Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Chí sĩ Mai Lão Bạng

Trong phong trào Duy tân - Đông du đầu thế kỷ XX, Mai Lão Bạng (1866 - 1942) là một trong những đại biểu ưu tú của đồng bào công giáo yêu nước.

Ông chính tên là Gioan Baotixita Mai Văn Châu, trong hoạt động cách mạng thường được biết đến với tên Mai Lão Bạng(1), sinh năm 1866 trong một gia đình theo đạo lâu đời ở họ Dụ Thành xứ Dụ Thành, thuộc làng Quảng Ích tổng Đậu Chử nay là thôn Hoàng Dụ, xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh(2).

Lúc nhỏ, ông học chữ Hán ở gia đình rồi được gửi ra học tại Đại chủng viện Xã Đoài. Tốt nghiệp, ông được làm thầy giảng, thường gọi thầy già Châu.

Từ lúc ở Chủng viện cho đến khi ra hành đạo, già Châu thấy rõ sự quản chế gắt gao đối với học sinh, sự bất bình đẳng giữa giáo sĩ người Pháp và người Nam. Nhiều cha cố lại thường liên hệ chặt chẽ với công sứ, với mật thám Pháp. Ông có người bạn cùng học, cùng chí hướng và cùng là thầy già, là Lê Khánh, quê huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Hai ông liên lạc với các linh mục yêu nước Nguyễn Tường, Nguyễn Thần Đồng, Đỗ Quang Lĩnh, được đọc “tân thư”, mở rộng sự hiểu biết, và trở thành những người hoạt động hăng hái. Chính hai ông, Già Châu (từ đây ghi Mai Lão Bạng) và Già Khánh, đã giúp các linh mục xây dựng một mạng lưới gồm những người yêu nước trong đồng bào giáo để đến khoảng cuối 1904, đầu 1905, hình thành một tổ chức cách mạng lấy tên Duy tân giáo đồ hội, đứng đầu là các linh mục Tường, Đồng, Lĩnh, hoạt động theo tôn chỉ của Hội Duy tân do Phan Bội Châu lãnh đạo(3).

Năm 1908, Duy tân giáo đồ hội “cử Mai Lão Bạng xuất dương, giúp đỡ hội chủ tham gia việc ngoài” (“Việt Nam nghĩa liệt sử” - Tập II). Trong “Niên biểu”, Phan Bội Châu ghi lại:

“Năm Mậu Thân tháng Hai (3-1908) tôi soạn sửa đi Tiêm La (Thái Lan - TKĐ chú), trở về Hương Cảng, đụng gặp cụ Mai Lão Bạng từ trong nước ra. Đồng đi lần đó có học sinh thanh niên vài mươi người. Cụ Mai là đại biểu cho người trong Thiên Chúa giáo đồ. Giáo hội ủy thác cụ ra để giới thiệu những người giáo đồ nhập Hội Duy tân. Trước kia học sinh xuất dương chưa có ai là người trong Giáo hội. Từ cụ Mai xuất dương, Giáo hội cũng phái người xuất dương như Lê Kim Thanh, Lê Hồ Chung, Nguyễn Đậu Sơn, Lưu Yên Đơn, những người ấy trước sau cả thảy có 10 người. Tựu trung có mấy người đã từng đậu nhà thầy, Kim Thanh và Yên Đơn là người trội nhất... Cụ Mai thi đậu Cụ(4) nhưng vì gánh việc Duy tân hội, nên qua Nhật Bản. Tôi vì cớ tôn trọng Giáo hội, mới nhóm toàn viện học sinh hoan nghênh cụ. Cụ rất nhiệt tâm về việc cổ động giáo đồ. Cụ có làm bản sách “Lão Bạng phổ khuyến thư” có ảnh hưởng tới phía giáo đồ nhiều lắm...”

Vào tháng 8-1908, Phan Bội Châu đã cho in 200 bản bài “Phổ khuyến” tại Nhật Bản gửi về trong nước cùng với bức ảnh Phan Bội Châu, Cường Để và Mai Lão Bạng chụp chung(5).

Mùa đông năm ấy (1908), Nhật Bản bắt tay với Pháp, ra lệnh giải tán Công hiến hội - tổ chức của học sinh Đông du - trục xuất Phan Bội Châu cùng các nhà yêu nước và học sinh Việt Nam ra khỏi nước Nhật.

Phan cùng nhiều người sang Trung Hoa, còn Mai Lão Bạng qua Xiêm. Nhưng Chính phủ Xiêm liền bắt giam ông theo yêu cầu của Pháp. Sau bốn tháng ngồi tù, ông lại bị trục xuất khỏi đất Xiêm... Mai sang Hương Cảng để gặp Phan, lại bị nhà đương cục Anh bắt giam ba tháng rồi trục xuất khỏi Hương Cảng... Ấy là vào năm 1909.

Cùng thời gian này, tổ chức Duy tân giáo đồ hội ở Nghệ Tĩnh cũng bị phá vỡ. Ngày 12-6-1909, ba linh mục Tường, Đồng, Lĩnh bị bắt rồi bị kết án đày đi Côn Đảo. Hàng trăm đồng bào giáo cùng bị bắt bớ, tù tội. Mai Lão Bạng cũng bị kết án vắng mặt. Bu-đa-ren (G. Boudarel) dựa theo hồ sơ của Pháp, viết trong sách “Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam ở thời đại ông” (Bản dịch của Chương Thâu, Hồ Song - VHTT. H.1997): “Cha Mai Lão Bạng bị kết án thắt cổ vắng mặt bởi tòa án Nam triều ở Vinh ngày 3-9-1909 được viên lãnh sự Pháp ở Hương Cảng xem là một trong những người cầm đầu phong trào của Phan Bội Châu...”.

Trong lúc này, gia đình ông cũng bị liên lụy, em trai ông là Mai Văn Huyền đang học Tiểu chủng viện, bị đuổi và bị truy nã, phải trốn vào Quảng Bình ở với cha Kiểm, sau mới trở về quê Kỳ Anh.

Đầu năm 1910, Mai Lão Bạng gặp Phan Bội Châu ở Quảng Đông. Lúc này một bộ phận các nhà yêu nước từ Nhật, Tàu về, hoặc từ trong nước ra, tập trung ở Xiêm. Ông được cử sang Xiêm cùng với Đặng Thúc Hứa xây dựng trại cày Bản Thầm, tính kế lâu dài. Ít lâu sau, anh em mời cả Phan Bội Châu sang. Nhưng trong khi gặp khó khăn, tư tưởng diễn biến phức tạp, nội bộ có sự bất hòa. Phan và Mai phải tìm mọi cách giải quyết để ổn định tình hình. Mai viết bài ca “Khuyên đồng tâm” dài tới 178 câu với lời lẽ chân thành, tha thiết:

“... Câu đồng chủng, nghĩa đồng bào,

Anh em cốt nhục thế nào đồng tâm.

Đường len lỏi thiên lâm vạn hải

Bỏ nước nhà mà phải ra đây.

Trước thì gây dựng cuốc cày

Mong làm cơ sở đợi ngày thành công...

...Tiểu hiềm dẹp để một bên

Đại thù phục quốc giăng trên mùng nằm...

...Trông về cố quốc mênh mông,

Nỗi niềm tâm sự khôn thông mối sầu...

... Lời quê gưởi tới tương tri,

Trước sau cặn kẽ xin ghi vào lòng...”

Bài ca đã góp phần giải quyết những sự bất đồng, xây dựng mối tương thân tương ái một cách hữu hiệu(6).

Cách mạng Tân Hợi (1911) nổ ra ở Trung Quốc. Phan Bội Châu và một số yếu nhân trong đó có Mai Lão Bạng vội sang Trung Hoa, cùng các thành viên hoạt động bên đó bàn việc cải tổ Hội Duy tân cho phù hợp với tình hình mới. Một cuộc hội nghị họp vào đầu 2/1912 thành lập Việt Nam Quang phục hội (thay thế Hội Duy tân) với tôn chỉ “Đánh đổ giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nền cọng hoà dân quốc Việt Nam” (“Niên biểu”). Hoàng thân Cường Để được bầu làm Hội trưởng (Bộ trưởng Tổng vụ bộ), Phan Sào Nam (Phan Bội Châu) làm Tổng lý (Phó bộ trưởng), Mai Lão Bạng và Đặng Tử Mẫn là Kinh tế bộ ủy viên. Tháng 8-1912, Phan Bội Châu cải tổ Quang phục hội thêm một bước, cho phép hội viên người Trung Quốc giữ một số chức vụ, cử Lê Lộc Nam làm Tổng trưởng và Mai Lão Bạng làm Phó tổng trưởng Bộ Tài chính. Để được sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của những người cách mạng Trung Quốc, Phan còn lập thêm một tổ chức mới, Hội Chấn Hoa Hưng Á.

Mai Lão Bạng cùng với Dương Trấn Hải (y sĩ Tây y, người Đài Loan, chạy sang Quảng Đông, gia nhập Hội VNQP), được cử trông coi việc bốc thuốc, chữa bệnh và buôn bán thuốc ở Hiệu thuốc “Đông Bằng y xã”. Đây là cơ sở làm kinh tài, cũng là trụ sở chính của Hội. Chính thời gian này, Mai có dịp nghiên cứu sâu Đông y.

Năm 1913, Hội Việt Nam Quang phục thực hiện đường lối cách mạng bạo động, cử người về hoạt động trong nước. Nhưng sau hai vụ ném bom tại Thái Bình (12-4-1913) giết Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn, và đặt bom tại Khách sạn Hà Nội (26-4-1913) giết hai viên thiếu tá Sa-puy (Chapuis), Mông-gơ-răng (Mongrand) và làm bị thương 6 tên khác, chính quyền thực dân Pháp ra sức đàn áp gắt gao.

Mùa hè năm ấy, ở Quảng Đông có binh biến. Đô đốc Trần Cảnh Hoa, một người có cảm tình với cách mạng Việt Nam, phải chạy. Long Tế Quang đưa quân tới, tự nắm quyền Đô đốc. Y vốn thù ghét vây cánh Hồ Hán Dân, Trần Cảnh Hoa. Tháng 7, Toàn quyền Pháp ở Đông Dương An-be Xa-rô (Albert Saraut) đích thân sang gặp Long Tế Quang yêu cầu bắt Cường Để và các nhà cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu, Mai Lão Bạng đã biết trước nhưng chưa kịp chuyển đi thì ngày 24-12-1913 đều bị bắt...

Phan Bội Châu viết trong “Ngục trung thư”: “...Tôi với yếu nhân của đảng là Mai quân cùng bị bắt hạ ngục... Từ khi xuất dương tới giờ, tôi được nếm mùi ở tù lần này là lần thứ nhất. Nhưng Mai quân hơn tôi: lần này ông ta vào ngục là lần thứ ba rồi. Vào ngục bữa đầu hết, tôi với Mai quân ở chung một xà lim. Đêm hôm ấy tôi đọc miệng một bài thơ để an ủi Mai quân như vầy:

“Phiêu bồng ngã bối các tha hương,

Tân khổ thiên quân phận ngoại thường.

Tính mệnh kỷ hồi tần tử địa,

Tu mi tam độ nhập linh đường.

Kinh nhân sự nghiệp thiên đào chú,

Bất thế phong vân đế chủ trương.

Giả sử tiền đồ tận di thản,

Anh hùng hào kiệt dã dung thường”.

Đại ý là:

Bơ vơ đất khách bác cùng tôi,

Riêng bác cay chua nếm đủ mùi.

Tính mệnh bao phen gần chết hụt,

Mày râu ba lượt bị giam rồi.

Trời toan đại dụng nên rèn chí,

Chúa giúp thành công tất có hồi.

Nếu phải đường đời bằng phẳng hết,

Anh hùng hào kiệt có hơn ai.

... Qua ngày thứ nhì, người ta nhốt riêng tôi và Mai quân mỗi người ở cách biệt nhau một nơi...” (Theo bản dịch của Đào Trinh Nhất).

Phan Bội Châu bị giam ở núi Quan Âm, còn Mai Lão Bạng ở Sở Cảnh sát. Hai người không có tin tức của nhau. Mãi đến năm 1917, ra tù, Phan mới biết Mai vẫn còn trong ngục, bèn nhờ một số quan chức ở Quảng Đông như Mạc Vinh Tân, Ngụy Bang Bành, Tăng Ngạn giúp đỡ để trả tự do cho Mai. Nhưng mãi đến 3-1917, Long Tế Quang chết (có bản chép: chạy), Mai Lão Bạng mới được tha.

Khoảng tháng 4-1917, Mai Lão Bạng lên Thượng Hải, gặp được các ông Hy Cao (Nguyễn Đình Kiên) và Kim Đài (chưa tra cứu được tên thật) vừa vượt ngục Côn Lôn chạy sang. Các ông liền gửi thư cho Phan Bội Châu. Nhưng chưa kịp được hội ngộ thì ba người đã bị Phan Bá Ngọc báo cho mật thám Pháp bắt giải về nước, giam ở Vinh. Hai ông Nguyễn Đình Kiên và Kim Đài bị đưa trở lại Côn Đảo, Mai Lão Bạng cũng bị đày ra Đảo hơn chục năm nữa mới được tha(7).

Ông ở lại Vinh, làm nghề bốc thuốc để sinh sống rồi lập gia đình với bà Anna Bùi Thị Tám (1888-1980), người họ giáo Kẻ Tùng, xã Láng Ngạn, huyện La Sơn, nay là xã Đức La, huyện Đức Thọ. Ông bà sinh con gái đầu lòng là Maria Mai Thị Nhung vào ngày 12-10-1930, đến năm 1935 mới sinh con trai là Baotixita Mai Văn Du, nhưng cậu Du đã mất lúc 5 tuổi. Ông bà còn có người con nuôi họ Nguyễn quê ở Thổ Hoàng huyện Hương Khê, lấy tên họ mới là Mai Văn Dư(8).

Ở Vinh, năm nào ông cụ cũng vào Huế thăm Phan Bội Châu đang bị an trí ở Bến Ngự, có khi ở Vinh 6 tháng lại vào Huế với cụ Phan 6 tháng. Cụ Phan có tặng cụ Mai tấm ảnh “Ông già Bến Ngự” với lời đề: “Cứu quốc tồn chủng, hữu chí vô tài, kim cánh dữ quốc dân trường từ, tội thậm, khất thứ”- Tặng Mai Lão Bạng - Sào Nam” (“Cứu nước, bảo tồn giống nòi, tôi có chí nhưng không có tài, nay đã đến lúc từ giã quốc dân mãi mãi, tôi có tội lớn, xin thứ cho.”- Tặng Mai Lão Bạng - Sào Nam(9)).

Cụ Phan còn tặng cụ Mai đôi câu đối:

- "Thật là con Chúa Trời, thương nước liều thân, ba mươi năm góc bể chân mây, nếm hết mọi mùi chung đỉnh khổ”.

- "Tiếng khen người hội Thánh, vì lòng yêu giống, kể trăm trận sấm ran gió giật, những mong thấy bóng Đẩu sơn gần” (10).

Chí sĩ Mai Lão Bạng, một tấm gương sáng về tư tưởng kính Chúa yêu nước, bạn thân thiết của Phan Bội Châu, mất tháng 10/1942, mộ đặt tại nghĩa địa giáo xứ Cầu Rầm phía cửa Hữu thành Nghệ. (Nay đã bốc mộ đưa về quê Kỳ Anh).

Hiện nay ở Thành phố Vinh và thành phố Hà Tĩnh đều có một đường phố mang tên nhà chí sĩ Mai Lão Bạng.