Văn hóa Nghệ An

Văn hóa xứ Nghệ trong nhân cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam, người con xuất sắc của quê hương Nghệ An. Văn hóa quê hương xứ Nghệ đã xây dựng nên nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh và tỏa sáng những giá trị tốt đẹp của văn hóa quê hương xứ Nghệ.

Yếu tố văn hóa xứ Nghệ xây dựng nên nhân cách Hồ Chí Minh

Nhân cách Hồ Chí Minh là kết quả của sự hun đúc từ truyền thống gia đình nho học uyên thâm; trên vùng đất hiếu học học, tôn sư trọng đạo; trong cái nôi của văn hóa Lam Hồng thấm đẫm văn hóa dân gian, những làn điệu dân ca Ví, Dặm; trong tư tưởng tinh hoa của các hiền triết đời xưa qua sự rèn cặp của người cha - nhà nho, Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Nhân cách văn hóa đó còn là kết quả của quá trình rèn luyện, trau dồi trong trường đời hoạt động của Người; được chung đúc, kết tinh từ tư tưởng, đạo đức, phương pháp, tư duy, nhận thức, ý thức đến hoạt động, quá trình thực hành trong thực tiễn; được hình thành trong quá trình đấu tranh, lãnh đạo cách mạng; trong nội trị và ngoại giao, trong văn hóa ứng xử, trong lối sống, nếp sống hàng ngày. Đó là tổng hòa các giá trị tư tưởng - đạo đức - phong cách thể hiện trong đời sống, cuộc đời hoạt động cách mạng; là cốt cách, bản lĩnh riêng, sáng tạo; là kiểu mẫu về đạo đức và thực hành đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tuyệt đối không màng danh lợi, cả đời ở ngoài vòng danh lợi, đấu tranh đến cùng với chủ nghĩa cá nhân. Nhân cách văn hóa ở Người vừa mang đậm cốt cách văn hóa phương Đông, văn hóa dân tộc Việt Nam vừa là sự kết tinh văn hóa xứ Nghệ chuẩn mực nhất.

Xứ Nghệ nằm trong vùng hiểm yếu, đất rộng, khí hậu khắc nghiệt. Từ xa xưa, người dân xứ Nghệ đã phải vật lộn với thiên nhiên để tồn tại và phát triển. Từ trong khắc khổ ấy họ phải cần cù lao động, chắt chiu tiết kiệm. Hình ảnh lưu danh của các “ông đồ Nghệ” và câu chuyện lưu truyền con cá gỗ đã cho thấy tố chất giàu lý tưởng, ý chí và nghị lực vươn lên, nhất là trong học tập, rèn luyện của con người nơi đây. Cũng từ trong cái khó khăn, cằn cỗi, khắc nghiệtđó của tự nhiên đã hình thành đức tính trung dũng, chí khẳng khái, tính cần mẫn cho thực hiện lý tưởng, hoài bão, lòng tự tin, ý chí tiến thủ, tinh thần trách nhiệm trong công việc, trong cuộc sống. Những giá trị truyền thống đó đã sớm được hun đúc trong người thanh niên Nguyễn Tất Thành những đức tính tốt đẹp, riêng có của con người Nghệ An. Người đã ra đi tìm đường cứu nước trong tư thế của một người lao động với hai bàn tay trắng, làm lụng mọi nghề để kiếm sống, mưu sinh và trải nghiệm bất kể sang trọng hay bình thường; chấp nhận vượt qua mọi thiếu thốn về vật chất, tinh thần, ốm đau, tù đày, dụ dỗ lôi kéo của kẻ thù. Quá trình lao động đó không chỉ giúp Người mưu cầu sự sống mà còn là một phương cách hữu hiệu để Người hoạt động yêu nước, hoạt động cách mạng, thấu hiểu được tâm tư, tình cảm và ước vọng của giai cấp cần lao, tiếp thu và vận dụng thành công Chủ nghĩa Mác Lênin - hệ tư tưởng của giai cấp vô sản vào hoàn cảnh của Việt Nam.

Quá trình hoạt động cách mạng, sự kế thừa, học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm từ quá khứ, lịch sử, truyền thống dân tộc; sự thể nghiệm cuộc sống với nhiều hoàn cảnh, nhiều nền văn hóa; sự sáng tạo và tiếp biến văn hóa đã đem lại cho Người những chiêm nghiệm về cuộc đời, về con người, về số phận, thấu hiểu nhân tình và nỗi đau nhân thế để rồi Người tự thể hiện mình trên tất cả các cung bậc, phương diện cuộc sống một cách giản dị, lão thực, hiền minh, hài hòa, tự nhiên nhất. Nét văn hóa giản dị, gần gũi, cởi mở, tế nhị đó đã làm cho tất cả mọi người, dù khác nhau về địa vị, thành phần xuất thân, mục đích, điều kiện hoàn cảnh giao tiếp song khi tiếp xúc với Người, đều có chung cảm nhận về sự nể trọng, tôn kính bởi sức cảm hóa to lớn xuất phát từ đạo đức, nhân cách và phép ứng xử văn hóa của Người.

Trong hành trình hướng đến tương lai, Hồ Chí Minh không chỉ chịu ảnh hưởng và mang theo mình những giá trị truyền thống của dân tộc, quê hương mà còn tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, góp phần quan trọng vào việc sáng tạo một nền văn hóa Việt Nam hiện đại.

Như vậy, có thể khẳng định rằng chính quê hương xứ Nghệ - vùng đất anh hùng cách mạng, nơi kết tinh truyền thống đấu tranh kiên cường, đi đầu dậy trước, lao động cần cù, tôn sư trọng đạo, hiếu học và khoa bảng là cơ sở tạo nên cốt cách vĩ nhân của Người.

Nhân cách Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh và tỏa sáng những giá trị tốt đẹp của văn hóa xứ Nghệ

1. Đó là ý chí, nghị lực chưa bao giờ bị khuất phục, đức tính cần cù, sự quyết tâm phi thường, sự rèn luyện không mệt mỏi để chiến thắng chính mình, vượt qua mọi khó khăn để thành công

Suốt mấy chục năm hoạt động khắp thế giới, Người làm đủ mọi nghề. Làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Tréville, làm lụng vất vả từ 4 giờ sáng, quét dọn nhà bếp lớn, đốt lò khuân than, xuống hầm lấy rau, thịt cá... Phải vác nặng hàng hóa từ dưới hầm tàu lạnh giá lên bếp lửa nóng nực qua những bậc thang khi tàu luôn tròng trành vì sóng biển để phục vụ nấu ăn cho hàng trăm người..., mãi 9h tối mới xong việc, nhưng Người vẫn đọc sách, học ngoại ngữ, vẫn học được văn hóa và chính trị đến tận nửa đêm. Sang Pháp, Người lại sang làm thuê cho một con tàu khác đi vòng quanh châu Phi. Nhờ vậy, Người đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Algeria, Tunisia, Congo, Senegal... Để sống và học hỏi, Người đã làm nhiều nghề khác nhau: đi ở, làm vườn ở Saint - Adresse; thủy thủ, bồi trên tàu biển đi vòng quanh châu Phi; bồi bàn ở nước Mỹ, thợ đốt lò, cào tuyết ở nước Anh; làm phụ bếp ở khách sạn Drayton Court, Tây London. Thợ làm bánh ở khách sạn Carlton, London; thợ ảnh, vẽ chao đèn, vẽ đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa, bán rượu rum đồng thời làm báo, là tuyên tuyền viên cách mạng ở Pháp... Trong lao động, Người vẫn miệt mài tập viết từng mẩu tin đến làm chủ bút, chủ nhiệm tờ báo “Le Paria” (Người cùng khổ). Năm 1943, bị Quốc dân Đảng bắt giam hơn 14 tháng, trải qua 30 nhà lao, lúc được tự do thì sức khỏe đã già yếu, nhưng Người vẫn quyết tâm rèn luyện sức khỏe bằng mọi cách, tập lết từng bước tập đi bộ, leo núi để hồi phục sức khỏe, về nước lãnh đạo cách mạng. Người xông pha nơi trận mạc, trèo núi, ngủ hang, ra tù vào tội cũng vì sự nghiệp cách mạng cao cả. Người đồng cam cộng khổ cùng nhân dân, cùng bộ đội, dân quân, du kích, chia sẻ buồn vui, chấp nhận cuộc đối đầu lịch sử. Với cương vị lãnh tụ của Đảng, dân tộc, Chủ tịch Hồ chí Minh đã ngày đêm suy nghĩ tìm tòi mọi phương cách đánh thắng mọi mưu đồ thâm sâu, hiểm độc của kẻ thù, từng bước đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

2. Đó là lòng trung thành, yêu nước, ngay thẳng và chính trực

Truyền thống cần cù lao động, anh dũng chiến đấu trong dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, sống có tình, có nghĩa, nhân ái của con người xứ Nghệ đã trở thành động lực, sức mạnh, đạo lý làm người, niềm tự hào của người dân xứ Nghệ. Truyền thống đó đã hun đúc nên con người Nghệ An với những đức tính nổi bật như: cương trực, khảng khái, dám xả thân, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn, dám nhìn thẳng vào hiểm nguy, không chịu khuất phục trước mọi uy vũ, quyền lực. Đây cũng chính là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng, là cơ sở cốt yếu để Người theo đuổi mục tiêu hạnh phúc của nhân dân. Cả cuộc đời hoạt động, cống hiến cho cách mạng, cho Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ theo đuổi một mục tiêu là hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, tận tụy và yêu thương nhân dân luôn là phương châm sống của Người. Thời gian hoạt động ở Pháp, khi được hỏi tại sao bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, Người trả lời “Rất giản đơn, Đệ tam quốc tế nói sẽ giúp đỡ dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập. Vì vậy tôi đã bỏ phiếu tán thành. Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn” [1]. Năm 1944 ở Liễu Châu, tuy được ra khỏi nhà tù nhưng Người vẫn bị quản thúc vì Quốc dân Đảng không muốn thả một lãnh tụ cộng sản về nước, Người đã nói với tướng Trương Phát Khuê “Tôi là người cộng sản, nhưng điều mà tôi quan tâm hiện nay là độc lập và tự do của nước Việt Nam” [2]. Cho đến những năm tháng cuối đời, Người viết lại trong di chúc “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” [3]

3. Luôn nêu cao tấm gương đạo đức, lối sống giản dị, mẫu mực, trong sáng

Điều kiện, hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn đã tạo cho người Nghệ đức tính cần, kiệm, giản dị, trong sáng, mộc mạc. Đây có thể nói là nét đẹp truyền thống, là di sản văn hóa đặc sắc, tạo nên một đặc điểm nổi bật nhất, đậm đà nhất và giàu bản sắc nhất của con người nơi đây. Tố chất đặc biệt đó được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy, tạo thành đỉnh cao của nhân cách đạo đức, lối sống thanh cao, giản dị, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Trong quá trình tìm đường cứu nước, qua bao nhiêu cảnh phồn hoa của các nước phương Tây, Hồ Chí Minh vẫn không hề bị cám dỗ, lôi cuốn vào cuộc sống vật chất sang trọng mà vẫn kiên định với cuộc sống vật chất, tinh thần giản dị, giữ vững khí tiết yêu nước, thương dân, kiên định với mục tiêu và lý tưởng cách mạng đến cùng. Cả khi trở thành Chủ tịch nước, Người vẫn giữ cuộc sống giản dị, lối sống dân dã, gần gũi mộc mạc, đơn sơ. Vẫn tiết kiệm mọi thứ với phương châm cần thiết thì mới dùng, đúng mức điều kiện hoàn cảnh cho phép, không lãng phí, xa hoa, hình thức, phô trương. Sau khi giải phóng Thủ đô năm 1954, từ chiến khu về, Người từ chối ở tại Phủ toàn quyền cũ mà dọn đến căn buồng của một người thợ điện thiếu gió và ánh sáng, mùa hè nóng như nung. Đến năm 1958, theo yêu cầu giản tiện - nhanh gọn - tiết kiệm của Người, một nếp nhà đơn sơ đã được dựng lên bên cạnh bờ ao, ngôi nhà ấy đã đi vào lịch sử là nơi quy tụ những gì giản dị mà vĩ đại nhất của một vị lãnh tụ. Nhà thơ Cuba Phêlích Roodrighết đã nhận xét rằng: Có lẽ phải nói đó là tinh thần chí công vô tư. Người chỉ sử dụng cho mình những gì tối cần thiết, chứ không phải là bất cứ cái gì cần thiết. Chiếc gường, tủ quần áo, chiếc bàn, chiếc ghế, cái giá sách. Những thứ cần cho công việc và nghỉ ngơi để lấy lại sức làm việc. Chỉ có thế thôi, không có gì hơn nữa. Chí công vô tư. Đó là việc lãng quên đi tất cả mọi điều có thể làm trở ngại cho tinh thần phục vụ không điều kiện và không chút mặc cả của Người.

Không chỉ là nơi ăn chốn ở mà phong cách, lối sống của Người cũng rất đỗi bình dị, thân quen, không chút đặc quyền của một vị Chủ tịch nước. Đến thăm đồng bào, Người cũng lội xuống ruộng đạp guồng nước cùng bà con; vẫn bộ quần áo nâu sờn, vẫn đôi dép cao su giản dị ấy, Người đã sống một cuộc đời thanh cao, đẹp đẽ. Nhà báo David Stamp của Mỹ đã viết trong cuốn sách “Hồ” (1971) rằng “Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này - hơi giống Ganđi, hơi giống Lênin, hoàn toàn Việt Nam. Đối với dân tộc mình và đối với cả thế giới, ông là hiện thân của một cuộc cách mạng. Thế nhưng, đối với hầu hết nông dân Việt Nam, ông là biểu tượng của cuộc sống, hy vọng, đấu tranh, hy sinh và thắng lợi của họ. Ông là một người Việt Nam lịch sự, khiêm tốn, hòa nhã và không màng địa vị… Tính giản dị của ông Hồ là một sức mạnh. Địa vị càng cao, ông càng giản dị và trong sạch. Ông Hồ không cố tìm cho mình những trang sức quyền lực vì ông tự tin ở mình và ở mối quan hệ của ông với Nhân dân, với lịch sử”[4]. Tuần báo Pari đã từng nhận xét “Sự ăn ở giản dị đến cực độ như một nhà ẩn sĩ - đó là đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [5]

4. Quyết đoán, tự tin nhưng mềm mại, nhẹ nhàng

Trong gian khó, khắc nghiệt của tự nhiên đã hình thành nên tinh thần đồng cam cộng khổ, đoàn kết, yêu nước, thương dân của con người xứ Nghệ. Tình thương yêu mà họ giành cho nhau là sự chân thành của những người lao động bình dị, chân quê, giàu lòng vị tha, “trọng tình làng nghĩa xóm”, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Truyền thống văn hóa ấy được kết tinh và tỏa sáng trong con người Hồ Chí Minh. Người là kiểu mẫu, điển hình cho một phong cách, văn hóa ứng xử với mọi mối quan hệ, mọi việc, mọi người một cách hài hòa, tự nhiên, chân thành, vị tha, khiêm nhường, nhân ái và khoan dung. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn có các phương pháp tinh tế và phù hợp để giải quyết những vấn đề cụ thể, cứng rắn và kiên định về nguyên tắc nhưng mềm mại và uyển chuyển trong giải pháp, thận trọng nhưng kiên quyết, bình tĩnh nhưng khẩn trương, sâu sắc lý luận nhưng rất thực tiễn. Thể hiện rõ ở chiến lược “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cách mạng Tháng Tám thành công nhưng chính quyền non trẻ gặp muôn vàn khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong, giặc ngoài, thiên tai, đói, dốt. Nhưng với chiến lược và sách lược tài tình, Người đã tận dụng mọi mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng, lúc thì nhân nhượng với Pháp để đuổi Tưởng; lúc thì hòa hoãn với Tưởng để rảnh tay chống Pháp, dành thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Phương châm “chúng ta sẵn sàng nhân nhượng để có một giải pháp chung. Song, độc lập quốc gia và tự do dân tộc thì không được vi phạm”. Người luôn đứng trên đỉnh cao của sự hiểu biết, nắm chắc tình hình của mình, của đối phương, tìm thế mạnh của mình, điểm yếu của đối phương, dựa vào chính nghĩa của cách mạng, mềm dẻo “biết người, biết ta”. Đối với quân Tưởng, bằng những kinh nghiệm của nhà hoạt động chính trị lão luyện, Người có cách ứng xử mềm mỏng, nhưng giữ vững nguyên tắc “chia ghế, không chia quyền”. Về phương diện đoàn kết quốc tế, Người luôn nêu cao tấm gương tuyệt vời về tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em”, luôn biểu hiện tình cảm, tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình nhân loại và tiến bộ xã hội. Khi cuộc kháng chiến của nhân dân Triều Tiên thắng lợi, Người đánh giá: “Kháng chiến Triều Tiên thắng lợi. Đó là thắng lợi của phe ta. Thắng lợi của anh em ta tức là thắng lợi của ta”[6]. Trong chuyến thăm Liên Xô năm 1955, khi nói chuyện với các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, Người thân tình nói rằng: “Tuy Việt Nam và Liên Xô cách nhau hàng ngàn dặm nhưng trái tim chúng ta luôn luôn ở bên nhau và đập chung một nhịp”[7]. Ngay cả với kẻ thù, khi họ đầu hàng, Hồ Chí Minh đối xử với họ rất khoan dung, độ lượng. Năm 1950, khi thăm trại tù binh trong chiến dịch Biên Giới, chứng kiến một đại úy quân y Pháp đang rét run vì lạnh, Người đã cởi chiếc áo khoác của mình trao cho người đó khiến anh ta hết sức cảm động.

Hồ Chí Minh vừa là nhà chính trị sáng suốt vừa là nhà thơ mẫn cảm, sâu sắc. Đó chính là sự hòa quyện, kết đọng của sự thông tuệ dân gian; sự thông minh, tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa xứ Nghệ, văn hóa Việt Nam. Phong cách của Người luôn khẩn trương như một chiến sĩ, lại thanh thản như một triết gia, mềm dẻo mà cương nghị, cao cả mà thiết thực, vô cùng giản dị mà lại rất mực thanh tao, quan tâm cái lớn, không quên cái nhỏ, thấy rừng và thấy cả từng cây. Tất cả những điều đó hình thành nên tính quyết đoán, lòng chân thành, nhân cách đẹp, kiến thức và tầm nhìn quốc tế sâu sắc, sức cuốn hút vô song, khả năng hoạt động nổi bật và lòng chính nghĩa hào hiệp trong nhân cách Hồ Chí Minh.

Người Nghệ hôm nay đang sống trong nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức đa chiều, đa phương, toàn cầu hóa nên cần có nhiều cởi mở, mềm dẻo, uyển chuyển, để vượt qua cái nghèo”, “cái khó”. Vì vậy, chúng ta học Bác không chỉ là sự cần cù, chịu khó, tự lực, tự cường, mà còn là trình độ tư duy, sự chủ động, nhạy bén nắm bắt thông tin, đánh giá tình hình, năng động, sáng tạo trong cuộc sống, trong công việc, trong thực tiễn. Chúng ta học Bác, không chỉ đoàn kết tương thân, tương ái mà còn phải biết hòa nhập, biết vận dụng, tiếp thu linh hoạt để tìm biện pháp thích hợp, tạo niềm tin trong phương thức đối nội, đối ngoại, nhằm phát huy điểm mạnh, lợi thế của mình. Người Nghệ học Bác cũng là tự phát huy những giá trị tốt đẹp, truyền thống, đức tính vốn có của mình để khẳng định bản thân, để hội nhập và phát triển.

Chú thích:

* Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An

[1], [2], [4], [5] Đỗ Hoàng Linh, Hồ Chí Minh - nhân cách thời đại (2005), Nhà xuất bản thanh niên, tr.145; tr.146; tr.146- 157; tr.150- 151; tr.149

[3], [6]  Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.165; tập 12, tr.527; tập 7, tr.131.

[7], Theo Văn Trang trong " Nhớ  Hồ Chí Minh"- Nxb Hồng Công 2009, tr.144

Sửa lần cuối vào Thứ bảy, 11 Tháng 12 2021 05:25

Tìm kiếm


Thống kê truy cập

84350126
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần qua
Tháng này
Tháng qua
Tất cả
11671
41444
182235
3844468
1638549
1827864
84350126

IP của bạn: 54.174.225.82
2022-01-27 05:14