Tạp chí Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Sự nghiệp văn học Đinh Hùng (II)

CHƯƠNG 1

ĐINH HÙNG, CUỘC ĐỜI – SỰ NGHIỆP VĂN HỌC
                VÀ VẤN ĐỀ VĂN BẢN TÁC PHẨM

1.1.Cuộc đời

          Bạc mệnh hữu duyên lưu giản tịch,

          Tàn hồn vô lệ khốc văn chương.

                   (Điệp tử thư trung)

          Dịch nghĩa: Mệnh tuy bạc nhưng cũng phải có duyên mới lưu lại được với sách. Hồn tàn không có nước mắt mà khóc văn chương.

Chúng tôi xin mượn hai câu thơ trên của Tố Như để nói về cuộc đời của Đinh Hùng.

          Đinh Hùng sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại trang trại Trung Phụng, làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Ông bà Phán, cũng còn được gọi là ông bà Hàn, sinh được bốn người con, Đinh Hùng là con út, sau anh cả Đinh Lân và các chị Loan, Yến, Hồng, Oanh. Riêng chị Đinh Thục Oanh, chỉ hơn cậu em mình một tuổi, là được nhà thơ của chúng ta yêu thương nhất.

          Đinh Hùng học tiểu học ở trường Sinh Từ (Hà Nội), học trung học ở trường Bưởi và đậu Diplôme d’études primaires supérieurs. Ông nổi tiếng là người vẽ giỏi (hầu hết các bìa sách của mình và một số tập thơ của Vũ Hoàng Chương đều do  ông vẽ), thư pháp bay bướm, chơi vĩ cầm và mandolin rất hay.

          Ngay từ nhỏ, Đinh Hùng đã là một đứa trẻ khó tính và sống khép kín. Sống giữa một gia đình đông vui mà ông cứ ngỡ như mình đang ở trên một hoang đảo giữa lòng đại dương. Phải chăng vì thân mẫu đã hoài thai ông ở đảo quốc Philippine trong thời gian thân phụ được bổ nhiệm làm Chánh văn phòng toà Lãnh sự Pháp tại đó từ năm 1918?

          Và, có phải đây là dấu vết còn sót lại trong thơ Đinh Hùng?

          Ngàn năm chưa thoát cơn mê hoảng

          Ta thác sinh vào ngọn hải đăng

          Hỏi bao quần đảo vừa ly tán

          Trần tục là đâu hỡi đất bằng?   

                             (Thoát duyên trần cấu)

          Năm Đinh Hùng 11 tuổi, người chị thứ hai là Tuyết Hồng, một hoa khôi Hà thành, đã tự trầm tại hồ Trúc Bạch vì tình duyên khi mới 18 tuổi. Cái chết của người thiếu nữ tài hoa, thuộc nhiều thơ Pháp, thơ chữ Hán ấy, không chỉ mở đầu cho một loạt cái chết của những người phụ nữ khác sau đó ở Hà Nội mà còn mở đầu cho sự ra đi của những người thân trong gia đình. Mấy tháng sau đó, ông Phán cũng đau nặng rồi từ trần. Và ba năm sau nữa, chị Loan cũng qua đời. Ba cái chết trong khoảng thời gian ngắn đó không chỉ đã gây ra nhiều chấn thương tâm lí cho Đinh Hùng mà còn đẩy ông vào sâu hơn cái thế giới cô đơn, khép kín của bản thân mình. Có lẽ, những mầm mống của ý thức phản kháng, chối bỏ thực tại để tìm đến một thế giới khác đã xuất hiện trong ông vào thời điểm này. Và Vũ Hoàng Chương đã cho rằng: “Cái không khí chết chóc ấy đã ám ảnh vây bọc lấy Đinh Hùng từ năm 11 tuổi để sau này nó bám chặt, bắt rễ vào nguồn cảm bất diệt của thơ Hùng” [32].

          Tuy vậy, sau những mất mát to lớn ấy, Đinh Hùng vẫn cố gắng tiếp tục con đường học vấn của mình. Ông học giỏi, lấy được bằng Cao đẳng Tiểu học, hạng Bình thứ; do đó được học bổng để theo học lên ban chuyên khoa (gồm có đệ nhất, đệ nhị và đệ tam niên) mà chỉ cần tốt nghiệp là sẽ được nhận bằng tú tài bản xứ. Và ngay ở ngưỡng cửa của bậc chuyên khoa trường Bưởi, nàng Kiều Hương, một thiếu nữ Hà thành duyên dáng, xinh đẹp đã xuất hiện, khiến trái tim thi sĩ rung động và để lại nhiều vết dấu trong thơ ông. Rồi, mối tình đầu đơn phương ấy của Đinh Hùng cũng nhanh chóng qua đi. “Nàng thơ” đi lấy chồng, ông cũng không tiếc nhớ. Sau này, khi cho in tập thơ Đường vào tình sử, để tránh gây bất tiện cho Kiều Hương, Đinh Hùng đã cố ý sửa lại thành “Tần Hương”:

          Tần Hương! Ôi, Tần Hương!

          Tên nàng như hoa đẹp

          Chàng là bướm tơ vương

          Nên chàng là Hoài Điệp…

                   Vâng, chàng làm thơ bướm

                   Nàng nhẹ lòng như hoa

                   Chỉ chút tình hôm sớm

                   Chỉ nụ cười thoáng qua.

                             (Tần Hương)

          Một thời gian sau, vì quyết sống theo ý mình, Đinh Hùng đã bỏ học, từ chối làm một viên chức, giao du với nhiều văn nghệ sĩ và tìm đến thuốc phiện để nhập mộng. Ta hãy đọc những câu thơ anh đã viết trong bài Khi mới lớn:

          Ta ném bút, giẫm lên Sầu một buổi,

          Xa vở bài, mở rộng Sách Ham Mê

          Đã từng phen trèo cổng bỏ trường về

          Xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn.

                   Đời đổi mới từ ngày ta dấy loạn

                   Sớm như chiều hư thực bóng hoa hương,

                   Ta ra đi tìm lớp học thiên đường,

                   Và khi đó thì mẹ yêu ngồi khóc…

          Cũng trong khoảng thời gian này mà Đinh Hùng đã gặp và yêu Bạch Liên, cô em họ xa của mình. Đắm say trong tình yêu, anh đã dành tặng người yêu mình những câu thơ đẹp nhất:

          Ý chiều ngây ngất màu hoàng cúc

          Sao mắt thu buồn dáng hạ xa

          Ta nhớ mà thương người xử nữ

          Áo mùa thu đọng sắc kiều hoa

                   Nước cũ rưng rưng màu ngọc trắng

                   Mây ngày xưa tỏ, nguyệt xưa trong

                   Người xưa lẫn dáng tình sương tuyết

                   Riêng cặp môi kia ánh nét hồng.

          Bài thơ có tên là “Liên tưởng”, có nghĩa là “tưởng nhớ tới nàng Liên”.

          “Điều quan trọng nhất là hai người yêu nhau đắm đuối thiết tha, nhưng yêu bằng một mối tình trong trắng tuyệt vọng” [32]. Những tưởng hạnh phúc đã có thể mỉm cười với họ, nhưng không. Một lần nữa, tử thần lại cướp mất đi của Đinh Hùng một người thân yêu. Nàng Liên qua đời vì bệnh phổi. Và chàng thi sĩ gần như đã hoá điên vì đau đớn tột cùng. Hoang mang và tuyệt vọng, chàng đã bỏ Hà Nội mà đi, chẳng mang theo gì ngoài nỗi khổ đau và một tấm hình của Liên : “Liên mất rồi nhưng tôi không chịu tin như vậy. Không. Nghìn lần không. Cái chết của hoa và ánh sáng, nắng và mặt trời, nơi tôi là vĩnh viễn hoài nghi và phủ nhận. Bởi tôi vẫn ghen tuông ghê gớm như khi nàng còn sống. Tấm hình đặt trên một bàn dạy học, tôi sẽ giết chết những kẻ nào động chạm tới. Tôi úp sấp tấm hình xuống cho ngoài tôi, không một kẻ thứ hai được nhìn thấy mặt trời” [96].

          Lúc này cũng là lúc Đinh Hùng viết những bài thơ Chiêu niệm: Gửi người dưới mộ, Tìm bóng Tử Thần, Cầu hồn, Màn sương linh giác… Nàng Liên đi vào thơ anh với nhiều cái tên khác như: Diệu Hương, Diệu Thư, Thần Nữ, Kì Nữ… nhưng cái tên nào cũng là để chỉ Bạch Liên, mặt trời của chàng thi sĩ Đinh Hùng. Và liệu có một nhà thơ nào khác không chỉ xem tử thần là một người bạn mà hơn thế nữa còn xem như một tình  nhân như anh không?...

          Đi đi cho hết dương trần

          Ngày mai tìm bóng tử thần mà yêu.

 (Tìm bóng Tử Thần)

          Từ đây, hơn ai hết, chàng thanh niên Đinh Hùng ý thức được rằng: cái chết sẽ còn đeo bám mình mãi và cần phải chuẩn bị tinh thần để đón tiếp nó.

          Trong những tháng ngày sống cuộc đời của một thi sĩ lang thang, Đinh Hùng đã đi khắp nơi và làm nhiều việc: lúc thì dạy học ở Đan Phượng (Hà Đông), khi thì tham gia một ban nhạc tài tử sinh viên lên tận hồ Ba Bể (Bắc Kạn) để trình diễn. Chắc cảnh quan nơi đây với sóng nước mênh mông, núi rừng hùng vĩ đã gieo mầm “ý thức bộ lạc” vào tâm não Đinh Hùng khiến cho môt dòng cảm hứng mới được khơi nguồn, phát triển song song với hai đề tài Tình YêuCái Chết.

          Nàng lớn lên giữa mùa xuân hoa cỏ

          Nửa linh hồn u ám bóng non xanh.

          Ngoài thiên nhiên nở bừng thân mỹ nữ

          Nàng yêu ta huyền hoặc mối kì tình…          

                   (Người gái thiên nhiên)

Và thêm nữa:

           Bộ lạc ta xưa mất hải tần,

          Buồn nghiêng nội địa, cháy tà huân.

          Đêm thiêng thổn thức hồn du mục,

          Ta vọng lên non tiếng ác thần.. 

                             (Lạc hồn ca)

          Rồi cũng đến lúc Đinh Hùng phải trở về Hà Nội. Lúc này, Đinh Hùng đã kết giao với nhiều bạn ở làng văn như Phiêu Linh Nguyễn Đức Chính, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huyền Kiêu… Chính Phiêu Linh là người đã giới thiệu anh với nhà xuất bản Tân Việt để quyển Đám ma tôi với bút danh Hoài Điệp có thể ra đời vào năm 1943. Còn Thế Lữ thì đã mượn trọn vẹn bài thơ Kì nữ của anh đưa vào truyện Trại Bồ Tùng Linh, khiến cho tên tuổi của chàng thi sĩ họ Đinh càng thêm nổi bật.

          Và không thể không nhắc đến Thạch Lam, người cùng ở một khu ngoại ô Yên Phụ với Đinh Hùng và cũng là người bạn thân thiết của anh kể từ năm 1940. Trong tập tuỳ bút – phê bình Đốt lò hương cũ, Đinh  Hùng đã kể lại như sau:

“(…) Một buổi sáng kia, Thạch Lam đã đến tìm đến với tôi rất tự nhiên, rất bất ngờ, để rồi sau buổi gặp gỡ đầu tiên, anh đã trở nên thân thiết với tôi rất chóng. (…) Anh cho tôi biết: Tình cờ anh đọc được ở một đặc san, giai phẩm không định kì nào đó, một đoạn tuỳ bút hay phiếm luận gì đó của tôi, bàn về vấn đề thưởng thức “quà Hà Nội”, nghĩa là góp thêm ý kiến cùng tác giả “Hà Nội băm sáu phố phường…” Anh lấy làm khoái ở một vài điểm, cho nên anh phải đích thân tới kiếm tôi để thảo luận cho vấn đề thêm sáng tỏ…”[3,tr.37]

          Rồi từ Thạch Lam, Đinh Hùng đã quen biết và nhanh chóng trở nên thân thiết với các nhà văn còn lại trong nhóm Tự Lực văn đoàn.

          Nhưng rồi, một lần nữa, thần chết lại cướp đi mất của anh một người bạn tri âm tri kỉ. Năm 1942, nhà văn Thạch Lam đã mất vì bệnh lao. Nhớ bạn, Đinh Hùng đã viết:

…Tôi với anh giường chung, mộng chung

 Vì duyên thơ mới có duyên lòng,

Anh buồn tự thủa trăng lên núi

 Ấy độ tôi hoài ước lại mong.

     …Trăng nước vô tình, gió đẩy đưa,

     Đường tôi muôn vạn ngả tình cờ.

     Chiêm bao phảng phất, tôi thường gặp

     Cặp mắt anh nhìn, như trẻ thơ…

                             (Gởi hương hồn Thạch Lam)

          Cùng năm, nhà xuất bản Đời nay đã cho in một giai phẩm và chọn đăng bài thơ Bài ca man rợ của Đinh Hùng. Và thế là, “địa vị Đinh Hùng trên thi đàn không một ai còn chối cãi được nữa” [32].

          Cuối năm đó, Đinh Hùng đã giả gái để sắm vai chính Vân Muội trong vở kịch thơ cùng tên của anh rể mình là thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Vở diễn đã được khán giả tại Nhà Hát Lớn Hà Nội tán thưởng nồng nhiệt.

          Năm 1945, Đinh Hùng hợp tác với Đoàn Phú Tứ và một số các nhà văn khác như: Nguyễn Tuân, Lê Trọng Quỹ, Đỗ Đức Thu dựng và tham gia vở kịch Ngã ba.  Ít lâu sau, ông cùng các bạn văn là Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch xuất bản một giai phẩm lấy tên là Dạ Đài.

          Cuối năm 1946, ông tản cư về Chợ Đại, Cống Thần, Hà Nam, viết cho báo Cứu Quốc phục vụ kháng chiến và vẽ tranh cho vài tờ tuần san. Trong những ngày tháng đó, ông đã viết những dòng thơ:

          …Lòng gái rung theo bước lữ đoàn

          Lâu rồi chinh chiến lạnh dung nhan

          Chiêu dương bừng lửa trên gò má,

          Gợn sắc hồng pha mây hợp tan.

                             (Người nữ du kích Hải Kiến)

          Đến năm 1948, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Thanh, rồi đến Thái Bình dạy học. Đầu năm 1950, con trai đầu lòng của ông ra đời. Và cũng ngay trong năm này, gia đình ông đã hồi cư về Hà Nội. Sau đó, ông cho ấn hành giai phẩm lấy tên là Kinh Đô Văn Nghệ. Đầu năm 1954, Đinh Hùng cho công diễn vở kịch thơ Cuộc đời Đức Phật, sau đó gặp Hồ Dzếnh, rồi tập thơ Mê hồn ca được ấn hành. Khi sách vừa in xong thì cũng là lúc cuộc di cư bắt đầu, vì đây là năm mà Hiệp định Genève được kí kết. Thế là, Đinh Hùng phải mang sách vào Nam vừa tặng vừa bán. Và khi vào Sài Gòn, Đinh Hùng đã phải hoạt động nhiều hơn trước để có thể trang trải cho cuộc sống mới. Ông đã cùng Mặc Đỗ, Tam Lang, Như Phong, Mặc Thu làm tờ báo Tự Do; viết tiểu thuyết dã sử để đăng trên nhật báo với bút danh là Hoài Điệp Thứ Lang; làm thơ trào phúng và lấy tên là Thần Đăng; vẽ biếm hoạ…

          Cũng trong năm 1954 này, Đinh Hùng làm Trưởng Ban Tao Đàn trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Và ông chính là người đầu tiên tìm hiểu và phổ biến hình thức “thi nhạc giao duyên”, tức là cứ trình bày một đoạn nhạc rồi sẽ trình bày một đoạn thơ, trên sóng phát thanh trong chương trình Thi nhạc giao duyên. Nhờ sáng kiến kết hợp thơ và nhạc đó của ông mà sau này chúng ta mới có “tân cổ giao duyên”, “cổ kim hoà điệu”… Có thể nói, Đinh Hùng đã góp phần làm cho việc trình diễn thơ có một vị trí xứng đáng so với các loại hình nghệ thuật trình diễn khác. Lúc bấy giờ, các soạn giả cải lương chỉ cần ghi “điệu Tao Đàn” là diễn viên biết chỗ đó phải ngâm thơ. Và mấy ai ở Sài Gòn lúc ấy mà không nhớ lời giới thiệu quen thuộc: “Đây là chương trình Thi nhạc giao duyên phối hợp nhạc và thơ trong một niềm cảm thông hoà điệu”.

          Ngoài ra, Đinh Hùng còn cộng tác với rất nhiều tờ báo, tạp chí như: Ngôn Luận, Sáng Dội Miền Nam, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Bách Khoa, Vạn Hạnh, Lửa Lựu…

          Năm 1961, tập thơ Đường vào tình sử được xuất bản và sau đó được trao Giaỉ thưởng Văn chương toàn quốc về thi ca (1962).

          Những năm sau đó, Đinh Hùng vẫn tiếp tục sáng tác đều đặn, những vở kịch thơ, những tiểu thuyết dã sử (với bút danh Hoài Điệp Thứ Lang) đều ra đời trong khoảng thời gian này.

          Năm 1967, căn bệnh ung thư gan của Đinh Hùng đã vào giai đoạn cuối. Khi đó ông đang chủ biên tờ tuần báo chuyên về thi ca là Tao Đàn Thi Nhân. Báo chuẩn bị ra số thứ hai thì nhà thơ phải nhập viện. Mặc dù bệnh tình nguy kịch nhưng ngay trên giường bệnh, ông vẫn làm việc với sự giúp đỡ của các thân hữu để vài ngày trước khi ông ra đi vĩnh viễn, tờ Tao Đàn Thi Nhân số 2 đã được phát hành. Cầm trên tay tờ báo, ông như quên hẳn cơn đau ngày đêm vẫn hành hạ mình. Và đó là niềm vui cuối cùng của ông.

          Rốt cuộc, lần này Đinh Hùng đã không thắng nổi cái chết. Bốn mươi bảy tuổi, một đời người, một đời thơ đã kết thúc. 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967, ông đã đi vào cơn trường mộng và để lại những khoảng trống không thể lấp đầy trong lòng nhiều người. Sẽ không còn giọng nói “sang sảng trên mục Tao Đàn, cái giọng nói đặc biệt, vang vang mà nhừa nhựa nửa như thoát lên cao cùng mây, nửa như la đà cùng khói”[107] nữa. Sẽ không còn một thi sĩ có dáng người nhỏ bé, có mái tóc dài, có đôi mắt “yểu mệnh”... sống giản dị, không kiểu cách, hút pipe, uống “la-de 33” như “người thường” [107] và trò chuyện thân tình cùng bè bạn. Sẽ không còn những đêm dài ông dùng thuốc phiện để nhập mộng, tạo ra những câu thơ theo lối thần khải. Đinh Hùng đã ra đi mà chưa kịp về thăm Hà Nội, nơi có trại Trung Phụng, có căn nhà nhỏ trong “Ngõ Trâu Vàng”ở ô Cầu Rền, có căn gác như một cái tổ chim ở khu ngoại ô Yên Phụ…và có cả nấm mộ của người yêu. Đinh Hùng đã ra đi và để lại những bản thảo còn dang dở. Đinh Hùng đã ra đi và trở thành “điệp tử thư trung”.

          Phải chăng như Du Tử Lê đã viết: “Sự có mặt của một thi sĩ, có nghĩa, ngang như một bất lực, một lỡ làng. Và, Đinh Hùng chính là người tượng trưng cho cái bất lực, lỡ làng đó” [53]?