Văn hóa Nghệ An

Chủ tịch Hồ Chí Minh ( Ảnh Tư Liệu)

Không chỉ là người sáng lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn xây dựng và rèn luyện Đảng ta thành một Đảng kiên cường, trong sạch, vững mạnh. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là bước ngoặt lịch sử vĩ đại, là mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Khát vọng phát triển của một dân tộc là sự cộng hưởng những khát vọng đổi mới vươn lên của cộng đồng, của con người cùng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn, sống động và sức mạnh vô song. Đó chính là động lực trung tâm, nguồn cảm hứng mạnh mẽ, khơi dậy khát vọng phát triển của một quốc gia - dân tộc trên con đường đi tới tương lai.

Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại - đây không phải là khẩu hiệu suông mà là tình cảm trở thành máu thịt, ăn sâu vào con tim khối óc của cán bộ, đảng viên và từng người dân và cả dân tộc dành cho Đảng và Bác kính yêu. Đảng không phải là thần thánh. Đảng từ Nhân dân mà ra, Đảng là tai là mắt, là linh hồn của dân tộc Việt Nam hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Ngọn cờ Đảng có sức mạnh cội nguồn từ thuở vua Hùng dựng nước, có khí phách của Lý Thường Kiệt “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, có tư tưởng lấy dân làm gốc từ “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, có hào khí Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội ngàn năm linh thiêng và hào hoa và đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho mọi người dân Việt Nam.

Đối với Bác Hồ, lịch sử vẫn mãi khắc ghi: Từ lúc người thanh niên mảnh khảnh thuở ấy với tên là Văn Ba rời bến cảng Nhà Rồng năm 1911, mang theo sự đau thương tột cùng khi dòng máu con cháu Lạc Hồng đang làm thân phận nô lệ, nhân dân Việt Nam sống rên xiết dưới gót giày xâm lược của đế quốc và phong kiến tay sai. Người ấy chính là Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc, sau bao năm trời bôn ba tìm đường cứu nước từ Paris đến New York, Luân Đôn, Matxcơva, đã tìm được hạt giống đỏ “chiếc cẩm nang thần kỳ” - chủ nghĩa Mác - Lênin để giải phóng dân tộc bị áp bức, xây dựng nền độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh - người sáng lập Đảng ta, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là người Việt Nam yêu nước, khát khao độc lập, tự do. Năm 1924, Người rời nước Nga Xô viết đến Quảng Châu (Trung Quốc) hoạt động. Hạt giống đỏ cách mạng được nẩy mầm từ đây. Nguyễn Ái Quốc đã tích cực xây dựng và tổ chức gặp gỡ và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin cho các thanh niên Việt Nam yêu nước. Từ mảnh đất Hương Cảng, ngày 03-02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức thành lập. Trong trứng nước, những người con ưu tú của Đảng đã thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng “Đảng đã cho tôi lẽ sống niềm tin, giữa biển khơi biết đâu là bờ/Bầu trời xanh chưa thấy bao giờ”.

92 năm qua, từ khi Đảng ra đời, Đảng như ánh mặt trời soi sáng con đường đi lên của dân tộc Việt Nam. 92 năm ấy, ngọn hải đăng của biển vẫn định hướng vững vàng cho con thuyền vượt sóng trùng khơi. Đảng đã trở thành lực lượng tiên phong của giai cấp công nhân “Đảng ta muôn vạn công nông/Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin”. Vì niềm tin tất thắng của cách mạng Việt Nam, vì niềm tin về một đảng cầm quyền chân chính nhất mà những người cộng sản bất chấp gông cùm, bất chấp xà lim, bất chấp máy chém, liên tục đấu tranh để giành thắng lợi cuối cùng.

Mỗi chặng đường của Đảng đều gắn bó với dân tộc. Những địa danh lịch sử, như: Ngã ba Đồng Lộc, Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang Trường Sơn, nhà tù Côn đảo, Phú Quốc, Hỏa Lò... không chỉ trở thành địa chỉ đỏ trong lòng người Việt Nam mà còn trở thành nơi linh thiêng, thức tỉnh lương tri nhân loại. Tất cả đã chứng minh hùng hồn rằng: Nhân dân Việt Nam “sống cùng Đảng, chết không rời Đảng”, “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập ấy”[1]Bởi vì, “Đảng là một ngôi sao sáng/Sáng nhất trong muôn vì sao giữa trời tối đêm mịt mùng”.

Dưới ánh sáng soi đường của Đảng, dân tộc Việt Nam đã rũ bùn đứng dậy sáng lòa, làm nên một “Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Lịch sử nhân loại không bao giờ quên ngày 30-4-1975, ngày miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc - Nam sum họp một nhà... Tiếp theo là một bước đột phá đầy sáng tạo, đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI do đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư đã xóa bỏ hoàn toàn cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, đưa con người Việt Nam nhanh chóng vận hành theo cơ chế thị trường. Người dân Việt Nam bao nhiêu năm trời lầm lũi một nắng hai sương với đòn tre chín dạn đôi vai nay đã thành thạo điều khiển máy cày, máy gặt và cùng nhau ngồi bàn chuyện “Tam nông”. Không có hạnh phúc nào hơn Việt Nam từ một nước phải nhờ bạn bè viện trợ lương thực nay đã thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới.

Những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, trước hết được bắt nguồn từ đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn; sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự hy sinh quên mình của biết bao đồng bào, đồng chí. Nhìn lại những chặng đường lịch sử cách mạng Việt Nam, một điều chúng ta không thể phủ nhận được là Đảng đã phát huy vai trò lãnh đạo, từng bước trưởng thành trong vận dụng đường lối, chủ trương và phương pháp cách mạng; năng động sáng tạo, luôn đi sát quần chúng, biết rút kinh nghiệm và sửa chữa sai lầm một cách kịp thời, trở thành cuộc sống của “tôi” - chúng ta.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 35 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử - “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay[2]. Điều đáng nói là, chúng ta đổi mới trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chiến tranh và xung đột vũ trang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới; hình ảnh một nước Việt Nam ổn định về chính trị, vượt qua khủng hoảng về kinh tế, đẩy lùi lạm phát, cải thiện một bước rõ rệt đời sống Nhân dân đã hình thành đậm nét, giúp cho bạn bè và các nước trên thế giới nhìn nhận một thực tế sinh động, nhất là đường lối đối ngoại thông thoáng rộng mở đã thu hút nhiều nước vào đầu tư phát triển ở Việt Nam. Những kết quả quan trọng đó có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, và khẳng định rằng, chúng ta đang hành động đúng quy luật, đang đi đúng hướng; là những minh chứng sinh động, cụ thể cho bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta, khẳng định khả năng, vai trò, vị trí tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, thể hiện sâu sắc niềm tin của Nhân dân ta đối với Đảng. Đặc biệt hơn, từ đầu năm 2020 đến nay, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 phức tạp, Đảng ta với đường lối và phương châm đúng đắn, tinh thần “chống dịch như chống giặc”, “bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân là trên hết, trước hết”, tất cả vì hạnh phúc, ấm no của Nhân dân, “không để ai bị bỏ lại phía sau”, chúng ta đã quyết tâm kiềm chế, không để dịch tiếp tục bùng phát và lây lan rộng, nhanh chóng ổn định tình hình mọi mặt ở trạng thái bình thường mới.

Đảng luôn đặt lợi ích của Nhân dân, của dân tộc lên trên hết; luôn quan tâm, chăm lo chu đáo đến đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân lao động. Đồng thời, Đảng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, tinh thần phê và tự phê rất cao, sẵn sàng thừa nhận những thiếu sót, hạn chế của mình và liên tục đưa ra những giải pháp mới để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để Đảng phát triển bền vững. Đó là phẩm chất cao quý của Đảng mà không phải ở Đảng Cộng sản nào cũng có được, không phải ở Đảng Cộng sản nào cũng làm được.

Kể từ khi Đảng nắm quyền trong thực tế, gần 80 năm qua, từ 5.000 đảng viên, số lượng đảng viên chúng ta đã trùng trùng điệp điệp, nhưng để giữ gìn Đảng ta như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”, Đảng cần phải chỉnh đốn thật quyết liệt, bởi không ít những đảng viên đã thoái hóa biến chất làm mất niềm tin với Nhân dân, ảnh hưởng nguy hại đến sự tồn vong của chế độ. Trong chiến tranh, cán bộ, đảng viên đi trước dũng cảm giết giặc thì bây giờ phải đi tiên phong trong đấu tranh tự phê và phê bình, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Dũng cảm để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực sự là “bài thuốc” đặc trị để giải quyết tốt những vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác xây dựng Đảng, nhất là về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng. Quán triệt tốt nội dung nghị quyết sẽ giúp ngăn ngừa sai phạm, giúp mỗi cán bộ, đảng viên nhìn nhận lại bản thân, tự đánh giá mình trong thực hiện nhiệm vụ cũng như rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, tránh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để Đảng mãi mãi là niềm tin, cuộc sống của toàn dân tộc, “Đảng là đạo đức, là văn minh”.

Đảng ta thật vĩ đại! Vì ngoài lợi ích của giai cấp, của Nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác. Điều đó đã khiến cho Đảng ta trở thành linh hồn, mạch máu của dân tộc, đồng nghĩa với Việt Nam; trở thành biểu tượng đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất; giàu sức sống nhất trong những năm qua“Đảng làm nên bài ca chiến thắng cho đất nước và tình yêu/Cho mỗi ước mơ trên đời vui”. Chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta sẽ thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã đề ra.

Hiện nay, với khát vọng đổi mới và phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, đây được coi là cột mốc mở đầu đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với khí thế mới, sức bật mới và một lộ trình rõ ràng để “cất cánh”. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, với đất nước, với một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc. Khát vọng đó sẽ làm cho “non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, làm cho dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”, thực hiện tốt đẹp mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[3]. Tư tưởng, đạo đức, phong cách sáng ngời của Người mãi mãi soi sáng con đường đi lên của dân tộc, là niềm tin vững chắc để Đảng và nhân dân ta tiếp tục con đường đã chọn, xây dựng đất nước ta “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”“ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như sinh thời Bác của chúng ta hằng mong muốn. Đó cũng chính là mục tiêu mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang quyết tâm ra sức phấn đấu để “đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[4], hoàn thành thắng lợi mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đặt ra“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 6, tr. 587.

[2] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2021, tập I, tr. 25.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr. 624.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.36.

Thông tin bổ sung

Bác Hồ đọc thơ chúc Tết năm 1968. Ảnh TL

Cứ mỗi mùa Xuân đến trong lòng chúng ta không khỏi bồi hồi cảm xúc thật thiêng liêng cao quý, cảm xúc ấy vừa có gì đời thường, máu thịt, thân thương vừa tâm linh khát vọng... Ấy là mùa chuyển giao tự nhiên của đất trời từ mùa Đông khí hậu lạnh, khô, băng giá, vạn vật như phải gồng mình lên để tồn tại,... sang mùa Xuân thời tiết ôn hòa, khí hậu ấm áp, hoa cỏ ngập tràn, vạn vật như thoát thai đón một thiên đường của sự sinh sôi phát triển.

Với đất nước, mùa Xuân như có một cái gì đó thật tâm linh luôn gắn Bác Hồ, với Đảng, với Nhân dân, với dân tộc, đó là những mùa Xuân đặc biệt ghi dấu ấn lịch sử của chặng đường cách mạng Việt Nam, tiếp bước lịch sử truyền thống hào hùng vẻ vang của cha ông từ buổi đầu dựng nước.

Chúng ta đều biết, cách đây 93 năm (1930 - 2023), như định mệnh không thể là mùa khác, Bác Hồ đã chọn mùa Xuân năm 1930 khi tình hình cách mạng đã có những bước tiến mới, nắm bắt “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, Bác đã thống nhất được 3 tổ chức cộng sản Việt Nam lại và Ngày 03 - 02 - 1930, Người tổ chức Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là mùa Xuân lịch sử mở đầu cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập cho dân tộc, có Đảng lãnh đạo và người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam là nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, là Bác Hồ của Nhân dân ta.

Đảng ta ra đời vào mùa xuân - mùa xuân của đất nước và dân tộc. Thế là từ bấy đến nay, nhất là từ khi nước nhà độc lập, thống nhất, cứ mỗi lần Tết đến, Xuân sang, Nhân dân ta lại một lần mừng năm mới, mừng xuân, mừng Đảng, mừng đất nước, mừng dân tộc. Những cái mừng ấy hòa quyện với nhau làm một, tạo nên sự linh thiêng, sức mạnh tinh thần to lớn để Tổ quốc đi lên.

Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của Đảng và của dân tộc ta, là hiện thân sáng ngời của cách mạng và kháng chiến, của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến khi Bác đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê nin và các vị cách mạng đàn anh khác, Người đã có 24 năm cùng toàn dân và toàn quân đón Tết, vui Xuân. Năm nào Bác cũng có thư hoặc thơ chúc Tết.

Nếu có ai hỏi trong 24 cái Tết ấy, Tết nào là Tết đặc sắc nhất của Bác, câu trả lời sẽ là: Không! Không thể nói Tết nào là đặc sắc nhất, bởi mỗi cái Tết của Bác đều có nét đặc sắc riêng, không thể nào đo đếm đơn thuần được. Nhưng nếu lựa chọn bất kỳ, xin lấy Tết Quý Tỵ 1953 làm ví dụ thì mùa xuân này, Quý Mão 2023 cách Quý Tỵ 1953 vừa tròn 70 năm.

Quý Mão 2023 là năm thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cũng là năm thứ ba của giai đoạn phấn đấu nước rút, nhằm phấn đấu đến năm 2025 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp.

Còn Mùa Xuân Quý Tỵ 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp của Nhân dân ta đã bước vào năm thứ tám kể từ khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ; là năm chúng ta bắt đầu đẩy mạnh tiến lên chuẩn bị tổng phản công trong giai đoạn tiếp theo. Nhân dịp Tết Dương lịch, ngày 01 tháng 01 năm 1953, Bác Hồ gửi Thơ chúc Tết đến đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Toàn thể chiến sĩ thi đua giết giặc,

Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng.

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,

Độc lập thống nhất, nhất định thành công.

Cũng trong ngày này, Bác tiếp tục dự phiên họp Hội đồng Chính phủ. Tổng kết cuộc họp, Người nêu: Phải có chính sách cán bộ, phấn đấu nâng cao mức sống của cán bộ và các tầng lớp nhân dân. Phải triệt để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Cán bộ phải gương mẫu đi trước; có thưởng, có phạt.

Ngày đầu năm Dương lịch, Bác tiếp và chụp ảnh với đồng chí La Quý Ba cùng các đồng chí nữ trong Đoàn cố vấn Trung Quốc đến chúc mừng Người nhân dịp năm mới.

Hơn một tháng sau, đến Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ cũng có Thơ chúc Tết đăng trên Báo Nhân Dân số 95 (ngày 11 đến ngày 15-2-1953):

Thơ chúc Tết Xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua,

Mừng Xuân Tỵ đã tới.

Mừng phát động nông dân,

Mừng hậu phương phấn khởi.

Mừng tiền tuyến toàn quân

Thi đua chiến thắng mới.

Mừng toàn dân kết đoàn,

Mừng kháng chiến thắng lợi.

Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,

Lực lượng mới, thành công mới.

Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,

Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới.

Nhân dân ta đón Tết Quý Tỵ 1953 khi Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 2) vừa kết thúc thắng lợi. Hội nghị đánh giá tình hình thế giới và trong nước năm 1952 và đề ra nhiệm vụ năm 1953 mà trọng tâm là: Lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân thật vững mạnh và luôn luôn tiến bộ; phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức để tiến đến cải cách ruộng đất.

Nói về tầm quan trọng và ý nghĩa của cải cách ruộng đất, Bác nhấn mạnh: “… Ngày nay, kháng chiến đã 7 năm, đồng bào nông dân hy sinh cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày. Đó là một điều rất không hợp lý. Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”. Trên thực tế, dù có một số sai lầm lệch lạc được Bác Hồ kịp thời ngăn chặn, cải cách ruộng đất đã thu được kết quả to lớn. Hàng triệu nông dân có ruộng, đời sống được cải thiện, kháng chiến có thêm sức mạnh.

Đồng thời, từ đầu năm 1953, với bút danh Đ.X, Bác viết một loạt 50 bài thường thức về chính trị đăng trên Báo Cứu Quốc. Nội dung các bài viết là những vấn đề lý luận chính trị cơ bản, đi sâu chủ đề công tác xây dựng Đảng, xây dựng lý tưởng và niềm tin cho cán bộ, đảng viên để vượt qua gian khổ, hy sinh nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước Tết, quân ta đã kết thúc thắng lợi Chiến dịch Tây Bắc: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của Pháp, giải phóng một phần đất đai, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Rồi sau Tết ba tháng, liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ. Nhờ vậy, căn cứ kháng chiến Thượng Lào nối liền với vùng Tây Bắc, tạo một thế mạnh uy hiếp quân Pháp.

Đầu tháng 3 năm 1953, Bác Hồ chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ. Bác phát biểu tổng kết phiên họp, nhấn mạnh: Phiên họp đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là chính sách ruộng đất. Song chúng ta không được chủ quan, phải có quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.Có thể nói, Xuân Quý Tỵ 1953, với những câu thơ chúc Tết ngắn gọn, lời thơ mộc mạc, súc tích, gần gũi thân quen nhưng chứa đựng tư duy đổi mới về xây dựng Đảng, một chủ trương lớn của Đảng trong giai đoạn quyết chiến chiến lược: Đẩy mạnh phản công đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, chấm dứt cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của dân tộc ta sau những tháng năm giành được độc lập dân tộc. Lời và từng ý thơ của Bác luôn thể hiện tinh thần quyết tâm, niềm lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, kiến quốc “Kháng chiến, kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công”.

Xuân Quý Tỵ 1953 cũng như mọi mùa xuân khác, trước đó cũng như sau này, Bác Hồ luôn hết lòng chăm lo cho đất nước, cho dân tộc, cho Đảng, cho công việc và cho mỗi con người.Chủ tịch Hồ Chí Minh là vĩ nhân đã in đậm dấu ấn vào lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại. Dù đã mãi mãi đi xa, nhưng hình ảnh giản dị, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Người luôn sống mãi trong trái tim các thế hệ người Việt Nam và bè bạn quốc tế. Mùa Xuân với Bác Hồ là cả những biển trời rộng lớn, bao la, khát vọng cho đất nước thanh bình, phát triển, dân tộc trường tồn rất đáng trân trọng, tự hào.

Xuân Quý Mão 2023 năm nay, cũng như bao mùa xuân khác từ khi Người về cõi vĩnh hằng, chúng ta vẫn thấy như luôn có Bác bên mình. Mong xuân này sẽ khởi đầu một năm mới đầy khởi sắc. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng bộ máy lãnh đạo và quản lý tinh gọn, hiệu quả sẽ gặt hái thêm nhiều kết quả mới; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được đẩy mạnh, để vườn xuân đất nước ngày càng nảy lộc, đơm hoa, kết trái, dân tộc trường tồn.

 

(Bài đã đăng VHTT Nghệ An số Tết Quý Mão 2023)

Thông tin bổ sung

Thứ tư, 25 Tháng 1 2023 00:16

Mùa Xuân nhớ Bác

Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây (nay là Hà Nội) ngày 16/2/1969. Ảnh: TL

Mỗi độ xuân sang, thời khắc giao hòa của đất trời với bao cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa của những khởi đầu mới với bao ước mơ và hy vọng. Đối với mỗi người dân Việt Nam, mùa xuân không chỉ là thời khắc chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, mà còn gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Vì thế, hàng năm, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, cả nước nô nức đón chào năm mới, mừng Đảng ta thêm tuổi mới, Nhân dân ta, lại càng thêm nhớ đến Bác Hồ - Người đã dành cả cuộc đời mình tô thắm cho những mùa xuân đất nước.

Nhớ về mùa xuân của 93 năm về trước, Xuân Canh Ngọ năm 1930 - khi đất nước đang chìm đắm trong màn đêm nô lệ, tại Hương Cảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, trực tiếp sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là một mốc lớn, là bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước. Từ mốc son ấy, cả dân tộc đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng lập nên những kỳ tích vang dội. Sự ra đời của Đảng là kết quả của những tháng năm người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành bôn ba tìm đường cứu nước và chuẩn bị kỹ lưỡng những điều kiện cho việc thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Kể từ đó, mùa xuân và Đảng như quyện chặt nhau. Mùa xuân cho ta cuộc sống mãi xanh tươi, đó là tình cảm thiêng liêng, sâu thẳm của mỗi con Lạc cháu Hồng đất Việt. Còn Đảng cho ta những mùa Xuân tự do, hạnh phúc. Cụm từ “Mừng đảng - Mừng Xuân” đã trở nên quen thuộc đối với mỗi người dân Việt Nam mỗi độ Tết đến xuân về.

Cũng vào mùa xuân năm 1941 (ngày 28/1/1941 tức Mùng 2 Tết Nguyên đán năm Tân Tỵ), sau 30 năm xa Tổ quốc, Bác Hồ qua cột mốc 108 biên giới Việt - Trung về Việt Nam. Bác về nước đúng vào mùa Xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:

 Ôi sáng xuân nay, Xuân 41

 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

 Bác về… Im lặng. Con chim hót

Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…

Bác về nước - là một sự kiện lớn trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Việt Nam, từng bước đưa dân tộc Việt Nam đi tới những mùa Xuân thắng lợi.  Đó là mùa xuân lần thứ hai, lịch sử lại gắn Bác với Đảng, với vận mệnh của dân tộc.

Một năm sau, Tết Nhâm Ngọ 1942, tại hang Cốc Bó, Bác đã làm bài thơ chúc năm mới đầu tiên in trên báo Việt Nam độc lập số 114, ngày 01-01-1942. Bài thơ có 10 câu, ý tưởng về lá Quốc kỳ đã được tượng hình:

Chúc toàn quốc ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!/Năm này là năm rất vẻ vang/Cách mệnh thành công khắp thế giới.

Mùa Xuân Bính Tuất năm 1946, là mùa xuân độc lập đầu tiên của nước ta sau hơn 80 năm bị đô hộ. Mặc dù bận trăm công ngàn việc của một chính quyền còn non trẻ, đối phó với thù trong giặc ngoài, giặc đói, giặc dốt, nhưng Người vẫn dành thời gian để viết thư, làm thơ chúc Tết và đi chúc Tết một số gia đình nghèo tại Hà Nội, trong thư gửi cho thanh niên và nhi đồng ngày 20/01/1946 Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bác còn khuyên bảo thanh niên “Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước VNDCCH”. Người còn viết “Thư chúc mừng năm mới” toàn thể đồng bào, được đăng toàn văn trên Báo Cứu Quốc (ra ngày mùng 3 Tết). Trong thư Người kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng tổ tiên, thì các chiến sỹ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sỹ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc... chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”. Và cuối thư Bác viết mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: 

“Trong năm Bính Tuất mới

Muôn việc đều tiến tới

Kiến quốc mau thành công

Kháng chiến mau thắng lợi

Việt Nam độc lập muôn năm”.

Ngoài ra, Bác còn viết thơ chúc Tết phụ nữ Việt Nam in trên báo Tiếng gọi phụ nữ; thư chúc Tết Việt kiều ở Lào, Xiêm; thơ chúc Tết báo Quốc Gia của các cụ nhân sỹ yêu nước Hà Nội: 

Tết này mới thật Tết dân ta

Mấy chữ chào mừng báo Quốc Gia

Độc lập đầy vơi ba cốc rượu 

Tự do vàng đỏ một rừng hoa.  

Sau mùa xuân độc lập đầu tiên của dân tộc, xuân Bính Tuất 1946, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, và năm nào Bác cũng làm thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Mỗi năm cứ đến khoảnh khắc giao thừa, Nhân dân khắp ba miền đất nước lại hồi hộp, xúc động chờ đón “phút thiêng liêng lắng nghe thơ Người”. Những vần thơ chúc Tết, chào đón mùa xuân của Bác luôn gieo vào lòng mọi người niềm tin thắng lợi của ngày mai, đó cũng là biểu hiện của tinh thần lạc quan cách mạng của người cộng sản. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã nói: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi/Thống nhất độc lập nhất định thành công”. Chiến dịch Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa xuân năm 1954. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. 

Xuân Kỷ Dậu năm 1969, Bác Hồ gửi thơ chúc Tết đồng bào, đồng chí bằng tất cả tình cảm, sự quan tâm, chia sẻ, động viên chân thành nhất. Đây cũng là bài thơ chúc Tết cuối cùng Bác gửi toàn dân, toàn quân ta: “Nǎm qua thắng lợi vẻ vang/Nǎm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/Vì độc lập, vì tự do/Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào/Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn!”. 

Lời thơ đã khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc ta. Đúng 6 năm sau, cũng vào mùa xuân - năm 1975, với “Chiến dịch Hồ Chí Minh” lịch sử, Nhân dân ta đã thực hiện trọn vẹn lời mong ước cuối cùng của Bác trước lúc đi xa: Giải phóng hoàn toàn miền Nam, non sông thu về một mối, Bắc - Nam sum họp một nhà. 

Mùa xuân nối tiếp những mùa xuân, mấy chục năm qua, vững bước theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta tiếp tục gặt hái được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực. Sau 35 năm Đổi mới, mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một đất nước có nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chúng ta đã chuyển sang nền kinh tế đa dạng, có tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ ngày càng lớn và cân đối trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Quy mô nền kinh tế đạt trên gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người hơn 3.700 USD năm 2021; quy mô thương mại đạt 670 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao[1]. Đặc biệt, năm 2022 vừa qua, nước ta đã thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh Covid 19, vừa thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội: kinh tế vĩ mô duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát. Theo số liệu do Tổng cục Thống kê công bố ngày 29/12/2022 cho thấy, ước tính GDP năm 2022 của Việt Nam tăng 8,02% so với năm 2021 - vượt mục tiêu đề ra (6 - 6,5%), đây là mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2011-2022. Theo Báo cáo thường niên “Nền kinh tế số Đông Nam Á” lần thứ 7 do Google, Temasek và Bain & Company công bố, nền kinh tế số của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất tại khu vực Đông Nam Á với tổng giá trị hàng hóa dự kiến tăng 28%, đạt mức 23 tỷ USD trong năm 2022.[2]

Quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế của Việt Nam tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khung quan hệ ổn định, bền vững với các đối tác cả ở cấp độ song phương và đa phương, trên cả ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”… 

Một mùa xuân mới lại về trên khắp Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã gặt hái nhiều thành công nhưng còn nhiều gian khó, nhưng chúng ta tin tưởng vững chắc rằng: đi theo con đường của Đảng và Bác Hồ đã chọn, chúng ta sẽ đến với bến bờ vinh quang…

 


[1] https://dangcongsan.vn/doi-ngoai/viet-nam-da-dat-duoc-nhung-thanh-tuu-to-lon-co-y-nghia-lich-su-625287.html

 

[2] https://dangcongsan.vn/kinh-te/10-su-kien-kinh-te-noi-bat-nam-2022-628951.html

Thông tin bổ sung

Tìm kiếm


Thống kê truy cập

113625983
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần qua
Tháng này
Tháng qua
Tất cả
28595
73144
274208
33410143
430121
2267728
113625983

IP của bạn: 35.175.119.198
2023-02-08 16:46