Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 27)

6. Không có kẻ địch vĩ đại, không có nước Mỹ vĩ đại

Ở Mỹ có câu châm ngôn: “Không có kẻ địch vĩ đại, không có nước Mỹ vĩ đại”. Mỹ là một đất nước cần kẻ địch, văn hóa chiến lược của Mỹ là văn hóa tạo ra “kẻ địch”. Mỹ phải không ngừng tìm kiếm “kẻ địch”, không ngừng hô hào về “đe dọa”, không ngừng thổi phồng về “khủng hoảng”.

Vì sao nước Mỹ cần kẻ địch? Mỹ dựa vào những tiêu chí nào để lựa chọn kẻ địch? Mỹ đã lợi dụng kẻ địch hiệu quả như thế nào và chiến thắng kẻ địch ra sao? Những nội dung này đã tạo nên “ quan điểm về kẻ thù ” trong quan điểm chiến lược Mỹ, và cũng hình thành một truyền thống kinh điển trong tư duy chiến lược của Mỹ.

“Thông báo tuyển dụng kẻ thù” của Lầu Năm Góc

Trong cuốn “Bản đồ mới của Lầu Năm Góc – Chiến tranh và hòa bình thế kỷ 21”, chuyên gia các vấn đề chiến lược nổi tiếng của Mỹ, ông Thomas Barnertt viết: Trong nhiệm kỳ thứ hai của chính quyền Bill Clinton, tôi có phát hiện một thông báo cá nhân như thế này trên một bức tường trong văn phòng của Lầu Năm Góc.

Thông báo tuyển dụng kẻ thù

Quốc gia siêu cường hoàn thiện ở Bắc Mỹ cần tìm những người hợp tác có thái độ thù địch để tiến hành chạy đua vũ trang, xung đột ở Thế giới thứ Ba và các hoạt động đối kháng nói chung. Các ứng cử viên phải tạo ra mối đe doạ đủ để thuyết phục quốc hội đáp ứng yêu cầu quân sự.Ưu tiên những ứng cử viên có khả năng tiến hành chiến tranh hạt nhân; nhưng nếu sở hữu nguồn vũ khí sinh hóa quan trọng, thì những ứng cử viên phi hạt nhân cũng có thểđược cân nhắc. Đơn xin việc và ảnh chụp xin gửi về địa chỉ:

Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Washington, Đặc khu Columbia

Lầu Năm Góc

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân

Đây chỉ là sự hóm hỉnh. Nó vui nhưng đã phản ánh chân thực một điều rằng sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ thực sự đã mắc phải “chứng bệnh thiếu kẻ thù”, thể hiện triệt để tâm trạng nôn nóng của Mỹ muốn “tìm kiếm kẻ thù” trên khắp thế giới.

Nghệ thuật “sử dụng kẻ thù” của Mỹ

Ngày 20/01/1981, sau khi Ronald Wilson Reagan của đảng Cộng hòa nhậm chức Tổng thống Mỹ, khi đánh giá về Liên Xô, Reagan đã xác định rõ Liên Xô là “kẻ thù”, chứ không chỉ đơn giản là “đối thủ cạnh tranh chiến lược”.

Reagan cho rằng, Liên Xô là trung tâm của mối hiểm họa trên thế giới, là kẻ thù số một của Mỹ. Phải áp dụng biện pháp tấn công chiến lược mới có thể kiềm chế sự bành trướng của Liên Xô, đảm bảo sự an toàn cho Mỹ. Chính bởi Mỹ coi Liên Xô là kẻ thù, nên đã giành thắng lợi, thu lời và nếm quả ngọt.

Cuối năm 1993, Tổng thống Bill Clinton đã từng buộtmiệng nói rằng: “Ồ! tôi nhớ chiến tranh Lạnh quá”. Nhớ đến chiến tranh Lạnh chính là nhớ đến kẻ thù, nhớ cái thời có kẻ thù. Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ mất đi kẻ thù, Tổng thống Bill Clinton cũng cảm thấy mất mát.

Khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhà bình luận chính trị Charles Krauthammer nói: “Đất nước cần phải có kẻ thù. Khi không còn kẻ thù này thì đi tìm kẻ thù khác”.

Nhà sử học nổi tiếng của Mỹ, ông Arthur Schlesinger khẳng định: “Mỹ cần một nước thù địch, để mang lại trọng tâm và tính liên tục cho chính sách ngoại giao. Mỹ đã từng coiĐức là kẻ thù trong hai cuộc đại chiến thế giới, coi Liên Xô là kẻ thù trong Chiến tranh Lạnh. Và đến một thời điểm nào đó, Mỹ sẽ lại tuyên bố sự tồn tại của kẻ thù tiềm tàng khác”.

Dường như các chính trị gia và chuyên gia của Mỹ “tìm kiếm kẻ thù” điên cuồng như thể “tìm kiếm bảo bối” vậy. Vậy “kẻ thù” có giá trị như thế nào đối với Mỹ?

-Có kẻ thù, tức là có thách thức và cạnh tranh, tức là có động lực. Cuộc chiến tranh Lạnh kéo dài nửa thế kỷ, do có kẻ thù là Liên Xô hùng mạnh, đã tạo ra động lực và sự kích thích cực lớn đối với quá trình phát triển của Mỹ. Trong cuộc đối kháng một mất một còn, hai bên có thể phát huy tối đa tiềm năng của mình, buộc các bên phải phát triển và tiến bộ như vũ bão. Trước khi Liên Xô tan rã, một số nhân vật có vai vế ở Mỹ đã khẳng định “công trạng” của chiến tranh Lạnh và sự “cống hiến” của Liên Xô đối với Mỹ: “Liên Xô từng là kẻ thù hữu dụng. Mỹ tin rằng không những cần chạy đua vũ trang, mà còn phải chạy đua thành tựu với Liên Xô. Bây giờ xem ra đó dường như một ý nghĩ kỳ lạ, nhiều người Mỹ những thập niên 50 và 60 của thế kỷ 20 đã mặc nhiên coi hai cuộc chạy đua này là cuộc đua thể hiện tính ưu việt. Không có chương trình vũ trụ của Liên Xô, người Mỹ đã không thể đặt chân lên Mặt Trăng”. Do duy trì liên tục trạng thái cận chiến của chiến tranh Lạnh kích thích nền công nghiệp quốc phòng, nên đã “tạo ra kỹ thuật ưu việt của người Mỹ”.

-Có kẻ thù, Mỹ mới có thể đoàn kết và tạo sự hội tụ trong nước có hiệu quả. Khi Liên Xô chuẩn bị sụp đổ vào tháng 9/1991, Mỹ đã than thở về số mệnh của chiến tranh Lạnh:“Đối với một đất nước đa dạng như Mỹ, chỉ có các loại thách thức bên ngoài mới có thể khiến Mỹ đoàn kết lại”. Bằng việc dựng lên một “kẻ thù lớn”, tạo ra cục diện “kẻ thù lớn trước mặt”, Mỹ có thể “vin vào kẻ thù lớn đó để kêu gọi toàn dân”, tạo ra bầu không khí “căm thù kẻ thù chung” trên cả nước, đoàn kết hiệu quả nội bộ, gắn kết mọi phương diện, duy trì và tăng cường quyền uy và khả năng của tập đoàn lãnh đạo Mỹ. Mục đích Mỹ tìm kiếm kẻ thù bên ngoài là nhằm gắn kết nội bộ. Tìm kiếm và tạo ra kẻ thù trở thành một phương sách của Mỹ để trị quốc an bang.

-Có kẻ thù, mới có lợi ích đặc thù giữa quân đội và tập đoàn công nghiệp quân sự. Học giả nghiên cứu chiến lược của Mỹ, ông Thomas Barnett nói: “Tất cả khả năng quân sự mạnh mẽ về công nghệ cao mà chúng ta mua về trong thập niên 90 của thế kỷ 20, thực sự cần một kẻ địch mạnh về công nghệ cao, chẳng phải vậy sao? Chính trị gia thời chiến tranh Lạnh này nói: Hoàn toàn đúng như vậy, nếu Nga thực sự không chịu nổ một đòn mà sụp đổ thì chúng ta sẽ làm điều đó với Trung Quốc”. Thomas chỉ ra rằng: Sau sự kiện 11/9, “chỉ vòng trong một đêm mà Trung Quốc biến mất khỏi màn hình rađa, thay

vào đó là tổ chức khủng bố ‘có mạng lưới bao trùm khắp thế giới’ và bất kỳ quốc gia xấu xa nào bị tình nghi tiếp tay cho chúng. Nói chung quân đội Mỹ thực hiện rất tốt trên phương diện đánh bại kẻ thù, nhưng lại chưa bao giờ làm tốt trong việc làm thế nào để giành thắng lợi. Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, Mỹ giành được thắng lợi to lớn: Chúng ta đã kéo đổ một quốc gia siêu cường quân sự khác trên thế giới, đồng thời thúc đẩy tiến bộ to lớn của quá trình toàn cầu hóa trên thế giới. Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô, một thời đại mới đã đến, nhưng chúng ta chỉ chứng kiến sự xuất hiện của nó không thôi thì chưa đủ. Mỹ cần phải định nghĩa lại một cách rõ ràng về kẻ thù đáng để chiến đấu và quân đội đáng để xây dựng trong tương lai, nhằm đối phó với môi trường an ninh mới không có đối thủ cạnh tranh. Trên hai phương diện này, Lầu Năm Góc đều thất bại, chủ yếu do lo sợ đánh mất vị thế của mình trong thể chế chính trị Mỹ, hoặc nói một cách thô thiển là do lo ngại về khoản tiền được phân bổ của mình trong ngân sách liên bang. Nỗi lo sợ này đã thúc đẩy quân đội phải ra sức bám vào một thứ hư ảo gần như là “đối thủ cạnh tranh”. Vì chỉ có sự tồn tại của một đối thủ như vậy mới có thể tạo ra cái cớ để Lầu Năm Góc duy trì một đội quân theo đuổi mục đích chính là tiến hành cuộc chiến chống quốc gia siêu cường. Thế nhưng thời đại mới không những không tồn tại một mối đe dọa như vậy mà còn tạo ra một thứ hoàn toàn trái ngược - một lực lượng ít được chú ý trước đây đã nổi lên, thách thức định nghĩa ‘trật tự thế giới mới’ của Mỹ”. Có thể thấy, Mỹ cần kẻ thù vì Lầu Năm Góc cần vị thế trong thể chế chính trị Mỹ, cần duy trì chi phí quân sự trong ngân sách liên bang, và vì chỉ có dựng lên một kẻ thù hùng mạnh mới có thể tạo ra cái cớ để Lầu Năm Góc duy trì một đội quân với mục đích chính là tiến hành cuộc chiến chống quốc gia siêu cường. Nói một cách mỉa mai, nếu không có kẻ thù, quân đội Mỹ và tập đoàn công nghiệp quân sự Mỹ ăn bằng gì, lấy gì mà kiếm tiền. Có kẻ thù mới có lợi ích.

 

 

-Có kẻ thù mới có thể ra lệnh cho các nước chư hầu duytrì địa vị bá chủ của Mỹ. Điều này thể hiện ở hai vấn đề: Một là trên bình diện quốc tế, coi những nước lớn trỗi dậy ảnh hưởng đến địa vị bá chủ của Mỹ là “kẻ thù” để tiến hành ngăn chặn và thảo phạt. Xuất quân một cách danh chính ngôn thuận dựa vào lí do chính đáng, có thể duy trì lợi ích và địa vị bá chủ của Mỹ trên thế giới thông qua ngặn chặn hiệu quả các quốc gia đang trỗi dậy. Hai là nội bộ các quốc gia phương Tây, tuyên bố kẻ thù của Mỹ là kẻ thù chung của thế giới phương Tây, do Mỹ giương ngọn cờ đầu, tổ chức và củng cố liên minh, đưa ra hiệu lệnh, trói chặt các quốc gia phương Tây vào cuộc chiến của Mỹ. Một số chuyên gia phân tích có uy tín của Mỹ khi đánh giá về tác dụng của chiến tranh Lạnh cho rằng “các chính phủ Mỹ thời Eisenhower, Kennedy và Johnson bị Liên Xô thách thức, đã tìm được cái cớ về ‘an ninh quốc gia’ để giúp đỡ những nước bị áp chế”. Điều này khiến cuộc chiến tranh Lạnh không chỉ thúc đẩy ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ, đặc biệt là công nghệ mũi nhọn, phát triển, “mà quan trọng hơn nó mang lại cho Mỹ một cơ hội tốt để lôi kéo các nước đồng minh theo chủ nghĩa tư bản”. Như vậy, Mỹ tổ chức liên minh chống “kẻ thù” và thống nhất chiến tuyến trong cộng đồng quốc tế, vừa khống chế các quốc gia phương Tây, vừa ngăn chặn những nước mới nổi, từ đó bảo đảm địa vị và lợi ích của quốc gia bá quyền này.

Tiêu chuẩn “lựa chọn kẻ thù” của Mỹ

Tiêu chuẩn lựa chọn kẻ thù của Mỹ có tính tổng hợp nhất định, nhưng chỉ xem xét hai điểm chính:

-Tiêu chuẩn về ý thức hệ. Đối với Mỹ, kẻ thù lí tưởng là kẻ có hệ tư tưởng đối lập với Mỹ, có chủng tộc và văn hóa khác với Mỹ và có khả năng quân sự hùng mạnh đến mức khiến người ta tin rằng có thể tạo ra mối đe dọa đối với an ninh quốc gia Mỹ. Vấn đề chính trong quá trình tranh luận ở Mỹ về chính sách đối ngoại từ thập niên 1990 trở lại đây là nước nào có thể là kẻ thù như vậy. Khi xác định tính chất củaĐức, Nhật Bản và Liên Xô, Mỹ đều kiên trì bám vào tiêu chuẩn ý thức hệ. Căn cứ cơ bản để Mỹ tiến hành chiến tranhvà chiến tranh Lạnh với Đức, Nhật Bản và Liên Xô trong thế kỷ 20 là cho rằng ba đối thủ này đều là những nước chống lại nguyên tắc chính của Mỹ. Do họ chống lại quan điểm của Mỹ về chủ nghĩa cá nhân nên là “kẻ thù” của Mỹ. Mà dường như dân chúng Mỹ cũng có nhận thức chung về điều này. Năm 1945, hãng Gallup tiến hành một cuộc thăm dò dư luận với câu hỏi như sau: Bạn có cho rằng một người đi theo chủ nghĩa cộng sản lại có thể đồng thời trung thành với nước Mỹ hay không? Kết quả số người trả lời “có” chỉ chiếm 5% trong khi trả lời “không” chiếm tới 87%. Cuối năm 1989, có tới 47% số người được hỏi cho rằng họ thà lao vào một cuộc chiến tranh hạt nhân toàn diện còn hơn sống dưới chế độ cai trị của chủ nghĩa cộng sản. Dựa vào sự khác biệt về giá trị quan để phân biệt “ta và địch”. Tuy một số chính trị gia có biểu hiện dao động, thậm chí thời kỳ chiến tranh Lạnh còn xuất hiện những cuộc tranh luận vượt ra ngoài ý thức hệ, nhưng về căn bản đã không làm lay chuyển lập trường của Mỹ kiên trì với tiêu chuẩn này. Những tranh cãi vượt ra ngoài ý thức hệ ở một số thời kỳ và hoàn cảnh đặc biệt, thậm chí có thể nói là một biểu hiện cho thấy sự thực dụng và mánh khóe của lãnh đạo cấp cao Mỹ. Ví dụ vào cuối những năm 60 của thế kỷ 20, có những nhà quyết sách Mỹ cho rằng quan điểm truyền thống không phải là tiêu chuẩn và cần phải kiểm nghiệm. Nixon nói: “Ngày nay, ‘chủ nghĩa’ đã mất đi sức sống. Mục tiêu của chúng ta là phải xóa bỏ tất cả những thứ nhạy cảm, ủy mị trong chính sách ngoại giao. Những nước có ý thức hệ trái ngược nhau, trong những điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt, có thể có mục tiêu chung. Mà những nước có ý thức hệ tương đồng nhau, cũng có thể đối địch với nhau. Henry Kissinger cũng nói: “Chúng ta không có kẻ địch vĩnh cửu, chúng ta sẽ dựa vào hành động của họ chứ không phải ý thức hệ để phân biệt nước khác, đặc biệt là CHND Trung Hoa”.

-Tiêu chuẩn về sức mạnh. Tức là tìm kiếm trên thế giới này những nước có tốc độ phát triển nhanh, có thực lực và tiềm lực mạnh nhất và có xu hướng thách thức Mỹ để làm kẻthù đối phó. Đó chính là những nước đang trỗi dậy. Trong tư duy chiến lược của Mỹ, nước trỗi dậy chính là nước cạnh tranh, khiêu khích và đối địch. Thời kỳ cuối và sau chiến tranh Lạnh, Nhật Bản từng trở thành đối tượng hàng đầu trong danh sách “đối thủ” của Mỹ. Một số học giả và chính trị gia Mỹ đã cho ra đời hàng chục tác phẩm và hàng trăm bài viết lập luận chặt chẽ đề cập đến cuộc xung đột sắp xảy ra giữa Nhật Bản và Mỹ. Nhưng về sau do kinh tế Nhật Bản mất đi đà tăng trưởng mạnh mẽ, nên Mỹ lại loại đất nước mặt trời mọc ra khỏi danh sách kẻ thù tiềm tàng. Báo cáo năm 1997 của Viện nghiên cứu an ninh quốc gia Mỹ cho rằng “trong số các đối thủ khu vực tiềm tàng, hiện chỉ có Nga và Trung Quốchội đủ điều kiện này. Ấn Độ trong vòng 10 năm tới cũng có thể trở thành cường quốc quân sự khu vực quan trọng”. Về sau, Mỹ lại một lần nữa coi Nga là “kẻ thù chính”. Nhưng nghĩ lại thấy rằng mặc dù Nga có sự nguy hiểm tiềm tàng, nhưng vì tình hình kinh tế nước này hết sức gay go, trong nước bất ổn, kết cấu xã hội rời rạc. Theo lời ông Harris, chủ biên tạp chí “Lợi ích quốc gia” (Mỹ), thì Nga “chẳng qua chỉ là con dã thú bị thương, là một nước lớn tiền siêu cường đang nỗ lực trở thành nhà nước dân chủ”, trước mắt không thể đe dọa nước Mỹ. Sau năm 1997, Mỹ đã chọn đi chọn lại, rốt cuộc chốt lại danh sách bằng Trung Quốc, coi nước này là kẻ thủchính của Mỹ. Đông đảo dư luận Mỹ cho rằng mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là thách thức địa vị chi phối thế giới của Mỹ. Vì vậy Mỹ “phải giao thiệp với Trung Quốc bằng thái độ thù địch”, nếu không sẽ đồng nghĩa với “giảng hòa”, “nhân nhượng”.

Theo tiêu chuẩn “lựa chọn kẻ thù” của Mỹ, Trung Quốc là “kẻ thù” hoàn toàn đáp ứng điều kiện. Do Trung Quốc khác Mỹ về mặt ý thức hệ, lại là nước có tiềm lực nhất trong số các nước đang trỗi dậy, nên trong cuộc chơi chính trị “lựa chọn kẻ thù” của Mỹ, trong danh sách lựa chọn ấy, Trung Quốc chắc chắn ở vị trí số một.

Huntington xót xa vì “nước Mỹ cô độc”

Tư duy “lựa chọn và tạo dựng kẻ thù” của Mỹ khiến họ phải “tìm kiếm kẻ thù trên toàn cầu” và trở thành quốc gia cô độc nhất thế giới. Huntington chỉ ra rằng quan chức Mỹ ngợi ca nước này là bá chủ nhân từ, gán cho cái mác quốc gia siêu cường đầu tiên theo kiểu chủ nghĩa phi đế quốc. Trên thực tế, Mỹ là “một nước siêu cường xấu xa”, “ngày càng bị cô lập với thế giới”. Giới lãnh đạo Mỹ xưa nay đều tuyên bố nước này đại diện cho cộng đồng quốc tế. Nhưng họ nghĩ họ đạidiện cho những nước nào? Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Pakixtan, Iran hay thế giới Arập, ASEAN, châu Phi, Mỹ Latinh hay Pháp? Nhưng liệu những quốc gia hay khu vực này có coi Mỹ là đại diện cho cộng đồng của họ hay không? Trong đại đa số các vấn đề, những cộng đồng mà Mỹ đại diện nhiều nhất chỉ là những người anh em Anglo-Saxon có cùng huyếtthống của họ (Anh, Canađa, Ôxtrâylia và Niu Dilân). Trongrất nhiều vấn đề, Mỹ đại diện cho Đức và một số quốc gia dânchủ nhỏ ở châu Âu. Trong vấn đề Trung Đông có Ixraen, trong quá trình thực thi nghị quyết của LHQ có đồng minh Nhật Bản. Mặc dù đây đều là những nước quan trọng nhưng họ còn lâu mới cấu thành cộng đồng quốc tế mang tính toàn cầu. Qua từng vấn đề một, Mỹ nhận thấy họ ngày càng lâm vào tình trạng bị cô lập, đồng minh đếm trên đầu ngón tay, ở vào thế đối lập với phần lớn quốc gia và nhân dân trên thế giới. Những nước coi lợi ích bản thân và lợi ích của Mỹ bổ trợcho nhau ngày càng ít. Điều này ít nhất được thể hiện trong cơ cấu chủ đạo của các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong 10 năm đầu của chiến tranh Lạnh, cơ cấu này là 4:1, bốn nước Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc liên kết chống lại Liên Xô. Nhưng sau khi Chính phủTrung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo khôi phục vị trí hợp pháp tại LHQ, cơ cấu này trở thành 3:1, Trung Quốc ở vị trí trung lập. Hiện nay cơ cấu này lại thay đổi thành 2:1:2, hình thành cục diện hai nước Mỹ-Anh đối lập hai nước Trung-Nga, còn Pháp ở vị trí trung lập. Trong một hội nghị được tổ chứctại Đại học Harvard (Mỹ) năm 1997, một số học giả trình bày báo cáo cho rằng ít nhất những quốc gia có số dân chiếm 2/3dân số thế giới, gồm Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Arập, Hồi giáo và cả các nước châu Phi, đều coi Mỹ là mối đe dọa lớn nhất duy nhất từ bên ngoài đối với xã hội của họ. Năm 1997, công chúng Nhật Bản từng coi Mỹ là mối đe dọa lớn thứ hai chỉ sau Triều Tiên. Mỹ, nước giỏi tạo ra kẻ thù vĩ đại, đã trở thành một đất nước cô lập, đau khổ. Mỹ đã không thể thực hiện và duy trì sự vĩ đại của mình thông qua việc tạo dựng kẻ thù vĩ đại.

“Liên minh Trung-Mỹ”: Xuất hiện trong tư duy mới của Mỹ

Mỹ không thể dựa vào “tạo dựng kẻ thù” để duy trì bá quyền, mà phải dựa vào “kết bạn” để thúc đẩy đất nước pháttriển. Đó là nhận thức của ngày càng nhiều người Mỹ. Nhiều học gia nổi tiếng của Mỹ thậm chí còn đặt ra giả thiết về “liên minh Trung-Mỹ”.

Ngày 26/6/2006, phát biểu tại Quỹ nghiên cứu chiến lược quốc tế Trung Quốc, chuyên gia các vấn đề chiến lược nổi tiếng Mỹ, ông Thomas Barnett đã đề xuất việc “xây dựng liênminh Mỹ-Trung hướng tới thế kỷ 21”. Đây là giả thiết hết sức sáng tạo.

Thomas nói: “Mỹ-Trung thiết lập quan hệ đồng minh có lợi cho cả hai bên. Nước Mỹ hiện nay cũng giống nước Anh hồi đầu thế kỷ 20. Trong vấn đề xem xét sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ đối diện với một sự lựa chọn quan trọngnhất. Đó là hoặc giống Anh nhìn nhận Mỹ hồi đầu thế kỷ 20, coi Trung Quốc là cường quốc đang lên và tiếp nhận một cáchđiềm tĩnh, hoặc coi quốc gia Đông Bắc Á này là nước Đức của thế kỷ trước, vốn là khởi nguồn của cuộc chiến tranh thế giới. Bằng việc thiết lập quan hệ liên minh chiến lược với Mỹ, Anh đã duy trì và phát triển tối đa nguồn lực của nước mình. Nước Mỹ đã ở vào giai đoạn kinh tế dần suy yếu, dù thực lực quân sự của nước này vẫn lớn mạnh. Nếu Mỹ muốn lấy sức mạnh quân sự để bù đắp những yếu kém về kinh tế thì nên thiết lập liên minh chiến lược với Trung Quốc. Kiểu quan hệ liên minh chiến lược này hết sức có lợi cho Trung Quốc, do đó Trung Quốc cũng nên ủng hộ xây dựng một liên minh như vậy. Thế nhưng Lầu Năm Góc sẽ không tán thành chủ chương xây dựng quan hệ chiến lược Trung-Mỹ. Vì họ muốn Trung Quốc trở thành cái cớ để Mỹ duy trì sức mạnh quân sự hùng hậu. Trong ba năm sau sự kiện 11/9, Lầu Năm Góc đã bớt chú ý tới Trung Quốc. Vì trong khoảng thời gian này, Mỹ tập trungquan tâm tới chủ nghĩa khủng bố ở Trung Đông. Nhưng bắt đầu từ năm 2005, vấn đề Trung Quốc lại được khơi dậy. Trên thực tế, đây là sách lược mà các lực lượng hải lục không quân của Mỹ áp dụng để giành giật ngân sách quốc phòng. Vì vậy nói chính xác hơn, chính hải quân và không quân Mỹ càng cần tới kẻ địch giả tưởng Trung Quốc”.

“Quan hệ Trung-Mỹ trong thế kỷ 21 hết sức quan trọng. Chỉ cần Trung-Mỹ bắt tay nhau, sẽ không ai có thể phá hoại tiến trình toàn cầu hóa. Nhưng nếu giữa Trung Quốc và Mỹ xảy ra chiến tranh thì tiến trình này sẽ hứng chịu thiệt hại nghiêm trọng chỉ trong vòng một ngày. Mỹ sẽ có thể bảo lưu quyền sinh tồn trong tiến trình toàn cầu hóa, nhưng Trung Quốc thì không. Tôi cho rằng hiện các nhà lãnh đạo của cả Trung Quốc và Mỹ đều chưa hình dung một điều rằng Trung Quốc và Mỹ đã không thể tránh khỏi việc thiết lập quan hệ liên minh chiến lược. Tôi thành thật khuyên các nhà lãnh đạo Mỹ một điều rằng: Thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc hoàn toàn khác so với thế hệ lãnh đạo thứ tư. Thế hệ lãnh đạo thứ tư của Trung Quốc chịu ảnh hưởng của Cách mạnh văn hóa ở lỳ trong nước, nhưng thế hệ lãnh đạo thứ năm sẽ đi lên từ những lưu học sinh Trung Quốc tại Mỹ trong thập niên 80 của thế kỷ 20. Tôi cho rằng thế hệ lãnh đạo thứ năm ở Trung Quốc sẽ sáng suốt hơn, hiểu rõ hơn về toàn cầu hóa và thân thiện hơn với Mỹ. Do đó các nhà lãnh đạo Mỹ phải tài trí hơn mới có thể hợp tác với Trung Quốc. Bản thân ông Bush không có kinh nghiệm ngoại giao, chính sách ngoại giao của ông ta chủ yếu bắt nguồn từ đội ngũ cố vấn ngoại giao của Bush chavà di sản ngoại giao của đảng Cộng hòa. Điều này dẫn đến chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc vẫn bị giới hạn ở tư duy chiến tranh Lạnh, cứng nhắc coi Trung Quốc là mối đe dọa của Mỹ. Sở dĩ tôi cảm thấy lạc quan về tương lai Trung Quốc và Mỹ xây dựng liên minh chiến lược là bởi vì các nhà lãnh đạo ở hai nước này sắp được thay mới. Tôi có thể nói rằng sự thay đổi mà Trung Quốc đang trải qua hiện nay chính là hình ảnh thu nhỏ của những gì đã diễn ra ở nước Mỹ trong 125 năm qua. Trên phương diện chính sách ngoại giao, Trung Quốc rất giống Mỹ hồi đầu thế kỷ 20. Chương trình vũ trụ của Trung Quốc tương tự chương trình vũ trụ của Mỹ trong những năm 1960. Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán và sự mở rộng trên quy mô lớn cơ sở hạ tầng của Trung Quốc về cơ bản tương đồng với Mỹ trong thập niên 20 của thế kỷ

20. Trên phương diện thể thao, Trung Quốc cũng giống với tình hình của Mỹ vào những năm 1950. Ngành điện ảnh Trung Quốc hiện nay gợi cho tôi nhớ tới Hollywood trong thập niên 30 của thế kỷ trước. Một số vấn đề phát sinh ở Trung Quốc như sự xung đột giữa người lao động và chủ lao động cũng như vấn đề về nông dân cũng chẳng khác nào tình hình mà Liên đoàn Lao động Mỹ phải đối mặt thời đó. Do đó, nếu quan sát Trung Quốc từ mọi khía cạnh, chúng ta có thể thấy Trung Quốc rất giống Mỹ về những gì mà nước này đã trải qua trong 125 năm trở lại đây”.

Thomas cho rằng không nên “thổi phồng mối đe dọa củaTrung Quốc”. “Đến năm 2020, phần lớn người dân TrungQuốc sẽ sinh sống ở thành thị. Đây sẽ là sự chuyển dịch dân số lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Trên thực tế, trước khi trở nên cực kỳ giàu mạnh và tạo ra mối đe dọa đối với Mỹ thì Trung Quốc đã “già” rồi. Vào năm 2036, 20% dân số Trung Quốc sẽ ở vào độ tuổi trên 65 tuổi. Dân số trên 65 tuổi của Mỹ phải mất 60 năm để tăng từ 10% lên 20%, nhưng Trung Quốc chỉ mất 19 năm. Sẽ không nước nào có tốc độ già hóa dân số nhanh đến vậy trong vòng 30 năm tới. Trong 20 năm nữa, Trung Quốc cũng là quốc gia tiềm tàng có thể thách thức Mỹ. Niềm hy vọng hay mối đe dọa mà Trung Quốc tạo ra đối với thế giới lớn hơn bất kỳ một quốc gia nào trong lịch sử. Thế nên tôi hy vọng Trung Quốc và Mỹ xây dựng liên minh chiến lược và tranh thủ đạt thỏa thuận về điều này càng nhanh càng tốt. Vì cùng với việc Trung Quốc càng ngày càng tự tin, thì cái giá để Mỹ xây dựng liên minh chiến lược với nước này càng ngày càng đắt”.

Thomas đã chỉ ra “điều kiện để Mỹ và Trung Quốc xây dựng liên minh chiến lược”. “Chúng ta đều biết rõ cái giá mà Mỹ và Trung Quốc đưa ra để xây dựng liên minh chiến lược.Trước tiên Mỹ phải hủy bỏ cam kết bảo vệ Đài Loan vô điềukiện. Kiểu điều kiện này rất nguy hiểm, nó có thể khiến ĐàiBắc kéo Trung Quốc và Mỹ vào chiến tranh. Để Đài Loan nắm giữ vận mệnh của Mỹ trong tương lai là hết sức không sáng suốt. Anh đã sớm trao trả Hồng Công cho Trung Quốc từ năm 1997. Hiện nay nhiều điều khoản thương mại của Trung Quốc đều xuất phát từ Hồng Công. Sự thay đổi của Hồng Công đối với Trung Quốc đại lục lớn hơn sự thay đổi của Trung Quốc đại lục đối với Hồng Công. Bây giờ mà Mỹ không quyết định thiết lập quan hệ liên minh chiến lược với Trung Quốc là rất không thức thời.”

Vì sao việc xây dựng liên minh chiến lược Trung-Mỹ thậm chí còn có thể là tất nhiên? Vì Trung Quốc và Mỹ đều đang thay đổi. Thomas cho rằng “Mỹ quan tâm đến đến góc nhìn mới đối với thế giới”. “Trong thế kỷ 20, Mỹ quan sát thế giới từ góc độ như sau: Thời đó người Mỹ cho rằng nếu một nước nào giống Mỹ về mặt chính trị thì nước đó là bạn của Mỹ. Mỹ là nước dân chủ, Pháp là nước dân chủ, đương nhiên hai nước này là bạn. Tương tự, người Mỹ cho rằng nếu Mỹ và một nước nào đó khác nhau về chính trị thì hai nước là kẻ thù của nhau. Cách làm này có thể khả thi trong thời kỳ chiến tranh Lạnh. Vì khi đó chính trị quốc tế và kinh tế quốc tế hoàn toàn tách rời nhau. Nhưng hiện nay trong xã hội Mỹ đã xuất hiện một số quan điểm mới về vấn đề bạn-thù. Những người giữ quan điểm mới chủ yếu thuộc thế hệ bùng nổ dân số tiếp theo, tức được sinh ra vào thập niên 80. Họ là con cái của thếhệ sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số sau Thế chiến II. Đây là thế hệ dân số đông nhất trong lịch sử nước Mỹ, với tổng số lên đến 83 triệu. Họ lớn lên trong môi trường Internet, khái niệm hữu nghị của họ hoàn toàn khác với thế hệ trước. Khái niệm ấy xuất phát từ sự cân nhắc về nhân tố kinh tế hơn là nhân tố chính trị. Trong tương lai, người Mỹ sẽ có quan điểm coi đồng minh tốt nhất của Mỹ là nước có mối liên hệ mật thiết với Mỹ về kinh tế. Trong cộng đồng quốc tế ngày nay, nước “tư bản” hơn Mỹ chính là Trung Quốc. Tôi dự báo rằng quan hệ Trung-Mỹ trong tương lai sẽ mật thiết hơn quan hệ giữa Mỹ và Nhật Bản.”

Mặc dù trong xã hội do Mỹ chủ đạo, ý tưởng “Mỹ-Trung xây dựng liên minh” của Thomas giành được sự ủng hộ lớn như thế nào, tính khả thi ra sao, nhưng tựu chung đó là lời kêu gọi mang tính khởi đầu xuất phát từ trong lòng xã hội Mỹ, là biểu hiện tích cực của sự giải phóng tư tưởng trong giới chiến lược Mỹ.

Tổng thống Washington sửng sốt khi nghe nói người Trung Quốc không phải dân da trắng

Trước năm 1830, dường như Mỹ và Canađa chưa từngxuất bản ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực Đông Á. Dù đến thập niên 80 của thế kỷ 19 thì số lượng cũng không nhiều. Chỉ bắt đầu từ thập niên 90 của thế kỷ 19, các ấn phẩm về phương diện này mới bắt đầu nhiều lên. Sau những năm 40 của thế kỷ 20, số lượng ấn phẩm về Trung Quốc ở Mỹ mới bắt đầu nhiềuhơn ở châu Âu. Trong một thời gian dài, quan điểm của Mỹvề Trung Quốc thực chất là quan điểm của châu Âu về Trung Quốc.

Bốn ngày sau cuộc khởi nghĩa Vũ Xương năm 1911, tác giả người Mỹ của bài báo mang tiêu đề “Sự dốt nát của Mỹvà ngữ văn phương Đông” đã đánh giá ngậm ngùi: “Trung Quốc, một đất nước tỉnh ngộ như kỳ tích, một đất nước có số dân chiếm tới 1/4 dân số thế giới, ấy vậy mà trong ban biên tập báo chí của Mỹ lại không tìm nổi người nào thành thạo tiếng Hoa, cũng không có ai từng tiếp xúc với quốc gia này.Để có những kiến thức trực tiếp và tìm hiểu cách nghĩ của người dân dân tộc vĩ đại này, chỉ có thể dựa vào những tin tức hữu quan được đăng tải trên các xuất bản phẩm ở Thượng Hải và Hồng Công. Thật vô lý và nực cười”.

Năm 1785 sau khi biết người Trung Quốc không phải dân da trắng, Tổng thống Washington đã cảm thấy hết sức sửng sốt. Từ năm 1902, Mỹ mới bắt đầu nghiên cứu Trung Quốc. Năm 1863, chỉ có ba phiên dịch trong tám lãnh sự quán của Mỹ tại Trung Quốc. Tăng cường kết nối các nền văn minh góp phần hóa giải sự xung đột giữa các nền văn minh. Hiểu lầm có thể gây thù chuốc oán nhưng giao lưu và hiểu biết có thể tạo ra bạn bè. Người Mỹ cần có quan điểm đúng đắn về Trung Quốc, ngược lại người Trung Quốc cũng cần có quanđiểm đúng đắn về Mỹ. Đào tạo các chuyên gia hiểu biết cả về Trung Quốc và Mỹ ở mỗi nước sẽ đóng góp cho việc thiết lập quan hệ Trung-Mỹ hữu hảo lành mạnh.

Quan điểm “cảnh giác kẻ thù” của Liễu Tôn Nguyên và “nghiện địch” của Mỹ

Một đất nước do có sự tồn tại của kẻ thù mà duy trì sự cảnh giác và giàu chí tiến thủ. Nhưng nếu mất đi kẻ thù, không có đối thủ và sự cảnh tỉnh, không có cạnh tranh và thách thức, sẽ dễ dàng trở nên buông lỏng mà dẫn đến suy thoái, thậm chí là diệt vong. Hiện tượng này đã xảy ra nhiềulần trong lịch sử. Tác phẩm mang tựa đề “Địch giới” của nhàvăn, nhà triết học nổi tiếng đời Đường Trung Quốc, Liễu Tôn Nguyên, đã làm sáng tỏ sâu sắc đạo lý này.

Địch giới (nguyên văn) Giai tri địch chi thù, nhi bất tri vi ích chi vưu; giai tri địch

chi hại, nhi bất tri vi lợi chi đại. Tần hữu lục quốc, cảng cảng dĩ cường; lúc quốc ký trừ, di di nãi vong. Tấn bại Sở Yên, phạm văn vi hoạn. Lệ chi bất đồ, cử quốc tạo oán. Mạnh Tôn ác tang, mãnh tử tang tuất; dược thạch khứ hĩ, ngô vong vô nhật. Trí năng tri chi, do tốt dĩ nguy; thẩn chi kim nhân, tăng bất thị tư.Địch tồn nhi cụ, địch khứ nhi vũ, phế bị tự doanh, đê ích vi dũ.Địch tồn diệt họa, địch khứ triệu quá. Hữu năng như thử, đạo đại danh bá. Trừng bệnh khắc thọ, căng tráng tử bạo, tung dục bất giới, phỉ ngu y mạo. Ngã tác giới thi, tư giả vô cữu.

Cảnh giác kẻ địch (bản dịch)

Ai cũng biết kẻ địch có mặt thù địch với mình, nhưng không hẳn đã hiểu được rằng kẻ địch cũng có ích cho bản thân. Ai cũng biết kẻ địch có mặt hại nhưng không hẳn đã hiểu được rằng kẻ địch cũng có mặt lợi cho bản thân. Tần có sáu nước là kẻ địch, do đó mới cẩn trọng và phát triển giàu mạnh lên. Sau khi đã tiêu diệt sáu nước, nhà Tần trở nên kiêu căng tự mãn và không lâu sau thì bị diệt vong. Quân đội nước Tấn đánh tan quân Sở ở Yên Lăng, đại phu nước Tấn Phạm Văn Tử cảm thấy lo âu. Tấn Lệ Công không nghe lời khuyên răn cần cảnh tỉnh của Phạm Văn Tử, ngày càng ngang tàng, khiến lòng căm thùsôi sục trên cả nước, rốt cuộc bị sát hại. Đại phu nước Lỗ Mạnh Tôn Tốc căm ghét đại phu Tang Tôn Hột. Sau khi Mạnh Tôn Tốc qua đời, Tang Tôn Hột cảm thấy lo âu. Khi đến nhà Mạnh Tôn Tốc để phúng viếng, Tang Tôn Hột khóc lóc đau khổ, nói rằng Mạnh Tôn Tốc căm ghét tôi, đây dường như là liều thuốc bổ có thể giúp tôi chữa bệnh. Bây giờ ông ta chết rồi, không còn thuốc tôi cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa.

Người sáng suốt hiểu đạo lý này rốt cuộc cũng có thể lâm nguy, huống chi ngày nay một số người còn không hề suy nghĩ về đạo lý đó. Có kẻ thù thì sợ hãi, không có kẻ địch thì vênh váo, không lo phòng bị, đắc ý tự mãn, còn gây ra tai họa lớn hơn. Có địch mới có thể đề cao cảnh giác, có thể trừ bỏ tai họa. Không có địch thì tư tưởng buông thả, sẽ dẫn đến sai lầm. Người có thể hiểu đạo lý này sẽ có đức hạnh bao la, thanh danh lan truyền. Người có thể phòng bệnh mới có thể sống lâu. Người cậy mình khỏe mạnh lại dễ chết vì bạo bệnh. Người mặc sức buông thả ham hố mà không biết cảnh giác không phải kẻ ngốc mà là đồ vô lại. Bài “địch giới” do tôi viết này, người nào có thể suy xét đạo lý trong đó thì có thể trừ bỏ sai lầm và tai họa.

Bài văn ngắn “Địch giới” dài 144 chữ này đã làm sáng tỏ ngọn ngành mối quan hệ giữa các sự vật đối lập. Bài văn chỉ ra rằng: Sự tồn tại của kẻ thù tuy có hại, nhưng nếu có quan niệm sâu sắc về kẻ thù, có thể đề phòng kẻ thù, luôn luôn sẵn sàng, quyết chí tự cường, thì có thể biến hại thành lợi. Nếu mất đi mặt đối lập, sẽ quên hết tất cả và chắc chắn sẽ dẫn đến cái họa khôn cùng. Tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ý thức về gian nan khổ cực.

Bài “Địch giới” của Liễu Tôn Nguyên đã nêu lên một phép biện chứng chính trị, tức là khi có quốc gia thù địch, phải đề phòng kẻ thù, luôn luôn sẵn sàng, nhưng khi kẻ thù không còn nữa cũng không được lơ là, buông thả. Như vậy mới cóthể bất bại trong thời kỳ cả có địch lẫn không có địch. “Địch giới” của Liễu Tôn Nguyên và “nghiện địch” của Mỹ hoàn toàn khác nhau. Tư tưởng “nghiện địch” của Mỹ là một kiểu chủ nghĩa thực dụng cố ý tạo ra kẻ thù để duy trì mặt đối lập nhằm cổ vũ bản thân, coi những nước vốn không phải kẻ thù lại là kẻ thù để định vị, đối xử và lợi dụng, qua đó đáp ứng nhu cầu chính trị của Mỹ.

Đi theo con đường mới “không có kẻ thù vĩ đại, vẫn có nước Mỹ vĩ đại”

Mỹ là nước không có kẻ thù thì không thể phát triển, không có kẻ thù vĩ đại thì không có đất nước vĩ đại. Vì vậy, tìm kiếm và tạo ra kẻ thù vĩ đại đã trở thành nhiệm vụ chiến lược hàng đầu trong mục tiêu của Mỹ duy trì sự vĩ đại. Một khi không tìm được kẻ thù vĩ đại hay nhất thời không làm được điều này, Mỹ sẽ xuất hiện “sự hoang mang chiến lược” và căn bệnh “thiếu kẻ thù” sẽ thêm trầm trọng. Vì vậy, trên thế giới này, Mỹ bắt buộc phải xác định một quốc gia thù địch nào đó, để nước này phát huy vai trò và góp phần tạo nên sự vĩ đại của nước Mỹ ở vị thế “kẻ thù”.

Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, Mỹ luôn đựa vào luôn bám vào trọng tâm kiềm chế Liên Xô để đề ra chiến lược toàn cầu. Sự sụp đổ của Liên Xô khiến nước Mỹ mất đi đối thủ chiến lược, mà chiến lược bá chủ, tư duy bá chủ và lợi ích bá chủ của Mỹ đòi hỏi phải có một quốc gia thù địch làm cái bia chiến lược của nước này. Mỹ phải khuyếch đại kẻ thù để hội tụ sức mạnh trong nước, vận động và kiểm soát sức mạnh của nước đồng minh, duy trì thế mở rộng quân sự và chuẩn bị chiến tranh, đảm bảo lợi ích của các tập đoàn sản xuất vũ khí. Vì vậy mặc dù Liên Xô tan rã khiến người Mỹ hả hê trong giây lát, nhưng rồi sẽ nhanh chóng xuất hiện cảm giác mất mát sâu sắc, mắc phải chứng bệnh rầu rĩ thiếu kẻ thù. Chính sách và công việc mọi mặt của Mỹ mất đi phương hướng. Tinh thần tiến thủ trong chiến đấu của những con người ưu tú Mỹ bị giảm sút và nước Mỹ thiếu đi sức sống. Mỹ phải nhanh chóng tìm ra một kẻ thù trên thế giới. Trong khi đó, chủ nghĩa khủng bố trở thành kẻ thù của Mỹ không thể khỏa lấp khoảng trống trong tư duy chiến lược của người Mỹ. Ngoài kẻ thù hiện thực đang phải đối mặt hiện nay, người Mỹ cảm thấy bắt buộc phải tìm ra một quốc gia thù địch tiểm tàng đóng vai trò như một kẻ thù tiềm tàng nặng ký của Mỹ về mặt lâu dài.

Cường quốc số một thế giới như Mỹ phải có một nước lớn có thể đối trọng với họ làm kẻ thù, mới có thể đáp ứng nhu cầu chiến lược của Mỹ với kẻ thù. Thế nhưng thời thế đã không còn như trước nữa, tư duy chiến lược truyền thống “không có kẻ địch, không có động lực” của Mỹ phải thay đổi.

Một quốc gia phải có ý thức về hoạn nạn, nhưng đó không phải ý thức “gây thù chuốc oán” của con người. Một quốc gia có quan niệm về thù địch, phải nhìn thấy kẻ thù của mình. Nhưng kẻ thù ấy phải là thực chứ không phải hư, phải là khách quan chứ không phải chủ quan. Nếu kẻ thù được sử dụng là hư cấu, kẻ thù nhằm vào không phải là kẻ thù tồn tại khách quan thực sự, mà là kẻ thù được tạo ra theo nhu cầu chủ quan, thì kiểu tư duy và hành vi lấy “kẻ thù chủ quan” thay thế “kẻ thù khách quan”, “không có kẻ thù mà cố tình tạo ra kẻ địch”, “coi người không phải kẻ thù lại là kẻ thù”, cuối cùng sẽ dẫn đến kết quả hại mình, hại người và hại cả thế giới.

Trong chính trị quốc tế, vấn đề “kẻ thù” còn tồn tại một quan hệ quan trọng phải làm rõ, đó là mối quan hệ giữa “kẻ thù của quốc gia” và “kẻ thù của thời đại”. Là một quốc gia bá chủ, luôn liệt những quốc gia và sự vật không phù hợp với lợi ích bá chủ của mình vào phạm trù “kẻ thù ”, nhưng bản thân bá chủ lại chính là kẻ thù của thời đại, kẻ thù của thế giới. Trên thế giới bá chủ không được nhân tâm, trong cộng đồng quốc tế nước bá chủ không được “quốc tâm”, nước bá chủ là nước trở thành kẻ thù của thế giới.

Trong thời đại mà hòa bình, phát triển và hợp tác trở thành xu hướng chủ đạo trên thế giới, giữa các nước với nhau, đặc biệt các nước lớn, vẫn có quan hệ cạnh tranh, dẫn đến quan hệ đối thủ, quan hệ đối thủ giữa các nước lớn không nhất thiết phải dấu diếm, Nhưng “đối thủ” không phải là “địch thủ”, “đối thủ” không phải là “kẻ thù”, “đối thủ cạnh tranh chiến lược” không phải là “địch thủ hay kẻ thù”.

Không có kẻ thù vĩ đại, không có nước Mỹ vĩ đại, đây có thể chính là câu chuyện của nước Mỹ trong dĩ vãng. Nhưng Mỹ đã đi hết trên con đường thành công dựa vào kẻ thù vĩ đại dể duy trì nước Mỹ vĩ đại đó. Nếu tiếp bước trên con đường này, nước Mỹ không những không trở nên vĩ đại mà còn có khả năng rơi vào tình trạng cô độc và suy yếu.

Nước Mỹ đã tiến đến một bước ngoặt lịch sử phát triển, đó là phải đi theo con đường mới “không có kẻ thù vĩ đại, vẫn có nước Mỹ vĩ đại”. Mỹ phải học cách có thể xây dựng mộtnước Mỹ vĩ đại trong bối cảnh không có kẻ thù vĩ đại. Đây là một vấn đề quan trọng và mới mẻ trong sự đổi mới chiến lược của Mỹ.

 

 

 

Kỳ sau: 7. Mỹ: Nhà nước nửa dân chủ

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59