Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Trong giai đoạn văn học dân gian từ cuối thế kỉ XIX đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong thành phần chủ thể sáng tạo ở người Việt, nông dân vẫn đông nhất, số nhà nho giảm dần, công nhân là lực lượng mới. Về thể loại, truyền thuyết, truyện cổ tích giảm dần, tục ngữ, ca dao, dân ca, vè là những thể loại chính. Bên cạnh các đề tài thế sự/ đời thường, còn có các đề tài tố cáo tội ác, kêu gọi đấu tranh chống Pháp, Nhật và tay sai. Trong mối quan hệ với văn học viết, văn học dân gian vẫn cho nhiều hơn nhận. Người Pháp có cả việc làm tích cực và tiêu cực đối với folklore ngôn từ các dân tộc thiểu số.

 

Với hai hiệp ước kí năm 1883, 1884, thực dân Pháp đặt ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam. Cai quản Việt Nam từ lúc này   trở đi đến đêm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 là chính quyền thực dân nửa phong kiến (xét về hình thức), chính quyền thực dân chuyên chế (xét về thực chất). Thực dân Pháp xâm chiếm thuộc địa nhằm tiêu thụ hàng hóa của chính quốc, tận dụng nguồn tài nguyên phong phú và nhân công rẻ mạt ở thuộc địa. Tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với nhân dân Việt Nam không bao giờ làm cho người Việt Nam yêu nước ngộ nhận về lòng tốt, về sự “khai hóa” văn minh của chúng. Mặt khác, chúng ta cũng thừa nhận một thực tế là khi nước Pháp bước vào con đường đế quốc chủ nghĩa cũng là lúc nhân dân Pháp đã đạt được nhiều kì tích lớn lao về mặt văn minh và văn hóa. Bởi thế, trong chế độ thuộc địa luôn tồn tại hai mặt song song: một mặt là các nhân tố thực dân, và một mặt là các nhân tố tiến bộ của văn hóa Pháp, của nhân loại nói chung. Những tác động tích cực dù nhiều dù ít của các yếu tố đó đối với xã hội Việt Nam đều là những hệ quả tất yếu và khách quan nằm ngoài ý đồ chính của những kẻ thực dân(1). Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa, xét ở từng trường hợp cụ thể, có dân tộc đem cho và có dân tộc tiếp nhận. Trong hai dân tộc này, dân tộc tiếp nhận có vai trò quan trọng, vì người ta chỉ có thể tiếp thu cái của người trên cơ sở cái vốn có của mình(2). Đến mùa thu tháng Tám năm 1945, những người con ưu tú của dân tộc như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…, những người tiếp thu văn hóa Pháp đến một độ sâu cần thiết, đã lãnh đạo thành công cuộc tổng khởi nghĩa, giành lại độc lập dân tộc.

Trong giai đoạn 1884 - 1945, văn học dân gian Việt Nam là nền folklore ngôn từ đa dân tộc.

 

1. Văn học dân gian người Việt

1.1. Văn học dân gian với những đề tài thế sự

Văn học dân gian người Việt trong giai đoạn 1884 - 1945 nhìn chung ở nông thôn không khác trước nhiều lắm. Điều khác dễ nhận ra là những truyện cổ tích mới, truyền thuyết mới rất ít được sáng tác(3). Các cuộc hát dân ca vẫn theo các lề lối cũ, chẳng hạn trong hát đối đáp nam nữ vẫn có những chặng hát mở đầu, vào cuộc, thử tài, giã biệt. Những bài vè thế sự (có người gọi là vè kể chuyện làng) như một thứ khẩu báo vẫn tiếp tục được sáng tác để ghi lại tức thì, để chế giễu những thói hư tật xấu: lười biếng, trộm cắp, quan hệ nam nữ không chính đáng. Bên cạnh mảng vè thế sự, những tác phẩm vè lịch sử (mà có người gọi là vè kể chuyện nước) xuất hiện khá nhiều.

Nếu một trong những chức năng của văn học là phản ánh hiện thực thì văn học dân gian giai đoạn này cũng làm được điều đó. Câu tục ngữ “Oai oái như phủ Khoái xin cơm” “gợi nhớ lại những năm đói kém có một không hai của nhân dân Khoái Châu (Hưng Yên) do đê Văn Giang vỡ liền trong mười tám năm, đồng ruộng phì nhiêu gần như biến hết thành bãi đất hoang, nhiều làng phải kéo nhau từng đoàn đi ăn mày. Câu “Lụt tràn Quý Tỵ” ghi lại một kỉ niệm khó quên của nhân dân ta về trận lụt khủng khiếp năm 1893 (năm Quý Tỵ)...”(4).

Câu “Bảo Đại làm hại ăn mày” nói về đồng tiền Bảo Đại. Bảo Đại làm vua từ năm 1926 đến tháng 8 năm 1945 và là ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định đều có đúc tiền. Bảo Đại cũng được thực dân Pháp cho đúc đồng tiền với bốn chữ “Bảo Đại thông bảo”. Đồng tiền vừa nhỏ vừa mỏng cho nên trên thị trường nó là đơn vị tiền nhỏ nhất. Một đồng tiền Khải Định (Khải Định là niên hiệu của Nguyễn Hoằng Tôn, cha của Bảo Đại) có khi ăn hai đồng, có khi ăn ba đồng Bảo Đại (thường là ba đồng). Vì vậy khi người hành khất được cho một đồng Bảo Đại thì họ không vui bằng được cho một đồng Khải Định. Về giá trị của tiền Khải Định và tiền Bảo Đại còn có những lời ca dao sau phản ánh:

Hai con đổi lấy một cha

Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền.

+  Thóc hơn không có người đong

Bán buôn một bố giá đồng ba con(5).

Làng Tam Lễ nay thuộc xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, xưa kia do đất rắn nên rất khó đào giếng. Mãi đến năm Giáp Tý (1924), dân làng mới đào thêm được một giếng nữa. Một bài vè xứ Nghệ đã ra đời nói về sự việc đó:

(...)

Phen này là một

Công đã nên công

Giếng này đào xong

Ta làm vui một bữa

Một mai ra nữa

Trời đại hạn lâu ngày

Giếng Gia Cộc cạn đi

Giếng Mật Ong cạn đi

Giếng ta hãy còn đầy

Ai đến uống giếng này

Ta giả ơn ngày trước(6).

Năm Canh Thìn (1940), làng Nguyễn Xá, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh làm chùa. Bài vè “Làm chùa Nguyễn Xá” cho ta rõ “quan niệm làm chùa, quá trình làm chùa và tâm lí người dân đối với việc làm chùa”:

Trên quan viên hào lão

Dưới chức sắc binh dân

Thần ai cũng chung thần

Phật ai cũng chung Phật

(...)

Tu đâu bằng tu đó

Cúng đâu bằng cúng đây

Bạc ló (lúa) chứa kho đầy

Thiếu thời dân vọng trạng(7).

 

1.2. Văn học dân gian với những đề tài tố cáo tội ác, kêu gọi đấu tranh chống Pháp, Nhật và tay sai

Trong những bài hát đối đáp, người ta không quên nhắc đến nỗi nhục của những người hàng Tây:

Trèo lên Truông Bụt múa cờ

Tưởng chàng làm nên danh phận

                         ai ngờ thú Tây(8).

Đây là lời dì Tương (một nữ nghệ nhân hát Giặm nổi tiếng) mỉa mai nghệ nhân Sĩ Đường. Sĩ Đường là một nghệ nhân có tài hát Giặm sống vào cuối thế kỉ XIX. Ông còn nổi tiếng bởi tài cổ động Cần Vương trong thời kì ông tự nguyện làm một nghĩa quân Hương Sơn dưới ngọn cờ của Phan Đình Phùng. Rất tiếc là tiếng thơm này ông không giữ được lâu bền. Lúc phong trào Cần Vương thất bại, ông đã đầu thú. Như vậy, khi nhân dân Nghệ Tĩnh thuộc lòng câu hát trên và còn truyền lại cho con cháu nghe thì danh tiếng của nghệ nhân Sĩ Đường không còn vẻ vang nữa.

Trong nhiều lời ca dao được sáng tác và lưu truyền trong xã hội truyền thống, con cò là một hình ảnh quen thuộc. Đến khi Pháp sang, nó cũng trở thành một nạn nhân:

Con cò mà đậu cành tre

Thằng Tây bắn súng cò què một chân

Hôm sau ra chợ Đồng Xuân

Chú khách mới hỏi: Sao chân cò què?

Cò rằng: Cò đứng bụi tre

Thằng Tây bắn súng cò què một chân...(9)

Trong chợ Đồng Xuân, hình ảnh viên cảnh sát thời Pháp (phú lít) cũng đã có mặt. Trong bài vè “Chợ Đồng Xuân”, tác giả dân gian liệt kê rất nhiều quầy hàng, cho biết có rất nhiều kẻ mua người bán, trong đó có chú khách bán bánh bò, có ông thầy xem tướng tay, có anh bán thuốc dạo, có cả viên cảnh sát:

Lại còn kẻ cắp như rươi

Hở cơ chốc lát, tiền ôi mất rồi.

Giậm chân xuống đất kêu trời

Phú lít có đến cũng thôi đi đời(10).

Câu hát đố trong bài ca giao duyên xưa kia, vui nhộn là thế:

-  Hỡi chàng học sách Kinh Thi

Hai ngang, hai phết chữ chi rứa chàng?

-  Hai ngang hai phết chữ thiên

Cho anh chấm chút cho liền chữ phu(11).

Mà nay cũng lây sầu, lây thảm:

-  Hai ngang ba phết kết lại chữ chi

Chàng mà đối được thiếp thì theo không.

- Hai ngang ba phết kết lại chữ thất

Thất là mất: mất nước, mất nhà

Dân sầu, dân thảm tự  Tây qua lại giờ(12).

Đây là câu hò Huế chất chứa buồn đau, căm giận:

Ngó xuống sông Hương, nước xanh

như tàu lá

Ngó về Đập Đá, phố xá nghênh ngang

Từ ngày Tây lại, sứ sang

Cầu Trường Tiền đổi bến, chợ Đình Ngang

thay đình(13).

Các nhà nho đã sáng tác những bài vè dài mà sau này chúng ta gọi là vè lịch sử hoặc vè kể chuyện nước: “Vè thất thủ kinh đô”, “Vè thất thủ Thuận An”, “Ba thôn Nộn Liễu, hưởng ứng Cần Vương”, “Vè Ba Đình chống Pháp”, “Bài ca chuyện đền Ngọc Sơn năm Bính Ngọ (1906)”, “Vè Đông Kinh nghĩa thục”, “Bài ca vụ Hà thành đầu độc”... Ở những tác phẩm này, có sự kết hợp giữa lòng căm thù giặc và sự phê phán thái độ đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn. Do không giành được thắng lợi cuối cùng, các cuộc bạo động, các cuộc đấu tranh đều bị đàn áp và thất bại, ở những tác phẩm này không có âm hưởng anh hùng, ở một số bài còn có nỗi buồn bi phẫn. Dù sao, những sáng tác của các nhà nho cũng góp phần hun đúc tinh thần yêu nước, đã trở thành “một hiện tượng có nhiều ý nghĩa đến nỗi chính người Pháp cũng không thể làm ngơ mà không nhắc đến”(14). Trong cuốn sách Những bài hát và những truyền thống dân gian của người An Nam của Đuymuchiê, học giả này đã viết về dân ta với một thái độ hỗn xược: “Đám bình dân An Nam, bọn bồi bếp của chúng ta (tức bọn thực dân Pháp - N.X.K), bọn culi, bất luận lúc nào, ngoài đường phố và ngay cả trước mặt chúng ta, khi chúng tin chắc là chúng ta không hiểu được (tiếng Việt - N.X.K), thường hay hát thành tiếng hoặc lẩm bẩm những khúc hát trong đó người Pháp bị bêu riếu hay ít nhất cũng trở thành lố bịch... Song bên cạnh thứ văn chương thô lỗ (!) đó, chúng tôi đã chú ý đến một số tác phẩm khác có giá trị hơn, đó là những bài thơ thực sự, trong đó đúng là người Pháp không còn được kiêng nể gì nữa cả. Nhưng những bài thơ đó khơi gợi lên trong người An Nam một tình cảm yêu nước mà chúng ta không thể làm ngơ, vì tình cảm yêu nước đó đã bị bọn nhà nho lợi dụng để chống lại chúng ta... Những bài thơ đó là tác phẩm của bọn nhà nho, kẻ thù của chúng ta...”(15).

Đúng là thực dân Pháp làm sao có thể “làm ngơ” trước những lời ca dao sau:

+ Từ ngày có mặt thằng Tây

Phu phen tạp dịch hàng ngày

khốn thân.

+  Ai đi Uông Bí, Vàng Danh

Má hồng để lại, má xanh mang về.

+  Đừng tham đồng bạc con cò

Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang sa.

+  Bán thân đổi mấy đồng xu

Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng.

Phủ Quỳ thuộc tỉnh Nghệ An, có đồn điền Tây Hiếu và Đông Hiếu. Nhiều người đi phu phải bỏ xác ở đây vì thiếu ăn, thiếu mặc và làm việc quá vất vả:

Phủ Quỳ đi có về không

Mồ xanh vợ để tang chồng là đây.

Thể loại tục ngữ được mệnh danh là “túi khôn dân gian”. Câu tục ngữ sau chỉ ra bốn tên công sứ Pháp nổi tiếng gian ác là Ecbert, Darles, Dalamarre, Bride: “Nhất Ếch, nhì Da, tam La, tứ Bích”(16).

Các bài vè ghi lại việc thực dân Pháp bắt dân ta đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng ở chiến trường châu Âu, phơi bày những địa ngục trần gian ở các nhà tù, kể lại việc giặc Pháp đốt hai thôn Phú, Thọ. Đây là hai thôn thuộc tổng Phù Long, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Vì một tên lính tập tai quái bị nhân dân giết mà chúng kéo về đốt sạch, cướp sạch và giết hại không ít người:

Giời ơi có xiết

Tình cảnh hai thôn

Như chết chưa chôn

Làm sao cho sống nữa(17).

Năm 1941, phát xít Nhật đưa quân vào Đông Dương. Chúng “muốn nhân cơ hội Pháp bại trận đoạt lấy một bộ phận thuộc địa thuộc loại giàu có nhất của Pháp, chiếm những nguồn của cải, nguyên liệu dồi dào để cung cấp cho chiến tranh, dùng Đông Dương làm căn cứ quân sự, tiến công miền Nam Trung Quốc, và làm bàn đạp để mở rộng xâm lược ra khắp vùng Đông Nam Á”(18). Biết thân phận mình, đế quốc Pháp cam chịu làm đầy tớ cho Nhật trên bán đảo Đông Dương. Người dân Việt Nam lâm vào cảnh “một cổ hai tròng”. Phát xít Nhật lừa phỉnh, mị dân, ra sức tạo nên một phong trào thân Nhật, phục Nhật, sợ Nhật. Một số người xu thời đua nhau học tiếng Nhật. Trong một bài vè Nghệ Tĩnh, tác giả dân gian đã chế giễu những người xu thời đó:

Tiếng Tây em biết nói

Tiếng Nhật đã tòm tèm

Ngoài mặc ai pha gièm

Bác nói chi không sợ

Chú nói gì chẳng sợ(19).

Phát xít Nhật cũng tàn ác không kém thực dân Pháp. Chúng chiếm đất đai, bắt dân ta phá bỏ đồng lúa để trồng đay, dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945:

Chém cha lũ Nhật côn đồ

Bắt người cướp của, tha hồ thẳng tay

Dân ta trăm đắng ngàn cay,

Thóc ăn chẳng có trồng đay cho người.

Không chỉ tố cáo tội ác của quân xâm lược, nhân dân ta còn lưu truyền những bài vè kêu gọi, động viên, khuyên nhủ, tuyên truyền cách mạng: “Bài ca phục quốc”, “Vè con dao”, “Xin đúc một chữ đồng”, “Vùng dậy thanh niên”, “Cổ động học sinh, thanh niên”, “Cổ động công nhân”, “Theo gương Nga Xô cùng nổi dậy”, “Vè đánh Tây đuổi Nhật”...(20)

Khi cao trào cách mạng tại tỉnh Quảng Ngãi lên mạnh, thực dân Pháp và bọn quan lại Nam triều ra sức khủng bố, đàn áp nhân dân. Tuần phủ Quảng Ngãi Nguyễn Bá Trác còn đặt ra một bài vè đầy tư tưởng chống cộng. Dựa vào nguyên văn bài của chúng, cơ quan Tỉnh ủy Quảng Ngãi sáng tác một bài vè chống lại. Bài vè này có tính chất quần chúng được nhiều tác giả sửa chữa, góp thêm vào. Tuần phủ Quảng Ngãi biết việc này, lập tức rút ngay bài vè do hắn đặt ra và cấm hát cả hai bài.

 

1.3. Văn học dân gian công nhân

Trong giai đoạn này, có một lực lượng mới tham gia sáng tác và lưu truyền văn học dân gian, tạo thành văn học dân gian công nhân.Lúc đầu, có khi chưa tìm ra một hình thức mới để diễn tả một nội dung mới, giai cấp công nhân đã sử dụng ngay những sáng tác văn học dân gian sẵn có trong kho tàng văn học dân gian nông thôn và sửa chữa đôi chút cho phù hợp với điều cần diễn đạt(21). Chẳng hạn, đây là lời ca dao có sẵn của nông dân:

Thương chàng nấu cháo le le

Nấu canh hoa lí, nấu chè hạt sen(22).

Còn đây là ca dao công nhân:

Thương chồng nấu cháo đường xe,

Nấu canh lắc lít nấu chè bù loong(23).

“Về cái mới trong nội dung văn học dân gian công nhân, có thể nói đến sự giảm sút đi rõ rệt một số đề tài phổ biến trong văn học dân gian nông dân như đề tài thiên nhiên, đề tài tình yêu nam nữ, đề tài sinh hoạt gia đình... Trong văn học dân gian công nhân ta thấy nổi bật lên hình ảnh những con người sống một cuộc sống cay cực, tối tăm, đầy bất trắc. Đề tài lao động trong văn học dân gian công nhân không thấy có trường hợp nào được lí tưởng hóa như trong văn học dân gian nông dân”(24).

 

1.4. Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết

Trên cơ sở cốt truyện dân gian được ghi lại trong sách Lĩnh Nam chích quái,nhà văn Nguyễn Trọng Thuật (1883 - 1940) sáng tác tiểu thuyết Quả dưa đỏ (1925) với những hư cấu mạnh dạn. Nếu trong truyện dân gian, Mai An Tiêm chỉ là một người ngày càng kiêu căng ngạo mạn thì trong tiểu thuyết này, chàng là nạn nhân của sự vu oan giá họa của bọn gian thần. Ca ngợi sự cần cù lao động, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, thử thách, Quả dưa đỏ phản ánh truyền thống tốt đẹp của dân tộc(25).

Các nhà thơ như Tản Đà (1889 - 1939), Trần Tuấn Khải (1895 - 1983) hiểu rõ các tiêu chí về nghệ thuật của một tác phẩm ca dao khi sáng tác những bài phong dao, phong thi. Ở những bài này, họ không đặt tên bài, sáng tác theo thể lục bát và độ dài từ bốn dòng đến sáu dòng thơ. Thí dụ, đây là một bài của Tản Đà:

Đêm qua mất cắp như chơi

Có chỗ mất vợ, có nơi mất chồng

Ông tơ luống những thẹn thùng

Còn toan chắp mối tơ hồng xe ai?(26)

Đây là một bài của Trần Tuấn Khải:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầu sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao?(27)

Nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị sáng tác hàng chục bài từng được coi như thuộc kho tàng ca dao xứ Huế. Đây là một bài:

Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược

Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang

Thuyền em xuống bến Thuận An

Thuyền anh lại trẩy lên ngàn, anh ôi!(28)

Với những vần thơ duyên dáng như ca dao, Nguyễn Bính (1918 - 1966) được mệnh danh là “thi sĩ của đồng quê” (Hà Minh Đức). Bàng Bá Lân (1912 - 1988) có hai dòng thơ mà đến giai đoạn sau bị/ được nhận lầm là ca dao:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

 

2. Văn học dân gian các dân tộc thiểu số trongnhận thức và dưới sự tác động của người Pháp

Các tác giả người Pháp quan tâm đến văn học dân gian Việt Nam nói chung, văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói riêng là cha cố, giám mục, võ quan, quan cai trị, học giả... Nhìn chung, thái độ của họ là kì thị. Khi nghiên cứu phong tục tập quán các dân tộc ở Đắc Lắc, Metơrơ (Maitre) khẳng định: “Người Mơ Nông và người Bih không hề biết hát”(29). Becna (Bernard) cũng có nhận xét tương tự về người Ê Đê: “Vốn dân ca của người Rađê không có gì”(30). Thực tế dân ca của các cộng đồng này đã bác bỏ những nhận xét trên.

So với các nhà nho Việt Nam, các tác giả người Pháp đã viết nhiều hơn và rất bài bản về văn hóa vật chất và tinh thần Việt Nam, trong đó, số công trình viết về văn học dân gian, văn hóa dân gian chiếm một tỉ lệ lớn. Có những lĩnh vực nhà nho không quan tâm sưu tầm, nghiên cứu như sử thi, luật tục thì người Pháp đã chú ý. Đề cập đến vấn đề này, không thể không nhắc đến Lêôpôn Sabachiê (Léopold Sabatier).

L. Sabachiê sinh năm 1877; đã ở Kon Tum ba năm trước khi được cử làm đại biện (délégue) ở Đắc Lắc năm 1913. Lúc này Đắc Lắc là một huyện tự trị của tỉnh mới Kon Tum. Năm 1923, khi Đắc Lắc được nâng lên thành một tỉnh, L. Sabachiê làm công sứ (tỉnh trưởng). Sabachiê là một người trong giới thực dân; song ông ta có quan điểm khác. Trong khi đại đa số quan chức thực dân miệt thị người Kinh (Việt) và các dân tộc thiểu số thì Sabachiê đã phát hiện ra nền văn hóa đa dạng và giàu có của người Ê Đê ở Đắc Lắc. Sabachiê theo quan điểm khai minh của các nhà quân sự và một số quan chức trong bộ máy hành chính thực dân. Theo quan điểm này, Tây Nguyên nói chung và Đắc Lắc nói riêng cần được phát triển thành một vùng thân thiện với người Pháp, người Pháp sẽ bảo vệ dân cư bản địa, tôn trọng văn hóa của họ và giúp họ phát triển từ từ. Người Tây Nguyên sẽ dần dần bỏ tập tục luân canh bằng cách làm quen dần với việc sở hữu một số đất đai hạn chế. Đối lập với quan điểm khai minh là quan điểm phát triển kinh tế tư bản ở Tây Nguyên. Theo quan điểm này, thực dân hóa kinh tế Tây Nguyên sẽ có lợi hơn cả đối với người dân Tây Nguyên khi Pháp lập các đồn điền cao su, người thiểu số sẽ bỏ lối sống luân canh lạc hậu và có hại, bắt đầu làm việc trong các đồn điền(31).

Sabachiê cố gắng giữ không cho những người buôn bán người Việt, người Hoa và cả những cố đạo và thương gia người Pháp vào Đắc Lắc nhằm bảo vệ cái “tâm tính nguyên thủy” (từ dùng của nhà dân tộc học Lucien Levy - Bruhl). Tự đặt mình ngang hàng với tổ tiên người Ê Đê, tự cho mình là người hiểu biết về lịch sử người Ê Đê và người Mơ Nông, có sứ mệnh bảo vệ văn hóa của họ, Sabachiê đã làm việc rất nhiều với người Ê Đê ở Đắc Lắc. Theo nhận xét của nhà văn Rôlăng Đoócgiơlét (Roland Dorgelès), người đã đến Buôn Ma Thuột vào năm 1923, Sabachiê coi người Ê Đê như những đứa trẻ lớn mà ông, với tư cách là người cha nghiêm khắc, sẽ phải nuôi dậy bằng sự chỉ bảo và cả sự trách mắng(32).

Sabachiê gặp phải nhiều sự chỉ trích và chống đối từ phía nhiều người Pháp. Họ tố cáo rằng ông lạm quyền, rằng ông chống lại chủ trương lập đồn điền ở Đắc Lắc, rằng ông đã phá đường để ngăn cản họ vào Đắc Lắc. Những người Ê Đê thân cận với ông cũng than phiền về số lượng dân công quá nhiều mà ông đòi hỏi để thực hiện các dự án, về việc trường học đã thu hút hết số trẻ con của họ, về thói quen ăn nằm với các thiếu nữ Ê Đê, về phong cách gia trưởng của ông. Trong tình trạng căng thẳng và mệt mỏi, năm 1926, Sabachiê buộc phải viết đơn xin từ chức. Ông lập tức rời khỏi Tây Nguyên cùng con gái, kết quả của hai dòng máu Pháp và Gia Rai. Và từ đó, Sabachiê bị cấm trở lại Đắc Lắc(33). Khoảng năm 1976, con gái Sabachiê có về Buôn Đôn tìm mẹ đẻ nhưng cô không gặp người nào biết hoặc nếu có biết cũng không nói cho. Lúc đó tình hình Tây Nguyên phức tạp, mọi người ngại tiếp xúc với người nước ngoài. Năm 2003, Phan Đăng Nhật về huyện Buôn Đôn, được bà con cho biết mộ của người vợ Sabachiê vẫn còn ở địa phương(34).

Từ năm 1913, Sabachiê đã biết đến luật tục Ê Đê. Ông tiến hành ghi chép các lời nói vần này, dịch và sắp xếp lại theo mô hình các bản hương ước của người Việt. Công việc này hoàn thành vào năm 1919. Theo Phan Đăng Nhật, công trình này được in ở Hà Nội lần đầu năm 1927(35). Nhưng chính quyền thực dân đã mua tất cả. “Bằng quyết định tịch thu không chính thức này, các bản in đã không được lưu hành và do vậy không gây hại gì cho các lợi ích thực dân đang thịnh hành vào năm 1927 (trước khi Sabachiê được chính thức phục hồi vào những năm 30)”(36).

Sau khi Sabachiê qua đời (1936), cuốn sách về luật tục của ông được xuất bản (1940). Trong sách này, có sự pha trộn phần theo đúng truyền thống của người Ê Đê với phần sửa đổi, đặt thêm theo ý đồ chính trị của tác giả. Sabachiê đã cùng các cộng sự sửa lại luật tục cho phù hợp với yêu cầu quản lí hành chính và vệ sinh; còn ngôn ngữ thì giữ tính cổ xưa của nó. Theo Giắc Đuốcnơ (Jacques Dournes) “nhà nhân học chân trần”(37), luật tục do Sabachiê biên soạn “đã tước đi của phụ nữ trong một chế độ Ê Đê mẫu hệ rất nhiều quyền lợi bằng việc đã lờ đi vai trò của họ trong các nghi lễ và các hoạt động xã hội khác”(38). Năm 1972, Đinh Gia Khánh chỉ rõ Sabachiê đã đặt thêm mục “Tiếp người lạ và tù nhân vượt ngục” như sau: “Kẻ nào cho người lạ ở trong nhà, kẻ nào giấu tù nhân vượt ngục là phạm tội. Kẻ nào đem thức ăn cho tù nhân vượt ngục lẩn trốn trong rừng, ngoài ruộng thì kẻ ấy có tội”(39).

Dù sao thì Sabachiê vẫn là người mở đầu cho việc thu thập, biên soạn và ứng dụng luật tục vào trong đời sống. Tiếp nối Sabachiê, từ năm 1951 đến năm 1963, nhiều luật tục của các dân tộc thiểu số khác được các tác giả nước ngoài thu thập và công bố(40).

Về sử thi, tác phẩm Đăm Xăn được Sabachiê sưu tầm, chú thích, dịch từ tiếng Ê Đê ra tiếng Pháp. Năm 1927 bản dịch này được xuất bản ở Pari. Năm 1933, bản dịch này có in kèm tiếng Ê Đê được công bố ở Hà Nội. Theo Phan Đăng Nhật, đây là một công trình công phu, kĩ lưỡng ít thấy(41). Về hạn chế, Sabachiê tự ý bỏ đi một số trận đánh mà ông cho là trùng lặp. Sabachiê đưa Đăm Xăn vào trường tiểu học, yêu cầu học sinh hằng ngày đọc thuộc một đoạn. Không những vậy, ông còn soạn tác phẩm này thành kịch và tổ chức biểu diễn, ông đóng vai Đăm Xăn, còn cô gái Gia Rai tên là Sao Nhuôn đóng vai Hơ Nhí(42).

Qua các công trình của người Pháp, người Việt tiếp thu được tư tưởng và phương pháp làm việc khoa học(43). Tất cả những ghi chép, sưu tầm, nghiên cứu của họ về văn hóa, văn nghệ dân gian là những tư liệu cần thiết, quý hiếm đối với việc tìm hiểu lịch sử văn học dân gian, văn hóa dân gian. Thực tế văn hóa Việt Nam và lương tri của người cầm bút đã giúp cho không ít trường hợp họ đánh giá đúng văn hóa, văn học dân gian nước ta. Việc làm của các tác giả người Pháp, cụ thể là qua trường hợp của Sabachiê, có cả tác động tích cực và tiêu cực đối với văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung, đối với sử thi và luật tục nói riêng.

 

Kết luận

Trong giai đoạn Pháp thuộc, chống Pháp thuộc và tiếp thu văn hóa phương Tây, trong thành phần chủ thể sáng tạo, nông dân vẫn đông nhất; số nhà nho giảm dần; số trí thức tân học ngày càng đông đảo; công nhân là lực lượng sáng tác mới. Về thể loại, truyền thuyết, truyện cổ tích giảm dần, tục ngữ, ca dao - dân ca, vè là những thể loại chính. Trong mối quan hệ với văn học viết, văn học dân gian vẫn cho nhiều hơn nhận. Người Pháp có cả việc làm tích cực và tiêu cực đối với folklore ngôn từ các dân tộc thiểu số. Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Can Mộng có công truyền bá văn học dân gian tái sinh(44).

 

 

(1). Vũ Huy Phúc (1996), Tiểu thủ công nghiệp Việt Nam 1858 - 1945, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.242-243.

(2). Xem thêm: Nguyễn Xuân Kính (2013), Con người, môi trường và văn hóa, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.54-56. 

(3). Các tác giả người Pháp đã sưu tầm, ghi chép truyện cổ tích “Tấm Cám”. Truyện này được A. Lăngđơ (A. Landes), quan cai trị, sưu tầm ở Nghệ An và công bố ở Sài Gòn năm 1886; được G. Jaanneau sưu tầm ở Mỹ Tho và công bố năm 1886.

(4). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian,  tập 1, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, tr.317.

(5). Đỗ Văn Ninh (1992), Tiền cổ Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.289.

(6). Vũ Tố Hảo (2006), Tổng tập văn học dân gian người Việt,tập 13: Vè sinh hoạt, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.432-433.

(7). Vũ Tố Hảo (2006), sđd, tập 13, tr.426-427.

(8). Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1962), Hát giặm Nghệ Tĩnh,tập 1, quyển thượng, Nxb. Khoa học, H, tr.193-196.

(9). Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (2001), Kho tàng ca dao người Việt,tập 1, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H, tr.647.

(10). Vũ Tố Hảo (2006), sđd, tập 13, tr.248.

(11). Chữ “thiên” viết theo lối Hán tự: 天? , chữ “phu” được viết 夫?.

(12). Đỗ Bình Trị (1991), Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, Nxb. Giáo dục, H, tr.172. Dị bản của dòng cuối đoạn trích: “Dân sầu, dân thảm tự Tâyqua đến giờ”.

(13). Đỗ Bình Trị (1991), sđd, tr.173. Sứ: viên công sứ Pháp, người thay mặt thực dân đứng đầu một tỉnh.

(14). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.314.

(15). Dẫn theo Chu Xuân Diên, trong sách: Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.314.

(16). Nguyễn Xuân Kính chủ biên (2002), Kho tàng tục ngữ người Việt,tập 2, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H, tr. 2057.

(17). Vũ Tố Hảo (2006), Tổng tập văn học dân gian người Việt,tập 14: Vè chống phong kiến, đế quốc, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.362.

(18) Nguyễn Khánh Toàn chủ biên (1985), Lịch sử Việt Nam, tập 2: 1858 - 1945,Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.311.

(19). Vũ Tố Hảo (2006), sđd, tập 13, tr.667.

(20). Những bài vè này được in ở: Vũ Tố Hảo (2006), sđd, tập 14.

(21). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.328-329.

(22). Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (2001), sđd, tập 2, tr.2232.

(23). Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (2001), sđd, tập 2, tr.2232.

(24). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.329.

(25). Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên (2004), Từ điển văn học,Nxb. Thế giới, H, tr.1469.

(26). Nông Sơn Nguyễn Can Mộng (2004), Nông Sơn toàn tập, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr.916. Nông Sơn Nguyễn Can Mộng đánh giá đây là “ca dao bất hủ!” (sđd, tr.916).

(27). Xuân Diệu, Lữ Huy Nguyên (1984), Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải,Nxb. Văn học, H, tr.152.

(28). Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1954), Bán buồn mua vui,Nhà in Khánh Quỳnh, Huế, tr.59.

Cá buôi là loại cá ngon, giống cá đối nhưng to hơn cá đối. Cá đối là cá nước lợ, đầu rộng và bằng, thân tròn dài. Cá vược là loại cá dữ, sống ở biển hay cửa sông, đầu nhọn, miệng to, vây có nhiều gai cứng - N.X.K.

(29). Võ Quang Nhơn (1983), Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam,Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, tr.49.

(30). Võ Quang Nhơn (1983), sđd, tr.49.

(31). Oscar Salemink (2000), “Luật tục, quyền sở hữu đất và vấn đề di cư”, trong: Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam,Nxb. Chính trị quốc gia, H, tr.829-834.

Tr.829: từ “délégue” các sách khác dịch là “đại biện”, ở đây dịch/in sai là “đại diện”. Tr. 833 cho rằng Patxkiê (Pasquier) làm toàn quyền Đông Dương năm 1923 là không chính xác. Ông này làm quyền toàn quyền 1926 - 1927, toàn quyền 1928 - 1934.

(32). Oscar Salemink (2000), bđd, tr.831.

(33). + Oscar Salemink (2000), bđd, tr.839. Một tài liệu khác cho biết, từ năm 1928 Sabachiê trở lại Đắc Lắc và đến năm 1931 mới rời bỏ hẳn Đông Dương - N.X.K.

+ Phan Đăng Nhật (2009), “Đi tìm người vợ Tây Nguyên của Sabatier”, trong cuốn sách của cùng tác giả Văn hóa các dân tộc thiểu số những giá trị đặc sắc,Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.570. Đọc sách này, tr. 589, tôi băn khoăn về tính chính xác về thời gian Sabachiê làm đại biện và làm công sứ - N.X.K.

(34). Phan Đăng Nhật (2009), “Đi tìm người vợ Tây Nguyên của Sabatier”, bđd, tr.571.

(35). Phan Đăng Nhật (2009), “Tìm hiểu luật tục Gia Rai”, trong cuốn sách đã dẫn Văn hóa các dân tộc thiểu số những giá trị đặc sắc,tr.589 và 591.

(36). Oscar Salemink (2000), bđd, tr.840.

(37). Andrew Hardy (2014), Nhà nhân học chân trần: Nghe và đọc Jacques Dournes,Nxb. Tri thức, H.

(38). Oscar Salemink (2000), bđd, tr.845.

(39). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, tr.113.

Về năm xuất bản lần hai sách luật tục của Sabachiê, Phan Đăng Nhật và Đinh Gia Khánh ghi khác nhau mấy năm (1940, 1943).

(40). Phan Đăng Nhật (2009), “Tìm hiểu luật tục Gia Rai”,bđd, tr.592.

(41). Phan Đăng Nhật (1998), “Nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trong bối cảnh sử thi Việt Nam”, trong sách: Nhiều tác giả, Sử thi Tây Nguyên,Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.65.

(42). Sao Nhuôn đã sinh ra con gái nhỏ mà năm 1926, khi phải rời Đắc Lắc, Sabachiê đã đem theo về Pháp. Xem thêm:

+ Phan Đăng Nhật (1998), “Nhìn lại quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trong bối cảnh sử thi Việt Nam”, bđd.

+ Phan Đăng Nhật (2009), “Đi tìm người vợ Tây Nguyên của Sabatier”, bđd.

Bài “Huyền thoại về Công sứ Sabatier sưu tầm khan Ê Đê ở Buôn Ma Thuột” (trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian,năm 2020, số 1) có nhiều thông tin không chính xác. Thí dụ: Các tài liệu đều cho biết Sabatier mất năm 1936. Vậy mà bài này viết “năm 1937, ông trở lại tiếp tục làm Công sứ Buôn Ma Thuật” (bđd, tr.70); năm 1943 Sabatier rời Tây Nguyên về Pháp (bđd, tr.72); Sabatier mất ở Pháp vào cuối năm 1947 (bđd, tr.73); năm 1997, Giáo sư Condominas không hề có mặt ở Hội thảo khoa học “Sử thi Tây Nguyên - Việt Nam” tổ chức tại Buôn Ma Thuột, vậy mà ông Trương Bi viết “may mắn được gặp Giáo sư Condominas” tại Hội thảo vừa nêu (bđd, tr.72). Bài viết của Trương Bi chỉ khẳng định một chiều, không thấy hạn chế, sai lầm của Sabatier như chúng tôi đã trình bày - N.X.K.

(43). Năm 1948, trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, tác giả Trường Chinh nhận xét, trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian “ta đã tập được phần nào tư tưởng và phương pháp làm việc khoa học” (Dẫn theo Đỗ Bình Trị (1991),Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, tr.76). Căn cứ vào vị thế lãnh đạo của tác giả và thời điểm phát biểu (lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang gay go, quyết liệt), hiện nay (năm 2019), chúng ta có thể hiểu ảnh hưởng của phương pháp làm việc khoa học đó là đáng kể, ở trên mức phần nào.

(44). Có ba khái niệm: Văn học dân gian nguyên sinh là văn học dân gian truyền thống mà cho đến hôm nay vẫn đang được lưu truyền trong dân chúng, chưa chịu ảnh hưởng bởi các ghi chép của các trí thức, văn học dân gian tái sinh là những tác phẩm được Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi,… sưu tầm, ghi chép, biên soạn, văn học dân gian tân sinh chính là văn học dân gian đương đại.

(Tạp chí Nguồn sáng dân gian số 3/2020, tr.3-tr.13)

 

 

 

 

 

 

 

                

 Lực lượng sáng tác văn học dân gian những năm kháng chiến chống Pháp chủ yếu là bộ đội và nông dân. Nông dân trong vùng kháng chiến không chỉ sống cuộc sống gia đình, cuộc sống ở làng quê mình như trước kia, mà còn hòa mình vào đời sống xã hội rộng lớn, làm những công việc mới phục vụ kháng chiến. Thể loại ca dao hết sức phong phú và đặc sắc, trong đó ca dao bộ đội khác về chất so với ca dao do binh lính thời trước sáng tác bởi sự dồi dào về số lượng, bởi tinh thần lạc quan trong nội dung. Truyện cổ tích rất hiếm. Trong giai thoại, đáng chú ý hơn cả là giai thoại về Tạ Đình Đề. Trong các tài liệu sưu tầm văn học dân gian những năm kháng chiến chống Pháp, ca dao nhiều hơn cả; không thấy tục ngữ và truyện cười. Trong các thể loại truyện dân gian, đáng chú ý hơn cả là giai thoại.

 

I. Ca dao

Trong phong trào thơ ca kháng chiến

chống Pháp, ca dao và những sáng tác khác của bộ đội, dân công là một mảng đặc sắc. Văn học dân gian cổ truyền là sáng tác của dân chúng, chủ yếu ra đời sau lũy tre xanh và được lưu hành bằng truyền khẩu. Cách mạng đã đổi đời người nông dân vùng kháng chiến. Họ không chỉ sống cuộc sống gia đình, cuộc sống của thôn làng như trước kia nữa mà còn hòa vào cuộc đời rộng lớn hơn. Họ đón nhận những người thành thị về tản cư, chăm sóc thương binh, giúp đỡ cán bộ, bộ đội đi công tác qua. Họ còn đi phá đường, rồi thời gian sau lại làm đường, tăng gia sản xuất, đi dân công, đi cứu thương. Một mặt, họ sáng tác những vần thơ mộc mạc của mình. Mặt khác, họ truyền khẩu những bài ca dao mới do các trí thức như Bùi Hạnh Cẩn, Huyền Tâm, Lê Kim sáng tác:

+ Chị em du kích Thái Bình

Ca lô đội lệch vừa xinh vừa giòn

Người ta nhắc chuyện chồng con

Lắc đầu nguây nguẩy: “Em còn giết Tây!”(1).

 

Lúa tháng năm kén tằm vàng óng,

 Hạt khô giòn, đem đóng thuế nông.

Thúng đầy anh gánh tôi gồng,

 Kĩu cà kĩu kẹt, qua sông qua đò…(2) .

Nhu cầu văn nghệ của quần chúng trong kháng chiến là rất lớn và cấp thiết. Có địa phương, khi bài vè đầu tiên được sáng tác, thì liền đem ra trình bày trong các buổi họp. Nhưng rồi số sáng tác nhiều quá, phải treo một chiếc chiếu ở đình để đón tất cả sáng tác ấy. Rồi một chiếc chiếu cũng không đủ, phải căng thêm một cái cót. Ở nhiều địa phương, nông dân phải chia ra nhiều nơi để dán các sáng tác của mình. Họ chọn nhà ông tổ trưởng nông hội, nhóm trưởng nhóm sản xuất hay là một nhà nào trong xóm thường là nơi tập trung họp hành để không mất công đi xa, kết hợp được văn nghệ với sinh hoạt hằng ngày. Những địa điểm như thế được gọi là những “trạm văn nghệ”(3).

So với nông dân, ca dao của bộ đội phong phú không kém.

Năm 1949, một chiến sĩ xung kích ở An Châu khắc một lời ca dao lên chiếc gậy tày (gậy tre có cắm dao tông):

Chúng tao chỉ có câu này

Thề cùng giặc Pháp có mày không tao

Lời nói sắc tựa nhát dao

Thề cùng giặc Pháp có tao không mày.

Người chiến sĩ vô danh đã hi sinh, chiếc gậy tre đã thất lạc, nhưng lời ca dao vẫn sống mãi(4).

Ở Việt Bắc, mùa Hè năm 1949, nhà thơ Tố Hữu đi với tiểu đoàn Phủ Thông tham gia chiến dịch sông Thao. Trong 15 ngày cùng bộ đội hành quân, nhà thơ lượm được 350 lời, trong đó có nhiều lời có chất lượng cao. Trung đội nào cũng có báo, chiến sĩ nào cũng viết, vừa lau súng vừa lẩm nhẩm sáng tác. Chợt nghĩ ra, họ viết và dán ngay lên súng, lên nồi chảo, ống loa, mìn, bom... Cũng trong chiến dịch sông Thao, các chiến sĩ của tiểu đoàn 79 (thuộc trung đoàn Thủ đô) sáng tác ca dao bằng nhiều hình thức: viết trên một trang sổ tay, trên một mảnh giấy gói thuốc lào, có khi viết bằng bút chì lên lá chuối non, trong lòng máng trắng của những thanh tre. Các tiểu đoàn khác của trung đoàn Thủ đô cũng sáng tác ca dao trên lá non và máng tre như vậy(5). Ở Nam Bộ, trong thời gian đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, các đơn vị quân đội chính quy đem súng ống chiến lợi phẩm tặng cho du kích. Các cán bộ phụ trách văn nghệ trong quân đội đã vận động mỗi chiến sĩ làm một lời ca dao dán vào báng súng trước khi trao cho du kích, thể hiện tâm tình của mình, gửi gắm khẩu súng cho người nhận. Chỉ trong vài tiếng đồng hồ, một tiểu đoàn bộ đội (lúc đó khoảng 400 người) đã viết được trên 500 lời ca dao(6).

Trong chiến dịch Cao Bắc Lạng (1950), một đồng chí cấp dưỡng ghi vào những nắm cơm gánh ra trận địa cho bộ đội chiến đấu mấy câu thơ:

Mời anh xơi nắm cơm chay

Ăn no lấy sức phanh thây quân thù.

Bộ đội chiến đấu ngoài trận địa cũng đáp lại bằng cách dán trả mấy câu thơ vào chiếc đòn gánh gánh cơm:

Hôm nay tớ nhận cơm chay

Ngày mai tớ gửi mười Tây làm quà.

Nhiều đơn vị công tác khác cũng phỏng theo hình thức ca dao báng súng của bộ đội mà sáng tạo nên những hình thức phù hợp với hoàn cảnh sống và chiến đấu của mình, chẳng hạn hình thức vè dán lên túi công văn gắn xi của các đơn vị giao thông liên lạc thuộc Cục Thông tin, Bộ Quốc phòng(7).

Trước Cách mạng Tháng Tám, người phụ nữ nông thôn hầu như chỉ quẩn quanh với việc nhà, với công việc đồng áng. Cách mạng đã đổi đời họ. Họ tham gia các đoàn thể, theo chồng đi phá đường nhằm ngăn cản bước tiến của quân Pháp. Cùng nam giới, họ đi dân công tiếp vận. Khi đi tiếp vận, chị em phụ nữ nhận thấy mặc quần tiện lợi hơn mặc váy; những lúc có máy bay giặc, các chị mặc váy không chạy mau được và té ngã rất bất tiện; vả lại mặc quần cũng hợp thời trang nữa. Một lần kia, tiếng máy bay vừa hết, đoàn người tiếp vận chỉnh đốn lại hàng ngũ, vừa mới tiếp tục đi, thì đã nghe tiếng hò của một nam dân công:

Tàu bay giặc bắn ù ù

Yêu cầu phụ nữ bỏ dù đi thôi.

Không ngờ anh ta lại tức cảnh nhanh chóng như thế. Một chị đành phải hò lại một lời ca dao cũ ngày xưa để đánh trống lảng:

Hôm qua em mất chiếc váy thâm

Hôm nay lại gặp anh cầm ô đen(8).

Nhà thơ Lê Kim cho biết thơ ca của bộ đội và dân công phát triển rất rôm rả trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Các chị dân công không biết chữ hoặc biết khá hạn chế nhưng khả năng ứng tác thì thật tài tình và táo bạo:

+   Con đò trong bãi nằm dài

Em tắm sạch lắm đợi hoài các anh

Có đến thì đến đầu xanh

Đừng đến đầu bạc tỏi hành nhau ra...

+ Sông Lô có mấy con thuyền

Bao nhiêu tấc nước mấy nghìn khúc quanh

Bộ đội chủ lực mấy anh

Gặp em đây cũng tan tành khói mây.

Chàng trai Lê Kim là lính chủ lực, tiếng Pháp, tiếng Thái làu làu. Gặp dịp như thế, tài thơ của người chiến sĩ - nghệ sĩ này có dịp bộc lộ. Nhưng quả địch bất chúng (một mình không đối đáp được với số đông), cuối cùng nhà thơ đành xin thua:

Thôi thôi xin nói điều này

Đánh đấm chẳng được cuốc cày chẳng xong

Trồng ngô thì lại ra bông

Tưởng gái tơ, hóa nạ dòng, xin thua!

Khi bộ đội đã xuống nước đấu dịu, chị em dân công cũng rất có tình:

     Kể thì mặt mũi khôi ngô

Có tí chữ nghĩa nhưng khờ quá ta

     Gặp chị em nhớ tránh xa

Gặp giặc hãy đến kẻo mà ăn bom

     Chúng em đây, thực còn son

Bao giờ chiến thắng em còn em cho

     Đừng nghĩ quẩn mà sinh lo

Gạo còn đó rồi sẽ vo có ngày

Chào chủ lực, chúng em đi đây...(9).

Ca dao kháng chiến là bộ phận văn học dân gian đặc sắc của văn học dân gian những năm chống Pháp. Trong ca dao cổ truyền, không phải không có những người phụ nữ bạo dạn vượt qua lễ giáo phong kiến, những nữ danh ca dân gian thắng phái mày râu trong những cuộc hát đối đáp. Tuy nhiên những người phụ nữ đó chỉ được khẳng định trong những sinh hoạt lao động của phường cấy, phường nón, phường dệt... trong các hoạt động ca hát ở làng mình. Họ ít khi có dịp vượt ra khỏi lũy tre làng. Người phụ nữ trong ca dao chống Pháp hoàn toàn khác. Họ đi phá đường, đi dân công phục vụ các chiến dịch lớn như chiến dịch Cao Bắc Lạng (1950), chiến dịch Điện Biên Phủ (1954). Họ sáng tác thơ ca thể hiện cảm xúc trước cuộc sống mới, đối đáp với các nam dân công, với cả bộ đội cụ Hồ. Hát đối đáp nam nữ đối với phụ nữ Việt Nam không phải là hoạt động xa lạ, nhưng chỉ ở những năm tháng kháng chiến chống Pháp, những câu hò, giọng hát của họ mới vang lên ở một khung cảnh mới, không chỉ ở ngay trên mảnh đất của làng quê họ. Trong ca dao cổ truyền, những lời ca dao do người lính sáng tác chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay, nhiều lời đượm buồn (“Ba năm trấn thủ lưu đồn...”), thậm chí có lời đẫm nước mắt (“Ngang lưng thì thắt bao vàng”). Không có lời nào vui. Vậy mà ca dao của bộ đội không chỉ hết sức phong phú mà còn vô cùng vui tươi, thể hiện tinh thần lạc quan, chí kiên cường của anh vệ quốc. Những hình thức báo tay, báo tường, ca dao báng súng, vè tui xi... “là những dấu hiệu độc đáo về sự xâm nhập mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học thành văn. Bằng những phương tiện thô sơ về ấn loát, quần chúng lao động tự cho “xuất bản” và phổ biến những tác phẩm của mình. Văn nghệ sĩ chuyên nghiệp và những cán bộ làm công tác chính trị trong quân đội, làm công tác tuyên huấn ở các cơ quan, nhà máy, làm công tác thông tin tuyên truyền ở các địa phương cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc phổ biến sâu rộng những sáng tác của quần chúng”(10).

 

II. Truyện kể

Bên cạnh ca dao, giai thoại khá phong phú. Cán bộ, bộ đội, nhân dân kể cho nhau nghe những câu chuyện đẹp, thú vị về Bác Hồ, về đại tướng Võ Nguyên Giáp... Trí tưởng tượng phong phú của họ đã tạo nên huyền thoại về Tạ Đình Đề. Có giai thoại kể rằng, ông Đề là một điệp viên hoàn hảo được địch cử về ám sát Bác Hồ. Nhưng do tài cao đức trọng, Bác Hồ đã cảm hóa được ông Đề. Không những đi theo cách mạng, ông Đề còn trở thành người bảo vệ tài ba của Bác Hồ. Kẻ địch đã dùng trăm phương ngàn kế để tiếp cận, ám sát vị Chủ tịch của Chính phủ kháng chiến nhưng đều bị Tạ Đình Đề chặn đứng và tiêu diệt chúng. Tác giả dân gian kể rằng, trong một lần Bác Hồ tiếp phái bộ ngoại giao nước ngoài ở chiến khu, Tạ Đình Đề phải đứng cách vị Chủ tịch nước khoảng 5 mét khi các nhà ngoại giao đến chào Bác Hồ. Khi đang nói chuyện bằng tiếng Pháp, nhà ngoại giao nọ mời Bác Hồ hút thuốc. Tạ Đình Đề nhận ra nhà ngoại giao đó là một điệp viên kì cựu mà trước đây ông đã từng gặp; đồng thời ông còn hiểu rằng điếu thuốc lá đã tẩm độc. Tình thế đòi hỏi phải hành động khẩn cấp, nếu để chậm, Bác Hồ sẽ nhiễm độc. Nhanh như cắt, khi Bác Hồ vừa nhận điếu thuốc, châm lửa chuẩn bị hút thì Tạ Đình Đề giương khẩu súng giảm thanh, bắn bay điếu thuốc lá mà xung quanh không ai việc gì. Bác Hồ rất ngạc nhiên. Tạ Đình Đề giơ tay chỉ về kẻ địch và cúi đầu xin lỗi. Mọi người hiểu ra, người chiến sĩ tình báo tài ba đã thêm một lần phá tan âm mưu của kẻ thù. Còn nhiều giai thoại khác kể về việc Tạ Đình Đề thi bắn súng với sĩ quan Tàu Tưởng, về việc ông đã răn đe, cảnh cáo bọn sĩ quan Pháp tàn bạo và những tên Việt gian bán nước.

Tạ Đình Đề xuất thân nghèo khổ, đi làm công nhân và được giác ngộ cách mạng thực sự. Chưa bao giờ ông ở trong hàng ngũ địch. Nhưng văn học dân gian đã xây dựng nên một Tạ Đình Đề của huyền thoại. Đúng như lời giải thích của một vị tướng, cấp trên của ông trong kháng chiến chống Pháp: “Huyền thoại về anh Đề cũng một phần do nhân dân ta khát vọng anh hùng, khát vọng yêu nước, thương dân nên đã truyền tụng cho nhau nghe những câu chuyện đó. Nhưng một phần cũng do chính bọn lính Pháp và ngụy quân trong thời tạm chiếm vì nơm nớp lo sợ nên thêu dệt nên những huyền thoại thần xuất, quỷ nhập(11). Những câu chuyện về Tạ Đình Đề thời chống Pháp sẽ tiếp tục được kể lại trong thời chống Mỹ sau đó.

Truyện cổ tích quá hiếm. Mục “Tư liệu sưu tầm truyện cổ tích hiện đại”, trong Văn học dân gian hiện đại (2015), quyển 1, của Trần Gia Linh, gồm 37 truyện, chỉ có 1 truyện kể về thời chống Pháp, truyện này tên là “Đóa hoa chanh”. Truyện kể rằng: Cô gái 19 tuổi xinh đẹp lấy chồng được hơn một tháng thì làng cô bị giặc chiếm đóng. Người chồng ra vùng tự do của ta, còn cô ở lại bí mật tham gia du kích và được giao nhiệm vụ tình báo. Cô phải giả vờ lẳng lơ, tìm cách gần gũi bọn địch để thu thập các tin tức bí mật. Trong hai năm liền, cô đã cung cấp nhiều tin tức quý giá cho ta, nhưng cũng phải chịu sự ghét bỏ, phỉ nhổ của bố mẹ chồng, họ hàng và dân làng. Một lần cấp trên cử cán bộ bí mật trở về làm việc với chị. Họ gặp nhau ở khu vườn hoang, dưới gốc một cây chanh. Người cán bộ quân báo ấy chính là chồng chị. Sau khi bàn bạc công tác, họ chuyện trò âu yếm dưới gốc chanh, rồi chia tay. Từ đó người vợ có mang. Tiếng đồn chị chửa hoang lan khắp vùng. Chị cắn răng chịu đựng, không thể thanh minh. Khi đứa bé sinh ra, nó giống chị như lột, song bàn tay trái bị dị tật, không sao mở ra được. Sáu tháng sau, quân ta mở chiến dịch lớn, đồn bốt giặc liên tiếp bị hạ, quê hương giải phóng. Nhưng trong những làn đạn địch chống trả, chị đã bị sát hại. Người chồng trở về, nghe tin vợ mất, đau xót vô cùng. Dân làng ai ủi và báo cho anh biết chị đã chửa hoang. Nhìn thấy bố, đứa con gái đưa hai bàn tay lên, bàn tay trái mở ra, giữa bàn tay có bông hoa chanh tươi rói(12).

Truyện cổ tích về thời chống Pháp quá hiếm nên trong các sách sưu tầm đã xuất bản chỉ có truyện “Đóa hoa chanh”. Ở đây có sự phù hợp giữa thực tế văn học dân gian và kết quả sưu tầm. Trong các cuốn sách sưu tầm vắng bóng tục ngữ, truyện cười. Đây chưa hẳn là thời gian này thiếu vắng hai thể loại vừa nêu. Nguyên nhân của sự thiếu hụt này có lẽ nằm trong công tác sưu tầm.

 

CHÚ THÍCH

(1). Vũ Ngọc Phan (2008), Tuyển tập, tập 3, Nxb. Văn học, H, tr.536. Bài này của Bùi Hạnh Cẩn.

(2). Vũ Ngọc Phan (2008), sđd, tr.556. Bài này của Huyền Tâm.

(3). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), Văn học dân gian, tập 1, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H, tr.345.

(4). Trần Gia Linh (2015), Văn học dân gian hiện đại, quyển 1, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr.38.

(5). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.359.

(6). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.359.

(7). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.346.

(8). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.352.

(9). Phùng Văn Khai (2012), “Đời cứ tươi cứ thơ vui chiến sĩ”, Báo Văn nghệ, số 47, ra ngày 24 tháng 11, tr.23.

(10). Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên (1972), sđd, tr.346-347.

(11). Dương Thanh Biểu (2014), Tạ Đình Đề những góc khuất cuộc đời, Nxb. Hội Nhà văn, H, tr.220.

(12). Trần Gia Linh (2015), quyển 1, sđd, tr.157-159.

(Nguồn: Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1/2020, tr.3-tr.7 và tr.15)

Thứ năm, 16 Tháng 4 2015 13:52

Nghĩa của tục ngữ trong bối cảnh

1.Việc nghiên cứu nghĩa của tục ngữ và nghĩa của tục ngữ trong bối cảnh tại Việt Nam

Thứ tư, 08 Tháng 10 2014 09:19

Nguồn sáng Vũ Ngọc Phan

“Thưởng thức là ngưỡng cửa của phê bình. Chưa bước qua ngưỡng cửa ấy mà nhảy vào cầm bút phê bình thì nhất định mắc phải những sai lầm tai hại. Không còn gì ngượng bằng đọc một bài người ta đem dẫn toàn những câu thơ dở và những câu ca dao dở mà lại đi khen là hay”. (Vũ Ngọc Phan, trích từ Hồi ký văn nghệ, tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 4 năm 1983, trang 168).

Chủ nhật, 10 Tháng 11 2013 05:23

Tính cách dân tộc qua truyện trạng

1.Hệ thống truyện trạng Việt Nam bao gồm các bộ phận truyện Trạng Quỳnh, truyện Xiển Bột, truyện Nguyễn Kinh, truyện Thủ Thiệm, truyện Ông Ó, truyện Khun Hón (dân tộc Thái), truyện Lật Đời (dân tộc Chăm),... Qua nhiều thế hệ, chúng luôn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc (nghe). Sự thông minh, tài trí của các nhân vật trạng do nhân dân bao đời sáng tạo nên, nhằm phản ánh khát vọng về người tài giỏi có thể làm xã hội trở nên công bằng, con người sống trong môi trường lành mạnh, lẽ phải được xiển dương, áp bức bị lên án và đánh bại. Do việc sáng tạo của văn học dân gian mang tính tự phát, tính cộng đồng, không phải bằng sự thông thái kèm ý thức chủ quan và cá tính mạnh mẽ như của các nhà văn, nên có thể tìm thấy mối quan hệ nhất định giữa tính cách của các nhân vật được un đúc, tô bồi, với tính cách của cộng đồng sáng tạo nên các nhân vật ấy. Nói rõ hơn: tính cách của nhân vật trạng có sự tương đồng nhất định với tính cách dân tộc.

DẪN NHẬP: GIÁO SƯ ĐINH GIA KHÁNH - NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG

Giáo sư Đinh Gia Khánh (1924 - 2003) hoàn thành công trình Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của tuyện cổ tích qua truyện Tấm Cám vào tháng 2 năm 1966 (một điều rất thú vị là công trình được in lần đầu và tái bản tại Nxb KHXH, nhưng được Nxb Hội Nhà văn tái bản năm 1999, điều ấy chứng tỏ tác phẩm của nhà khoa học đã được văn giới cập nhật vì tính hữu dụng của nó). Những nhà khoa học tài năng thường khiêm tốn (tên sách chỉ được tác giả đặt là “sơ bộ tìm hiểu…”) nhưng công trình đúng là những luống cày vỡ đầu tiên để mở mang đất đai, ruộng đồng màu mỡ về sau.

Sự nghiệp giáo dục và nghiên cứu khoa học của Giáo sư Đinh Gia Khánh bao trùm lên cả ba lĩnh vực: văn học dân gian, văn hóa dân gian và văn học trung đại Việt Nam. Cuốn Đinh Gia Khánh, Tuyển tập, tập 1 này tập hợp những công trình khoa học của ông trong lĩnh vực văn học dân gian.