Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Nạn “chảy máu” tầng lớp tinh hoa Trung Quốc


Sinh viên Trung Quốc du học tại Nhật Bản tham
gia hội chợ việc làm do các công ty Trung Quốc
tổ chức ở Tokyo nhằm lôi kéo chất xám về nước.
Đề cương Quy hoạch phát triển nhân tài trung dài hạn 2010-2020 của Trung Quốc, đề xuất mục tiêu đến năm 2020 phải tiến vào hàng ngũ các cường quốc nhân tài, dường như khó thành công, bởi lẽ hiện nay ở nước này đang có tình trạng ra đi ngày một nhiều của quần thể tinh hoa với đại diện là tầng lớp người mới giàu lên sau 30 năm cải cách mở cửa.
Quốc gia xuất khẩu người di cư lớn nhất thế giới

Báo cáo Chính trị và An ninh toàn cầu do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc công bố năm 2007 cho biết, Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu người di cư lớn nhất thế giới.
Tháng 6/2010, Văn phòng Kiều vụ thuộc Hội đồng Nhà nước Trung Quốc tuyên bố lượng kiều bào hải ngoại của nước này là trên 45 triệu người, nhất thế giới về số lượng tuyệt đối.

Số người ra đi đều là những người làm nên sự nghiệp, nhưng bây giờ họ chọn một thân phận khác để sống, – không còn giữ địa vị nhà giàu, người có máu mặt ở quê nhà nữa mà chấp nhận địa vị công dân loại thường trong xã hội phương Tây.
Hiện tượng dân Trung Quốc di cư ra nước ngoài bắt đầu xảy ra từ sau ngày thi hành chính sách cải cách mở cửa. Thập niên 80 thế kỷ XX có phong trào xuất khẩu lao động rồi ở lại nước ngoài; thập niên 90 – du học rồi ở lại; thập niên đầu thế kỷ XXI – sự ra đi của tầng lớp tinh hoa, mà mấy năm gần đây chủ yếu là những người mới giàu lên.


Sách Chiến tranh nhân tài xuất bản năm 2009 cho rằng Trung Quốc “tuyệt đối là quốc gia thất thoát nhân tài số lượng nhiều nhất, thiệt hại lớn nhất”. Tuy chưa có số liệu chính thức, nhưng một số thống kê ngành nghề cho thấy riêng tỉnh Triết Giang là nơi tập trung nhiều nhà giàu Trung Quốc, hàng năm có ít nhất 1.500 người hoàn tất thủ tục ra nước ngoài định cư, và con số này tăng 10-20% hàng năm, phần lớn là thương nhân. Số người muốn ra đi còn nhiều hơn thế. Đây là dịp các công ty môi giới xuất cảnh đua nhau thành lập và hái ra tiền.

Số người ra đi nói trên đều là những người làm nên sự nghiệp trong thời đại lớn này, nhưng bây giờ họ chọn một thân phận khác để sống, – không còn giữ địa vị nhà giàu, người có máu mặt ở quê nhà nữa mà chấp nhận địa vị công dân loại thường trong xã hội phương Tây. Rất nhiều người giàu không thừa nhận họ ra đi vì để hưởng thụ cuộc sống sung sướng. Suy nghĩ chính khiến họ muốn di cư là vì công việc của mình và vì tương lai của con cái.

Còn có những chuyện đáng tranh cãi hơn: từ năm 1978 tới nay đã có 1,06 triệu học sinh Trung Quốc du học nước ngoài, trong đó chỉ có 275 nghìn người về nước. Nghĩa là có 785 nghìn thanh niên tuấn tú chạy ra ngoài nước, tương đương 30 lần số sinh viên trường ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa.

Tầng lớp tinh hoa ra đi mang theo chất xám, công nghệ, tài sản, và cả niềm tin mà một quốc gia đang trưởng thành không thể thiếu được.

Tình trạng người dân bỏ đất nước mình ra nước ngoài sinh sống là một trong các chỉ tiêu đánh giá quốc gia thất bại (Failed States Index) – một khái niệm do tạp chí chính trị học nổi tiếng Foreign Policy và một think tank ở Mỹ là Fund of Peace đưa ra năm 2005. Từ đó tới nay năm nào họ cũng công bố bảng xếp hạng các quốc gia thất bại [1].

Có một sự thật đáng buồn là tuy mấy chục năm nay Trung Quốc liên tục dẫn đầu thế giới về tốc độ trưởng kinh tế và sức mạnh tổng hợp quốc gia, nhưng hai năm 2009, 2010 lại bị rơi vào hàng ngũ các quốc gia thất bại nhất trên thế giới, tức thuộc vào khối 60 quốc gia có chỉ số thất bại cao nhất (Trung Quốc xếp thứ 57 trong số 177 quốc gia được khảo sát).

Một điều đáng chú ý: dân Trung Quốc di cư không phải là dân tỵ nạn như các quốc gia đói nghèo loạn lạc ở châu Phi, mà là tầng lớp tinh hoa rất cần cho một xã hội mới trưởng thành.

Làn sóng di cư mới

Trong thập niên đầu thế kỷ XXI, kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh, tầng lớp người giàu nhanh chóng tăng lên, nhưng các tệ nạn sinh ra trong quá trình chuyển đổi xã hội cũng làm tăng thêm số người không chịu nổi sức ép của giá nhà đất và sự ngột ngạt khi bị kẹp giữa các mâu thuẫn. Khi ấy nước ngoài trở thành nơi tốt nhất để họ tìm đến. Đây là một quá trình lựa chọn có suy nghĩ lý trí của họ.

Một bình luận viên của mạng Reuters tổng kết, đợt dân di cư tinh hoa mới này có 3 đặc điểm: - thành phần chính không chỉ còn là trí thức hoặc cán bộ chuyên môn bậc cao như trước kia, mà là người giàu; - họ mang đi một lượng tài sản lớn kiếm được tại Trung Quốc; - sau khi chuyển xong quốc tịch và thu xếp để con cái ở lại nước ngoài ổn thỏa rồi, họ lại về Trung Quốc tiếp tục làm ăn kiếm tiền trên chiến trường chính này.

Cho dù trước mắt số lượng nhân tài và tài sản thất thoát ra nước ngoài còn chưa quá lớn, song tình trạng ngày một nhiều nhân vật tinh hoa xã hội bỏ đất nước ra đi và trở thành tầng lớp nòng cốt làm ra của cải cho nước ngoài đã gióng lên hồi chuông báo động khiến Trung Quốc phải cảnh giác khi tiến sang thập niên thứ hai của thế kỷ XXI.

Đợt di dân thập niên 80 thế kỷ XX có tính mù quáng rất lớn, đợt di dân thập niên 90 có tính lý trí nhất định, còn đợt di dân này thì có tính lý trí tổng hợp.
Vì lẽ đó, tờ Quốc tế Tiên khu Đạo báo (xuất bản tại Bắc Kinh) đã cử phóng viên đi khắp nơi phỏng vấn những người Trung Quốc bỏ tổ quốc ra đi.


Bà Lỗ Vạn Manh mới đây định cư tại Canada và kiếm được việc làm trong một công ty ô tô địa phương cho biết, câu chuyện ra đi của bà có nhiều tình tiết đau buồn. Vốn dĩ có gia cảnh khá giả, 6 năm trước, bà bỏ việc làm trong một xí nghiệp quốc doanh ăn nên làm ra ở quê nhà, theo chồng lên Bắc Kinh kiếm việc làm, nhưng khi thấy Bắc Kinh chẳng hơn gì chỗ cũ nên hai vợ chồng bàn nhau sang Canada định cư. Chi phí hết một nửa tiền tiết kiệm, bà mới xin được giấy phép mang con sang Toronto định cư, nhưng ông chồng lại không đi được, vì thế rất có thể cuộc hôn nhân của họ sẽ tan vỡ, điều đó làm bà rất buồn lòng. Sang đây bà chỉ còn là một người dân bình thường nhất chứ không “có máu mặt” như hồi còn ở quê nhà. Nhưng bây giờ bà không hề ân hận về quyết định ra đi. “Tiền thì có thể tiếp tục kiếm, song cảm giác sung sướng và tâm trạng yên tĩnh mới là thứ vô giá, chỉ ở đây mới có,” bà nói.

Lỗ Vạn Manh chỉ là trường hợp bình thường nhất trong làn sóng định cư nước ngoài gần đây. Số liệu của Hội các tổ chức môi giới xuất cảnh vì việc riêng ở Bắc Kinh cho thấy: năm 2009 số người Trung Quốc khai báo có visa loại EB-5 [2] sang Mỹ làm dân di cư đầu tư tăng gấp 2 năm trước, từ 500 người năm 2008 tăng lên tới hơn 1000 người. Đồng thời số chuyên gia kỹ thuật xin ra nước ngoài trong 10 năm qua thì nhiều gấp 20 lần số dân di cư đầu tư. Số liệu chính phủ Mỹ công bố cho thấy, lượng người Trung Quốc được duyệt cấp visa EB-5 tăng mạnh trong năm 2010, chiếm khoảng 70% tổng số visa loại này đã cấp.

Canada là nơi người Trung Quốc đến nhiều thứ hai. Cục Xuất nhập cảnh Canada cho biết: năm 2009 có 2.055 người nhập cư vào Canada , trong đó 1.000 là người Trung Quốc; riêng số người Trung Quốc nhập cư tỉnh Quebec tăng 70%.

Australia luôn có cơn sốt nhập cư. Số liệu của Cục Thống kê nước này cho biết: từ 7/2009 tới 1/2010, đã có 7.800 người Trung Quốc đại lục nhập cư Australia, tỷ lệ người Trung Quốc đã vượt tỷ lệ người nhập cư truyền thống từ Anh và New Zealand, và cả Ấn Độ.

Singapore nhỏ bé đông dân cũng là điểm đến của nhiều người Trung Quốc muốn con cái họ được đồng thời hưởng hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây.

Những số liệu nói trên cho thấy tình trạng di dân Trung Quốc cực kỳ nghiêm trọng. Ông Hồ Vĩ Lược, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu dân số và kinh tế lao động thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng có lẽ đúng là đã xuất hiện cái gọi là Đợt sóng di dân thứ ba, nhưng không phải chỉ vì số lượng dân di cư tăng lên mà chủ yếu là các đặc điểm của số dân di cư mới này, như học vấn cao, tay nghề cao, giá thành cao, tức tính tinh hoa của quần thể dân di cư. “Đợt di dân thập niên 80 thế kỷ XX có tính mù quáng rất lớn, đợt di dân thập niên 90 có tính lý trí nhất định, còn đợt di dân này thì có tính lý trí tổng hợp” – Hồ Vĩ Lược nhận định. “Tính lý trí tổng hợp” là điều được dư luận quan tâm hơn cả khi nói về đợt di cư này.

Lỗ Vạn Manh là thí dụ tiêu biểu của “Tính lý trí tổng hợp”. Trước ngày ra nước ngoài, bà có một gia đình hạnh phúc, công việc làm ăn rất tốt, đang trở thành tầng lớp trụ cột của xã hội Trung Quốc, vì thế bà không ham mê ra nước ngoài. Nhưng bà đã bỏ ra 6 năm phấn đấu gian khổ để được ra nước ngoài định cư, mục tiêu của bà không phải vì danh lợi hoặc vì để kiếm tiền, mà chỉ vì muốn nâng cao chất lượng cuộc sống, muốn được hưởng sự giáo dục tốt hơn và một xã hội tốt lành hơn. Đó là logic điển hình của tầng lớp tinh hoa mới ở Trung Quốc.

Có điều đáng chú ý: tại Trung Quốc, “tinh hoa” là một khái niệm mù mờ; khi gắn với nhân tài thì nó có nghĩa là trách nhiệm, khi gắn với tài sản thì nó đại diện cho những người đã được hưởng lợi trong mấy chục năm cải cách mở cửa của Trung Quốc, khi gắn với quyền thế thì nó biến thành từ ngữ nói lên sự bất công trong xã hội. Khi tinh hoa và dân di cư tổ hợp thành một phức từ thì nó báo trước một vấn đề lớn không cho phép bỏ qua trong quá trình trưởng thành của một quốc gia.

Mất cả người lẫn của?

Học giả Tăng Tỉnh Tồn ở Viện Nghiên cứu sinh thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng kết luận “mất cả người lẫn của” có lẽ còn quá sớm. Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, việc xuất hiện làn sóng di cư là có tính tất nhiên và tính hợp lý. Trên thực tế, trước đại lục Trung Quốc thì Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc thậm chí một số nước phát triển cũng từng xuất hiện làn sóng di cư ra nước ngoài của giới tinh hoa. Dư luận hồi ấy phổ biến cho rằng hiện tượng đó gây thiệt hại cho Đài Loan, nhưng về sau qua việc “lưu chuyển nhân tài” thì lại thấy là rất hữu ích. Làn sóng di cư từ đại lục Trung Quốc gần như diễn lại cảnh từng xảy ra tại Đài Loan năm xưa.

Dưới thời hai cha con họ Tưởng cai trị, các gia đình bình thường ở Đài Loan coi du học nước ngoài là ước muốn cao nhất đối với con cái mình. Trong thời kỳ cao trào du học hồi thập niên 70-80 thế kỷ XX chỉ có 20% số du học sinh về Đài Loan làm việc. Trong 10 năm qua, Đài Loan lại đóng góp cho Australia 90 nghìn dân di cư, trong đó số người có trí thức tăng dần. Thế nhưng xét tình hình hiện nay, Đài Loan, Singapore và Ấn Độ chưa thấy xảy ra thiệt hại không thể bù đắp do dân di cư ra nước ngoài. Đó là do bản thân việc lưu chuyển nhân tài có tính tuần hoàn, ngoài ra còn một lý do quan trọng hơn là hồi ấy 3 nước và lãnh thổ nói trên đều áp dụng các biện pháp đúng đắn để thu hút nhân tài và mở đường cho họ về nước.

Đại lục Trung Quốc cũng thể hiện quyết tâm rất lớn về mặt đào tạo và thu hút nhân tài trong 10 năm tới bằng việc vừa mới công bố Đề cương quy hoạch phát triển nhân tài trung dài hạn nhà nước.

Vì sao ra đi?

Có khá nhiều cách giải thích lý do xuất ngoại, tuy không phải ai cũng thật lòng nói ra. Dĩ nhiên người ra đi chỉ vì muốn tìm kiếm lợi ích cho bản thân và cho con cái; chủ yếu là muốn cải thiện chất lượng cuộc sống. Họ cho rằng phương Tây có đời sống yên bình, thanh thản, trật tự, ổn định hơn Trung Quốc, các dịch vụ và phúc lợi công cộng hoàn hảo. Giáo dục ở phương Tây thích hợp hơn, khác hẳn nền giáo dục Trung Quốc trọng thi cử, hành hạ lũ trẻ đến mức làm chúng sợ đi học. Còn có các lý do khác như giữ quốc tịch Trung Quốc thì đi đâu cũng phải xin visa, rất phiền phức mất thời giờ, trong khi nếu có quốc tịch Mỹ, Nhật, Singapore ... thì có thể đi trên 130 nước mà không cần xin visa, rất tiện cho những ngôi sao điện ảnh-truyền hình luôn phải ra nước ngoài đóng phim hoặc hội họp. Cũng có người nói họ muốn sinh con thứ hai, thứ ba (ở Trung Quốc chỉ được sinh một con)....

Tại Trung Quốc, các doanh nhân phải bỏ nhiều công sức lo dàn xếp “quan hệ” với chính quyền. Nhất là các doanh nghiệp giàu có thì chẳng khác gì miếng thịt béo ai cũng muốn xà xẻo kiếm chút lợi ích.
Giới nhà giàu Trung Quốc xuất ngoại với những lý do có chút khác. Họ rất nhạy cảm với sự an toàn tài sản của mình. Tuy từ lâu Trung Quốc đã ban hành điều luật bảo đảm tài sản cá nhân, nhưng trên thực tế những người giàu đều chưa yên tâm.


Tại Trung Quốc, các doanh nhân không thể yên tâm chỉ làm kinh doanh, mà phải bỏ nhiều công sức lo dàn xếp “quan hệ” với chính quyền. Các doanh nghiệp có quá nhiều “mẹ chồng” để mắt trông coi, quản lý họ. Nhất là các doanh nghiệp giàu có thì chẳng khác gì miếng thịt béo ai cũng muốn xà xẻo kiếm chút lợi ích. “Làm kinh doanh ở Trung Quốc mệt lắm,” ông Chu Tân Lễ, Chủ tịch công ty Hội Nguyên có lần bộc bạch trên Đài Truyền hình trung ương.

Ngô Giai Xuyên 42 tuổi, nhà kinh doanh bất động sản có tài sản cỡ chục triệu Nhân Dân Tệ thổ lộ: tôi không có cảm giác an toàn khi kinh doanh ở Trung Quốc, luôn nơm nớp lo sợ chẳng biết một ngày nào đó sẽ có một ban ngành nào đấy lấy một lý do nào đó làm tan tành toàn bộ sự nghiệp tôi gây dựng được. “Tôi làm nghề bất động sản, ai cũng nghĩ đây là một ngành mà chính quyền và doanh nghiệp xỏ chung một chiếc quần. Thực ra đâu phải thế. Mỗi lần bàn bạc với chính quyền một dự án nào, bao giờ tôi cũng tức đầy bụng,” ông Ngô nói.

Ông kể: Cách đây vài năm, tôi làm một dự án ở huyện, nhà xây xong chưa bán hết, vì quá thiếu tiền mặt nên đành ký với cơ quan thuế huyện ấy một thỏa thuận “Dùng nhà nộp thuế”. Về sau cơ quan ấy không báo chúng tôi biết mà tổ chức bán đấu giá, đem bán nhà chúng tôi xây cho cán bộ cơ quan họ với giá bằng nửa giá ấn định trong thỏa thuận. Nhà bán hết nhưng thuế thì chưa nộp, thế là chúng tôi nhận được thông báo “trốn thuế”. Rắc rối ấy kéo dài 1 năm rưỡi mới giải quyết xong, công ty tôi chịu thiệt hại rất lớn. Lẽ ra tôi có quyền kiện vụ này ra tòa, nhưng dân kiện quan thì giá thành rất cao, tôi sao lo được tiền, đành chịu thua.

Từ lần đó trở đi tôi thực sự cảm thấy không còn chút cảm giác an toàn nào nữa. Có quá nhiều cơ quan nhà nước có thể “hành” doanh nghiệp. Khiếp nhất là khi cán bộ giải quyết sai một vụ việc nào đấy thì họ thà dùng một cái sai khác để che giấu cái sai kia, và cũng chẳng nhận họ sai, chỉ doanh nghiệp là chịu thiệt. Nếu tôi đãi đằng họ không chu đáo thì công ty lập tức gặp khó khăn. Mỗi ngày tôi làm việc 18 tiếng đồng hồ, phải dốc sức đối phó sự quấy nhiễu của các cơ quan giám quản, ngày nào cũng lu bù mời họ nhậu nhẹt khiến tôi mệt muốn chết.

Nghe bạn bè nói ra nước ngoài làm ăn thoải mái hơn nhiều, không cần quan hệ với chính quyền, thuế má cũng nhẹ, làm được hay không là do mình thôi. Môi trường như thế thật quá thu hút tôi. Rất nhiều doanh nhân bạn tôi đều muốn di cư. Tôi cho rằng nhà nước nên có chút cảm giác về nguy cơ này, Ngô Giai Xuyên kết thúc trả lời phỏng vấn.

Sự chán ghét cơ chế giáo dục xơ cứng thiếu tính nhân văn ở Trung Quốc là một nguyên nhân khác khiến các người ta muốn di cư. Nhìn chung các nhà giàu Trung Quốc thường để con họ học xong cấp III rồi đưa cả gia đình ra nước ngoài để chúng học đại học. Họ cho rằng giáo dục cơ sở ở Trung Quốc rất có ích cho việc trau dồi kiến thức phổ thông, nhưng giáo dục đại học thì chất lượng còn thấp, khâu thi cử gây nhiều phiền hà.

Phần lớn các nhà giàu Trung Quốc mới đây di cư ra nước ngoài đều chia sẻ quan điểm nói trên của ông Ngô. Đúng là chính quyền chưa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nhân, khiến họ luôn có cảm giác không an toàn; lại thêm cơ chế giáo dục lạc hậu khiến họ lo lắng cho tương lai của con cái mình – đây là hai lý do chính khiến nhiều doanh nhân mới giàu lên nảy sinh ý định ra nước ngoài.

Ghi chú:
[1] Xem http://www.fundforpeace.org/web/index.php?option=com_content&task=view&id=452&Itemid=900 và Foreign Policy số 7-8/2010.
[2] Là loại visa do chính phủ Mỹ đặt ra nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Mỗi năm Mỹ cho phép nhận 10.000 người nhập cư theo diện visa EB-5. Muốn có visa này, người nhập cư phải đầu tư vào Mỹ ít nhất 1 triệu USD (hoặc 0,5 triệu nếu đầu tư vào khu vực tạo việc làm); phải lập công ty mới; phải tạo ra việc làm cho ít nhất 10 người Mỹ trong ít nhất hai năm...
Nguồn: Tiasang.com.vn

 

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59