo Trần Trung Chính và vợ là kiến trúc sư Nguyễn Hồng Thục cùng học trò là  kiến trúc sư trẻ Nguyễn Duy Quang (người đã vẽ tấm bản đồ cuối sách).

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là Ban lãnh đạo và các biên tập viên, kỹ thuật viên của Nhà xuất bản Tri Thức, những “bà đỡ” cho cuốn sách này.

Quả thực, tôi không thể viết xong cuốn sách này nếu không được sự cảm thông và động viên thầm lặng của vợ tôi là Đào Thị Kim Minh.

Tôi cũng không thể viết được cuốn sách này nếu không có sự trợ giúp tuyệt vời của internet (khoảng 50 % tư liệu, 80% ảnh trong cuốn sách này đã được nhận và lấy từ mạng). Xin cảm ơn các tác giả vô danh và hữu danh của các tư liệu và tấm ảnh đó.

Chỉ dẫn và gợi ý

Chữ viết tắt: trong sách này tôi chỉ dùng: TCN cho Trước Công nguyên và ĐNA cho Đông Nam Á.

Chú thích ảnh minh họa: theo thứ tự lần lượt của ảnh từ trái qua phải, cách nhau bằng dấu ;

Cách đọc:  độc giả có thể vừa đọc một Chương vừa đọc các Phụ lục liên quan, hoặc đọc hết toàn bộ phần chính rồi mới chuyển sang các phần phụ. Độc giả cũng có thể dựa vào Mục lục chi tiết hay Chỉ dẫn để tìm đọc những vấn đề mình quan tâm. Dù đọc cách nào thì tác giả cũng mong độc giả đọc chậm, đọc kỹ, đọc hết để hiểu đúng, đủ, rõ nội dung từng phần cũng như của toàn bộ cuốn sách.
.................................................

[1]Phan Huy Lê, báo Nhân Dân 14-3-2008

[2]GS Phan Huy Lê lý giải hiện tượng Võ Nguyên Giáp. Vietnamnet.vn/9-10-2013

.......................................................................................................................................................................

MỤC LỤC CHI TIẾT

Các Chương chính

1.Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên-những giả thuyết đã có       

Giả thuyết của Hà Văn Tấn. Giả thuyết của Trần Quốc Vượng. Giả thuyết của Charles Higham. Giả thuyết của Peter Bellwood.

2.Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên-từ một nghiên cứu so sánh

Bôn tứ giác và rìu bôn có vai. Bôn tứ giác cỡ nhỏ và lối sống săn bắt hái lượm. Bôn đá ngọc. Bàn đập vải vỏ cây. Dọi se sợi. Sự vắng mặt của đỉnh. Chạc gốm. Thố-bát bồng-bình- nồi-bát. Ấm hình chim. Đất trắng miết mặt gốm. Gốm đen miết láng. Hoa văn in khắc chữ S. Nha chương. Phù hiệu đá. Trang sức hình dấu phẩy và hình rìu Việt. Khuyên tai 4 mấu-Đĩa Bích-Vòng có mặt cắt chữ T-Dùi, đục-Vòng tay hình ống có gờ nổi-Qua-Tục làm mộ có bậc-Tục để đầu người chết hướng Đông/Đông Nam-Tục chôn người chết ngay tại nơi cư trú-Tục nhổ răng.                   

3.Nguồn gốc người Phùng Nguyên-một giả thuyết mới 

Nhân chủng người Phùng Nguyên và người Khok Phanom Di- Ngôn ngữ người Phùng Nguyên và người Khok Phanom Di Chương- Tên tự gọi của người Phùng Nguyên và người Khok Phanom Di-Người Đản-Tổ tiên người Phùng Nguyên và người Khok Phanom Di  là người

Đản cổ-Vì sao họ đến Việt Nam?-Họ đến như thế nào?

4.Nguồn gốc và sự phát triển của tên gọi Việt                                                                                                        

Hình khắc trên thạp Đại Văn Khẩu –Hình vẽ trên thạp Diêm Thôn-Liên hệ cội nguồn Diêm Thôn- Lương Chử - Nguồn gốc hai chữ Lạc Việt-Nguồn gốc 4 dạng chữ Lạc và chữ Hồng-Chữ Việt trong văn giáp cốt Thương-Chữ Việt trong kim văn Thương-Chữ Việt trên kiếm đồng vua Việt-Các dạng chữ Việt trong thư tịch-Sự biến đổi về âm của từ Việt-Sự biến đổi về nghĩa của từ Việt

5.Nước Xích Quỉ                                                                                                    

Nước Xích Quỉ trong truyền thuyết và sử sách Việt Nam-Các nước Quỉ trong văn giáp cốt Thương-Nước Việt có kinh đô ở Bàn Long Thành, Hồ Bắc -Nước Việt có kinh đô ở Ngô Thành, Giang Tây-Nước Việt có kinh đô ở Ninh Hương, Hồ Nam-Các nước Việt ở Bắc Dương Tử-Bản chất của nước Xích Quỉ-Tên gọi Xích Quỉ-Tên gọi thực của nước Xích Quỉ.

6.Nước Việt Thường                                                                                              

Nước Việt Thường trong sử sách xưa và nay-Nước Việt Chương ở Giang Tây –Nước Việt Thường ở Hồ Nam-Sự bành trướng của Sở-Sự phát tán của người Việt Thường

7.Nước Văn Lang                                                                                                   

Nước Văn Lang trong truyền thuyết và sử sách-Nguồn gốc người La-Lịch sử nước La-Liên hệ cội nguồn La-Văn Lang-Sự ra đời của nước Văn Lang-Tên gọi Văn Lang-Nước Việt thời Thương ở Lão Ngưu Pha-Nguồn gốc người Việt ở Lão Ngưu Pha-Quan hệ  cội nguồn Việt Lão Ngưu Pha và Lạc Việt Diêm Thôn-Nước Việt thời Thương=Nước La thời Chu-Liên hệ cội nguồn La-Ư Việt.

8.Nước Âu Lạc                                                                                                        

Vấn đề nguồn gốc Thục Phán –Nguyên mẫu thành Cổ Loa –Nguồn gốc hoàng tộc Khai Minh của Thục Phán –Từ gốc của tên gọi Cổ Loa ? Liên hệ Khả Lạc-Cổ Loa –Tên gọi An Dương Vương và Âu Lạc

9.Nước Nam Việt

Nước Nam Việt ra đời thế nào? Triệu Đà là ai?

10. Nguồn gốc văn hóa Đông Sơn -những giả thuyết đã có                                  

Giả thuyết của Anrousseau-Giả thuyết của Goloubew-Giả thuyết của Heine-Geldern-Giả thuyết của Madrolle- -Giả thuyết của Karlgren-Giả thuyết của Đào Duy Anh –Giả thuyết của P. Maspero-Giả thuyết của Bình Nguyên Lộc-Giả thuyết của Hán Văn Phùng.

11.  Liên hệ cội nguồn Đông Sơn –Hồ Nam-Quảng Tây

Trống đồng –Chiêng đồng-Rìu hình hia-Hoa văn săn hươu-Chuông sừng dê-Ký hiệu trên qua đồng-Tranh vẽ trên vách đá -   Dao găm cán hình người                                     

12. Liên hệ cội nguồn Đông Sơn-Ư Việt                                                                   

Trống đồng –Thạp đồng- Qua đồng- Mô típ người-chim-Mô típ  cò trắng-chim Lạc-Nhà hình chim-Thuyền biển-Thuyền đồng-Thuyền chim và thuyền rồng-Nhà sàn hình thuyền-Nhà sàn mái hồi tròn-Mộ thuyền-Mộ gò-Tiếng Ư Việt=Tiếng Lạc Việt=Tiếng Nam Á-Tên tộc người-tên nước: Ư Việt=Lạc Việt- Lạc Câu Tiễn=Lạc vương-Đông Âu và Tây Âu- Wu=Vua- Câu=Cổ=Kẻ-  Đại Việt- Biểu tượng bông lau-  Qui Sơn- Kim Qui-Nhất Dạ Trạch---Kiếm Long Tuyền-Hồ Hoàn Kiếm-Hồ Tây-Kim Ngưu.

13.  Liên hệ cội nguồn Đông Sơn –Thục-Dạ Lang                                                     

Dao găm cán hình người- Kiếm Đông Sơn kiểu Dạ Lang gốc Ba-Thục-Vòng khảm ngọc- Nồi quai tròn có tượng chim- Nồi hình trống- Tấm đồng với mô típ ếch-Khóa thắt lưng với mô típ ba ba---Tục che mặt úp đầu người chết---Tượng hổ---Mô típ sừng trâu---Mô típ cây vũ trụ----Mô típ mặt trời –chim Lạc---Tục tết tóc đuôi sam----Tục quấn tóc-đóng khăn----Tục búi tóc–đội mũ hình chùy hay hình nón---Họ Cao---Vàng vó----Người Dạ Lang ở Nam Cửu Chân---Qua đồng và tượng tê tê đồng Long Giao---Các yếu tố Thục trong văn hóa Mường

 14.  Liên hệ cội nguồn Đông Sơn –Điền

Tục búi tóc sau gáy----Tục búi tóc đỉnh đầu----Tục tết tóc đuôi sam----Mũ Bàn Hồ---Hội thề trống đồng ----Vai trò của phụ nữ----Đèn hình người----Lưỡi cuốc hình tim---Qua cán ngắn---Tục thờ vật tổ khỉ----Di dân Điền ở Việt Nam.

15. Liên hệ cội nguồn Đông Sơn –Nam Việt

Thạp Đông Sơn---Đỉnh Việt----Qua có hình người-dê---Ấn Triệu Văn Đế----Các di vật ở mộ Việt Khê và Kiệt Thượng-----Di dân Nam Việt.

16. Nguồn gốc người Đông Sơnmột giả thuyết mới

Cuộc di tản của người La-Lạc Việt ---- Cuộc di tản của người Ư Việt-Lạc Việt---- Cuộc di tản của người Thục----- Cuộc di tản của người Nam Việt, Điền, Dạ Lang.

17. Nguồn gốc người Mường           Giả thuyết của Cusinier--- Giả thuyết của Bình Nguyên Lộc---- Giả thuyết của Nguyễn Lương Bích---- Giả thuyết của K. Taylor---Một giả thuyết mới---

Các Phụ  lục

1 A: Thiên di-Bản địa   

Thuyết truyền bá –thiên di---Thuyết bản địa---Sự cố truyền thông với Marc Oxenham---Nguồn gốc của Thần Nông----Thuyết Rời Châu Phi---Quan hệ biện chứng di dân-dân bản địa---Quan hệ biện chứng truyền bá-tiếp thu-đổi mới-sáng tạo---Mặc cảm nguồn gốc phương Bắc-1B: Huyền thoại Bản Chiềng 

Huyền thoại----Sự thật----                                              

1 C: Quê hương của tiếng Việt-Mường                                                                

Giả thuyết của Nguyễn Tài Cẩn---Giả thuyết của Ferlus----Giả thuyết của Chamberlain

1D: Từ Thái-Kađai hay từ Nam Á?  

Các từ: gạo, cày, cuốc, ngan, tre, bánh, sông, noi, chiềng.                                                                         

1 Đ: Thanh-Nghệ-trung tâm hội tụ và phát tán Việt-Mường                                  

Các địa danh gốc Mân-Mon ở Thanh Hóa---Con đường biển Phúc Kiến-Quảng Đông- Cửu Chân----Các nhóm Việt-Mường gốc Lê ở Thanh-Nghệ---

 2A: Văn hóa Đá Mới vùng trung lưu Dương Tử                                                        

Văn hóa Đại Khê---Văn hóa Khuất Gia Lĩnh ----Văn hóa Thạch Gia Hà---Người Đại Khê, Khuất Gia Lĩnh, Thạch Gia Hà là ai?

2B: Văn hóa Đá Mới vùng hạ lưu Dương Tử                                                           

Văn hóa Hà Mẫu Độ ----Người Hà Mẫu Độ là ai?-----Văn hóa Lương Chử ---Người Lương Chử là ai?----Văn hóa Lương Chử vì sao biến mất?---Người Lương Chử đi đâu?

2C: Văn hóa Đá Mới vùng hạ lưu Hoàng Hà                                                             

Văn hóa Đại Văn Khẩu ---Người Đại Văn Khẩu là ai?----Văn hóa Long Sơn-----

2D: Nguồn gốc Bánh Chưng-Bánh Dày                                                                    

Nguồn gốc hai từ Chưng-Dày trong tiếng Việt----Hai từ Tông-Bích trong tiếng Hoa----Nguồn gốc bánh chưng-bánh dày---

 3A:  Tiếng Nam Á ở Trung Quốc xưa                                                                        

Nghiên cứu của Norman-Mei-----Nghiên cứu của Pulleyblank----Nghiên cứu của Schuessler---Nghiên cứu của Mcraw

 3B: Di dân Phúc Kiến-Quảng Đông thời lịch sử                                                        

Di dân Phúc Kiến-Quảng Đông ở Việt Nam----Di dân Phúc Kiến-Quảng Đông ở Đài Loan và ĐNA---Phúc Kiến-Quảng Đông hai trung tâm di dân

 3C: Nguồn gốc 9 vị vua-chúa trong lịch sử Việt Nam                                              

Nguồn gốc Mai Hắc Đế----Nguồn gốc Phùng Hưng-----Nguồn gốc Đinh Bộ Lĩnh—Nguồn gốc Lý Công Uẩn-----Nguồn gốc nhà Trần------Nguồn gốc Lê Lợi-----Nguồn gốc Nguyễn Kim-----Nguồn gốc Trịnh Kiểm------Nguồn gốc Mạc Đăng Dung

4A: Rìu Việt - Nha Chương                                                                                                             

Rìu Việt----Nha Chương

 4B: Họ Từ Người                                                                                                       

Từ chỉ người trở thành tên tự gọi tộc người ---Từ chỉ người thành từ chỉ  nhà, làng, đất, nước…----Tên tộc người thành tên nước------Tên  tộc người thành tên sông----Tên tộc người thành tên dòng họ-----

 4C: Quan hệ cội nguồn Lava-Lạc Việt                                                                                                      

Bằng chứng ngôn ngữ ----Bằng chứng khảo cổ -----Bằng chứng dân tộc học-sử học

 4D: Nguồn gốc người Chăm                                                                                      

Các giả thuyết đã có-----Một giả thuyết mới-----

5A: Nguồn gốc nghề đúc đồng ở Trung Quốc                                                   

Văn hóa Mã Gia Diêu-văn hóa Đồng Thau sớm nhất Trung Quốc--- Người Tam Miêu-một chủ nhân chính của văn hóa Mã Gia Diêu.

 5B: Văn hóa Bách Việt ở vùng Nam Dương Tử thời Thương                                                

Đồ sành- sứ nguyên thủy----Lò rồng-khuôn gốm----Đỉnh hổ-đỉnh chim ---Nông cụ đồng ----Chữ Ngô Thành----Mộ gò Tân Can----Não bạt Ninh Hương-----Đỉnh vuông 4 mặt người và rìu Việt ---Các bình rượu hình động vật----trống đồng Sùng Dương

 5C: Trống đồng nước Xích Quỉ                                                                                   

Trống đồng nước Xích Quỉ -các mô típ và biểu tượng---Sự ra đời của trống đồng ở nước Xích Quỉ ----Trống đồng Bách Việt  thời Chu----Trống đồng nước Xích Quỉ và trống đồng Đông Sơn. 

5D: Thánh Gióng-Thần Trống đồng nước Xích Quỉ                                                    

Truyền thuyết Thánh Gióng-những cách lý giải đã có---Tên gọi Gióng-những cách lý giải đã có---Thánh Gióng-một phân tích biểu tượng ----Từ nguyên của Gióng----Truyền thuyết Thánh Gióng-một cách lý giải mới.

5Đ: Văn hóa Tam Tinh Đôi                                                                                          

Các di vật đặc sắc Tam Tinh Đôi ----Người Tam Tinh Đôi là ai?

 6A: Hai nước Ngô-Việt                                                                                           

Lịch sử nước Ngô----Lịch sử nước Việt------Văn hóa Ngô-Việt-một số thành tựu tiêu biểu----

 6B: Nước Sở

Vua Sở-----Tiếng Sở-----Người Sở---Văn hóa Sở-----Vua Hán-hồn Sở-----Đạo Mẫu Sở và đạo Mẫu Việt.

 6C: Nước Điền

Nguồn gốc vua Điền-nước Điền----Khác biệt Điền-Đông Sơn ----Vai trò của người Scyth---

6D: Nước Dạ Lang

Người Dạ Lang -----Nước Dạ Lang----Đất Dạ Lang---Văn hóa Dạ Lang------

7A: Họ Mị-Họ Hùng

 7B: Hồ Động Đình trong tâm thức Việt

`8: Liên hệ cội nguồn Lô Lô-Lạc Việt

Tên gọi Lô Lô và lịch sử người Lô Lô ---Văn hóa trống đồng của người Lô Lô ---Tục thờ vật tổ hổ của người Lô Lô

11: Dân tị nạn Tống thời Trần

Người Tống đã mất nước thế nào?  ----Dân Tống di tản gồm những ai?-----

16 A: Di dân Lạc Việt ở vùng lục địa Đông Nam Á

Di dân Lạc Việt ở Lào------Di dân Lạc Việt ởThái Lan ----Các tộc ít người gốc Lạc Việt khác----

 16B: Di dân Lạc Việt ở vùng hải đảo Đông Nam Á

Người Dayak ở Borneo----Người Toraja ở Sulavesi-------Người Java ở Java

Lời cuối sách

Nhận xét 1

Nhận xét 2

Nhận xét 3

Chỉ dẫn

Sách tham khảo

Các bài viết liên quan: