Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (kỳ 29)

CHƯƠNG 7

NƯỚC LỚN  TRỖI DẬY PHẢI CÓ QUÂN ĐỘI HÙNGMẠNH

Trong thế kỷ 21, Trung Quốc muốn trỗi dậy, đối phó với mối đe doạ của Mỹ, đảm bảo không xảy ra đại chiến Trung-Mỹ, thì phải sở hữu quân đội hùng mạnh. Đây là sự đầu tư cho an ninh, đầu tư cho phát triển và đầu tư cho trỗi dậy mà Trung Quốc phải thực hiện. Trung Quốc phải biến một phần sức sản xuất thành sức chiến đấu, biến một phần tài sản thành khả năng quân sự và biến một số “túi tiền” thành “túi đạn”.

1. “Phục hưng vĩ đại” kêu gọi “tinh thần thượng võ”

Từ mùa thu năm 1894 tại Đàn Hương, Tôn Trung Sơn thành lập “Hưng Trung hội” và đề ra khẩu hiệu “Chấn hưng Trung Hoa”, đến cuối thế kỷ 20 lãnh tụ Đảng Cộng sản Trung Quốc đề ra mục tiêu “Tiến hành cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, một thế kỷ trở lại đây, dân tộc Trung Hoa đã đấu tranh, nỗ lực phấn đấu trên con đường chấn hưng và phục hưng. Giờ đây Trung Quốc đang trỗi dậy, công cuộc phục hưng đang được tiến hành, dân tộc vẫn cần phải nỗ lực. Mà thực hiện cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa, phải phục hưng tinh thần thượng võ của dân tộc Trung Hoa.

Trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, tinh thần thượng võ mang những hàm ý khác nhau. Trong thế kỷ 21, tinh thần thượng võ của Trung Quốc trong tiến trình trỗi dậy mạnh mẽ và phục hưng vĩ đại, là tinh thần dám xông pha vì sức sống và sự sinh tồn của dân tộc, là tinh thần dám tăng cường sức mạnh quân đội vì sự nghiệp phục hưng vĩ đại của đất nước và là tinh thần dám tiến hành chiến tranh vì hoà bình và phát triển.

Trung Quốc thời Hán Đường: “Trung Quốc anh hùng”

Ngày 23/6/1924 khi tiếp đại diện công đoàn của Philíppin, Tôn Trung Sơn nói: “Hai nghìn năm trước, Trung Quốc cực mạnh, không chỉ hùng cứ phương Đông mà còn uy chấn châu Âu”.

Từ hai nghìn năm trước Trung Quốc đã có thể hùng cứ phương Đông, nền tảng của sự “hùng cứ” này chính là tinh thần thượng võ. Trong các thời đại khác nhau, tinh thần thượng võ của dân tộc Trung Hoa có các nhân vật đại diện và hình thức biểu hiện khác nhau. Mà trong thời đại đặt nền móng và thời đại cao điểm, có ba nhân vật anh hùng đóng những vai trò mang tính cột mốc đối với sự hình thành tinh thần thượng võ và sự sáng tạo văn hoá thượng võ của dân tộc Trung Hoa.

Đầu tiên là Tần Thủy Hoàng. Ông tập trung truyền thống thượng võ của quá trình chinh chiến kéo dài thời Xuân Thu ngũ bá và Chiến quốc thất hùng, bình định sáu nước trong chiến tranh thống nhất Trung Quốc, tiến hành thống nhất thiên hạ. Là vị hoàng đế thiên cổ thống nhất Trung Quốc bằng vũ lực, thực tiễn thành công trong công cuộc thống nhất thiên hạ của Tần Thủy Hoàng đã chứng minh đạo lý: Không có tinh thần thượng võ thì không có sự thống nhất Trung Quốc. Tinh thần thượng võ của Tần Thủy Hoàng thể hiện nổi bật ở sự “thượng thống”, tức chủ trương thống nhất đất nước, tiến hành thống nhất thiên hạ.

Người thứ hai là Hán Vũ Đế. Tính cách dân tộc mà ông thể hiện ra không chỉ là yêu chuộng hòa bình mà còn không sợ chiến tranh. Văn hóa chính trị ngoại giao và quân sự của Hán Vũ Đế không chỉ là văn hóa “hòa thân” mà còn là văn hóa chinh phạt, không chỉ là văn hóa phòng ngự mà còn là văn hóa tấn công. Trung Quốc thời Hán Vũ Đế nếu chỉ yêu chuộng hòa bình mà không dám tiến hành chiến tranh, nếu chỉ dựa vào “hòa thân” và phòng ngự, thì kết quả không phải là quân Hung Nô bị đánh đuổi mà là Trung Nguyên phải chịu ách nô dịch. Thực tiễn thành công của Hán Vũ Đế qua việc lấy vũ lực đánh bại Hung Nô, lấy tấn công trừ bỏ quốc hoạn đã chứng minh một đạo lý: Không có tinh thần tấn công, về căn bản khó có thể loại trừ mối ưu lo về sự sinh tồn của dân tộc, khó có thể giúp đất nước giành quyền chủ động chiến lược để tồn tại lâu dài và phát triển ổn định. Tinh thần thượng võ trong Hán Vũ Đế được biểu hiện nổi bật ở tinh thần tấn công và tinh thần viễn chinh. Mà Trung Quốc từ sau đời Tống, do thiếu tinh thần tấn công và tinh thần viễn chinh này nên bờ cõi liên tục bị xâm phạm, rốt cuộc luôn ở trong tình trạng tranh cãi không ngớt, kiềm chế và trì hoãn giữa chủ hòa và chủ chiến, đi đến chỗ thất bại và diệt vong trong sự thỏa hiệp bị động tiêu cực, nhẫn nhịn và bất lực.

Người thứ ba là Đường Thái Tông Lý Thế Dân. Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Đường được gọi là “Đại Đường”. Cái “đại” của Đại Đường không chỉ được thể hiện ở lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên dồi dào và tư tưởng khoáng đạt mở cửa với thế giới, mà còn là sự “hùng mạnh” vô song trên thế giới khi đó. Vào thời thịnh Đường “vạn quốc lai triều” (nhiều nước đến cống nạp), chứng tỏ cái ân (sức mạnh mềm) và cái uy (sức mạnh cứng) của nhà Đường đều đạt đến mức tột đỉnh. Sự huy hoàng của Đại Đường trong lịch sử Trung Quốc đã chứng minh một đạo lý: Thượng võ phải thượng cường, một dân tộc thượng võ nhất định phải là một dân tộc thượng cường, không chỉ là một dân tộc “thượng phú”. Nếu chỉ tôn sùng của cải, không thể kết hợp giữa phú và cường thì kết quả ắt sẽ là càng giàu càng nguy.

Tần Hoàng nhất thống, Hán Đường hùng phong, không chỉ lập nên công trạng đương thời mà còn gây dựng cơ nghiệp ngàn thu. Các thời kỳ hoàng kim trong lịch sử Trung Quốc đều được tạo nên bởi sức mạnh vũ trang, được xây dựng trên cơ sở thiện chiến thượng võ và hùng mạnh quân sự. Khí phách ngạo nghễ dẹp tan sáu nước của Tần Thủy Hoàng, sự quyết đoán lấy công làm thủ, viễn chinh vạn dặm mà Hãn Vũ Đế thể hiện trong cuộc thảo phạt Hung Nô và tư tưởng hào hùng mở ra cục diện “vạn quốc lai triều” bằng võ công cái thế của Đường Thái Tông, đã thể hiện tính chiến đấu quý báu của dân tộc Trung Hoa. Đó là cái gien trong tinh thần thượng võ của dân tộc Trung Hoa. Người đời sau do tính chiến đấu của tổ tiên suy yếu nên kết quả phải chịu bao tủi nhục. Tính chiến đấu của dân tộc Trung Hoa thay đổi đã dẫn đến nhiều bi kịch trong lịch sử. Chỉ sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc bước lên vũ đài lịch sử Trung Quốc thì tính chiến đấu của dân tộc Trung Hoa mới lại được nêu cao và phát huy.

Có thể nói tinh thần thượng võ của dân tộc Trung Hoa được thể hiện đầy đủ trong tinh thần thống nhất đất nước của Tần Thủy Hoàng, tinh thần viễn chinh tấn công của Hán Vũ Đế, tinh thần lập quốc, cường quốc bằng sức mạnh quân sự của Đường Thái Tông và tinh thần chiến đấu cứu quốc, vệ quốc bằng chiến tranh chính nghĩa của Mao Trạch Đông.

Có một câu nói hài hước: Có một người chủ trương thay đổi con vật biểu tượng của Trung Quốc từ “rồng” thành “gấu trúc”. Lý do là “long ” của Trung Quốc trong tiếng Anh là “dragon”, nghĩa tiếng Anh là con vật khổng lồ đầy hung hãn và bạo ngược. Rồng trong thiên hạ khiến người khác cảm thấy bị đe dọa, bất an. Rồng đại diện cho Trung Quốc cổ đại. Còn bây giờ lấy gấu trúc để làm con vật biểu tượng của Trung Quốc. Vì gấu trúc hiền lành, không có khả năng tấn công, khiến mọi người yêu qúy. Cuộc tranh cãi về biểu tượng rồng này vẫn còn nhiều ngụ ý.

Gấu trúc thể hiện sự may mắn nhưng không đại diện cho sự an toàn. Gấu trúc Trung Quốc là động vật có nguy cơ tuyệt chủng, có thể sinh sôi và phát triển dựa vào sự bảo vệ đặc biệt của nhà nước, mà sự an toàn và trỗi dậy của một nước lớn thì không có người nào khác có thể che chở để đạt được.

Tinh thần thượng võ là trụ cột và cốt cán của nền tảng tinh thần và văn hóa của nhà nước và dân tộc. “Văn hóa” mà không có “võ hóa”, văn hóa mà không có tinh thần thượng võ thì chỉ là một khối mỡ văn hóa mà thôi. Muốn thực hiện cuộc chấn hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa, phải phục hưng tinh thần thượng võ, chấn hưng sự hùng phong của Hán Đường.

Trung Quốc từ sau thời nhà Tống: “Trung Quốc nhu nhược”

Ưu thế thiện chiến thượng võ của dân tộc Trung Hoa phát huy bình thường từ thời Đường trở về trước, nhưng sau này tinh thần ấy đã bị phai nhạt và suy yếu. Từ “quân tử” từng hàm chứa ý nghĩa “dũng sĩ” trong thời Tiên Tần, về sau đã trở thành đại danh từ “người khiêm tốn” mang ý nghĩa nho nhã yếu đuối. Nhiều người cai trị trong lịch sử chú trọng phát triển giáo dục, cả dân tộc vùi đầu làm kinh tế, những con người ưu tú vùi đầu nghiên cứu sách vở, bao nhiêu sinh lực đều dồn cả vào sách vở nho gia. Đối ngoại thì thỏa hiệp nhượng bộ, triết học chủ hòa trở thành triết học chủ đạo, phe chủ hòa phần lớn là phe chủ đạo, phe chính. Kết quả là giang sơn tươi đẹp bị kẻ địch dày xéo, tài sản văn minh trở thành con mồi của những kẻ mạnh, đến nỗi trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, lãnh tụ hoa kiều ái quốc Trần Gia Canh nói với phe chủ hòa, phe đầu hàng: “Địch chưa đến mà đòi giảng hòa thì là Hán gian”. Khi làm hiệu trưởng ở Đại học Bắc Kinh, Thái Nguyên Bồi cũng đặc biệt nhấn mạnh phải đào tạo bồi dưỡng tinh thần thượng võ cho học sinh, đảo ngược mặt nhu nhược trong văn hóa của Trung Quốc. Nhà Tống là một bước ngoặt của sự nhược hóa trong tinh thần thượng võ của dân tộc Trung Hoa. Sự giáo huấn tinh thần thượng võ của nhà Tống thể hiện ở năm phương diện:

-Quốc sách cơ bản trọng văn khinh võ. Cách thức Nhà Tống lập nước khác với nhà Hán, nhà Đường. Triệu Khuông Dẫn thông qua cuộc binh biến Trần Kiều mà đăng cơ. Ông ta rút ra bài học từ việc quân đội lập hoàng đến trong thời kỳ ngũ đại, nhằm kiểm soát quân quyền, ngăn ngừa chính biến quân sự, ông ta áp dụng quốc sách trọng văn khinh võ. Nhà Tống thực hiện nguyên tắc “văn nhân quản binh”, chính quyền tôn trọng ưu đãi quan văn trong khi coi khinh và chèn ép quan võ. Lưu Khắc Trang thời Nam Tống có bài thơ viết: “Tiên hoàng lập quốc dụng văn nho, kỳ sĩ đa vi bút mạc câu”. Nhà Tống tuy có thể tạm thời thống nhất trung nguyên, nhưng trước sau không thể xây dựng sức mạnh nhà nước cường thịnh như thời Tùy Đường, không có phong thái và khí phách của một đế quốc lớn, luôn ở thế an phận, không thể giải quyết hoạn ngoại xâm và chống xâm lược, tạo nên sự tương phản rõ nét giữa “cường Đường” và “nhược Tống”.

-Sai lầm trong tư tưởng chiến lược. Điều này được thể hiện nổi bật qua chủ trương “tiền Nam hậu Bắc” và “định đô ở Khai Phong”. Triệu Khuông Dẫn khi lập nước không tiếp tục áp dụng chiến lược Bắc phạt của Chu Thế Tông (Hậu Chu), mà đi nghe lời Triệu Phổ, đưa ra một quyết sách quan trọng nhưng không sáng suốt là thay đổi chiến lược Bắc phạt ban đầu, áp dụng kế hoạch tác chiến tiền Nam hậu Bắc. Vì khi đó các nước ở miền Nam tương đối nhược tiểu, dễ chinh phục, trong khi nước Liêu ở miền Bắc lại khá hùng mạnh, khó lòng đánh bại, do vậy mà thấy dễ làm trước. Đây thực sự là quyết định sai lầm, đợi bình định xong miền Nam rồi mới thảo phạt miền Bắc thì binh lực đã cùng kiệt, cơ hội chiến lược đã tuột qua, nên nhà Tống đánh mất cơ hội thống nhất miền Bắc, chính quyền yên phận cũng trở nên nhu nhược. Tống Thái Tổ đợi bình định xong miền Nam mới bắt đầu thảo phạt phương Bắc, khi còn sống ba lần tấn công đều thất bại. Chính trị gia phải nhân lúc sĩ khí cực thịnh, quốc uy cực lớn vào lúc lập quốc mà tấn công kẻ địch mạnh trước tiên. Nguyên nhân quan trọng của việc Nhà Tống trước sau yên phận, không thể thống nhất cả nước Trung Quốc, chính là sự sai lầm trong quyết sách chiến lược tiền Nam hậu Bắc. Mà việc nhà Tống định đô ở Khai Phong, xét từ quan điểm địa chiến lược, là một quyết sách không thích hợp. Vì trong tình hình khi đó, nếu kẻ địch sử dụng kỵ binh đánh thẳng xuống, chỉ mất hai đến ba ngày là có thể đến bờ bắc sông Hoàng Hà. Mà Khai Phong nằm ở bờ nam Hoàng Hà, địa hình bằng phẳng không có thế phòng thủ. Do trong thời Ngũ Đại Khai Phong luôn được đặt làm kinh đô, nơi này lại có đường thủy thuận tiện, trong khi Trường An, Lạc Dương lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, nên đó là lý do của quyết định đóng đô ở Khai Phong, nhưng là quyết sách lấy lợi trước mắt để cầu an, reo rắc hậu họa cho nhà Tống.

-Thiếu cơ chế chiến lược. Điều này thể hiện ở sự “cường cán nhược chi” và “kiểm soát phân quyền”. Nhà Tống áp dụng thể chế tập quyền trung ương, làm suy yếu địa phương. Châu huyện địa phương không những không có quân lực để tự vệ mà cũng không có tài lực để xây dựng. Đặc biệt ở phương diện binh dịch, binh lính chủ yếu được chiêu mộ, mà đến tòng quân là những kẻ liều mạng, tố chất không tốt. Sau đó những kẻ tương đối tốt được đưa đến tập trung tại đô thành, gọi là “cấm quân”, những kẻ kém cỏi còn lại được phân về địa phương, gọi là “tương quân”, những người này không hề có sức chiến đấu nhưng cũng ăn cơm lính như nhau. Ngoài ra, đến tội phạm cũng được đưa vào trại làm lính, đây chính là nguồn gốc của từ “sung quân”. Trong Thủy Hử có nhiều phần miêu tả về phương diện này. Nhà Tống thực hiện nguyên tắc kiểm soát phân quyền, nhưng do kiểm soát quá mức mà gây bất lợi. Giữa vua, tể tướng và quan ngự sử thực hiện kiểm soát nhưng không cân bằng, dẫn đến nền chính trị bị tê liệt. Uy quyền của tể tướng thời nhà Tống kém xa so với thời nhà Đường, không được hỏi trước về tình hình quân chính, mà quyền ra quân lệnh lại thuộc về Viện khu mật ( như bộ tham mưu). Vấn đề tài chính do ba ti (Ti bộ hộ, Ti diêm thiết, Ti độ chi sứ) quản lý, không chịu sự chi phối của tể tướng. Quan ngự sử quyền uy lớn, có thể phê phán về bất cứ vấn đề nào. Triệu Khuông Dẫn có lời thề: “Không giết đại thần và quan ngự sử”. Do đó họ không biết sợ là gì, dám khơi lên những cuộc tranh luận kịch liệt, khiến chính phủ khó có thể đưa ra quyết sách trong lúc nguy cấp. Câu nói “người Tống chưa bàn xong thì quân đã vượt sông” đã lột tả hết thực tế này.

-Sự xa rời giữa học thuyết quân sự và thực tiễn quân sự. Nhà Tống tuy nhu nhược và không thịnh vượng, cuối cùng bị diệt vong bởi nạn hoạn ngoại xâm, nhưng có một điều lạ là Bắc Tống có trình độ phát triển đáng kinh ngạc trên hai phương diện võ học và binh thư, thể hiện sự phồn thịnh chưa từng có tiền lệ. Chính quyền Bắc Tống mở trường vũ học, đặt định mức võ kinh, sau đó phát triển đến mức các châu huyện đều lập trường võ học, đồng thời tạo ra học vị tiến sĩ võ học. Vua ra lệnh biên soạn binh thư thứ bảy của Tôn Tử làm sách giáo khoa chuẩn, trở thành “ngũ kinh thất thư” lưu truyền hậu thế. Ở thời Bắc Tống, văn nhân luận binh trở thành một nếp sống. Sau khi rời đô về phương Nam, nếp sống này vẫn thịnh hành. Chỉ tiếc là vào thời nhà Tống, những người có tài luận binh tuy nhiều, song những người thực sự có tài dụng binh thì ít. Một nhà Tống nhu nhược và không thịnh vượng để lại một khối lượng binh thư nhiều hơn bất cứ một triều đại nào trước đây. Điều này tất nhiên là do nhà Tống phát minh ra kỹ thuật in ấn, đặc biệt vào năm 1045 khi Tất Thăng phát minh ra bản chữ in linh hoạt, khiến thư tịch quân sự đời Tống lưu lại nhiều hơn cho hậu thế. Nhưng điều này cũng chứng tỏ một điều rằng lý luận quân sự đời Tống mạnh mà thực tiễn quân sự kém, chỉ là một mớ lý thuyết xuông.

-Sự đối lập giữa số lượng và chất lượng của quân đội. Nhà Tống là vương triều giàu có nhất trên thế giới, nhưng không phải là vương triều nước giàu quân mạnh mà là vương triều nước giàu quân yếu. Quân đội nhà Tống quy mô đồ sộ nhưng cồng kềnh, có số lượng mà không có chất lượng. Theo dõi bảng dưới đây có thể thấy quy mô về số lượng của quân đội nhà Tống.

 

Từ Thái Tổ đến Nhân Tông cách nhau chưa đầy 100 năm, nhưng số lượng binh sĩ nhà Tống đã tăng lên hơn sáu lần, những nguyên nhân chính gồm: tỷ lệ binh sĩ đào tẩu rất cao, hao tổn chiến tranh lớn, ăn khống là chuyện công khai, trong những năm tháng chiến tranh ác liệt còn chiêu mộ cả những người đói ăn làm lính, coi binh dịch là công cụ cứu vớt sự nghiệp. Binh sĩ chiêu mộ phải phục dịch cả đời từ 20-60 tuổi, trong khi thời gian phục vụ thực sự chỉ có 20 năm, 20 năm còn lại là ăn không cơm lính. Tương quân không có sức chiến đấu nhưng cũng hưởng khẩu phần binh sĩ cho tới đến lúc chết. Nuôi quân hàng triệu nhưng trong đó ít nhất 40 vạn là tương quân, trong số 60 vạn cấm quân thì có tới 1/3 là già yếu. Cộng cả những hao hụt khác thì số binh sĩ có thể sử dụng thực sự nhiều nhất không vượt quá 30 vạn. Quân đội sinh hoạt biếng nhác, nghe nói “vệ binh vào trại không tự mang chăn mà sai kẻ khác mang, nhận phần ăn không tự cầm mà sai kẻ khác cầm”, đúng là lính mà tính quan. Chi phí nuôi quân thời nhà Tống chiếm đến 5/6 tổng thu nhập. Một quân đội như vậy là một tập hợp hoàn toàn nhu nhược, vận hạn của nhà Tống cũng vì lẽ đó là không thể tránh khỏi.

Nhà Tống bạc nhược khiến Trung Quốc phải trả giá nặng nề. Hai lần tộc Hán bị hai dân tộc thiểu số Mông Cổ và Mãn Thanh ở vùng biên giới chinh phục. Đó đó là biểu hiện điển hình của cái giá phải trả cho sự nhu nhược này. Mà sự suy yếu tinh thần thượng võ lại hình thành nên một kiểu thế lực quen thuộc, sự nhu nhược của tính cách dân tộc trở thành một kiểu văn hóa được thừa nhận một cách ngấm ngầm, khiến những người dân tộc thiểu số thiện chiến đầy dũng khí một khi đã đặt chân vào trung nguyên thì thì# trong một thời gian không lâu sự nhu nhược này đã phải trả giá và bị cuốn đi theo dòng lịch sử.

Trung Quốc sau chiến tranh Nha Phiến: “Trung Quốc chịu đòn”

Ngày 20/10/1919, trong lời tựa cuốn “Tinh võ bản kỷ”, Tôn Trung Sơn nói: “Dân tộc ta là dân tộc ôn hòa. Chú#ng ta không giỏi đánh nhau, dân tộc ta ở trong thời đại cạnh tranh gay gắt, không biết tự vệ, thì không thể thích nghi tồn tại. Tôi nghiên cứu những cuộc chiến tranh thởi kỳ cận đại nổ ra, luôn là do vấn đề nước yếu đưa tới. Một dân tộc ôn hòa, giỏi tự vệ, thì sẽ không có chuyện nước mạnh bắt nạt nước yếu.”

Đúng như Tôn Trung Sơn nói, do tinh thần thượng võ của dân tộc Trung Hoa bị suy yếu trong một thời gian dài, không thiện chiến, không biết đường tự vệ, nên trong thời kỳ cạnh tranh quyết liệt, sẽ không thể thích nghi mà tồn tại. Vấn đề “không thiện chiến” của Trung Quốc được thể hiện sâu sắc trong hơn 100 năm kể từ khi các nước phương Tây tấn công Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Nha Phiến năm 1840 đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật. Thời kỳ này, không đánh không được mà đánh ắt sẽ thua, thua thì phải cắt đất bồi thường. Trong số các nước phương Tây, có nước đơn phương tấn công, nhưng cũng có những nước liên kết với nhau đến đánh. Trung Quốc vừa đối diện với nguy cơ bị các cường quốc xâu xé, vừa đứng trước hiểm họa bị Nhật Bản độc chiếm. Giữa tình cảnh này, Trung Quốc như một con cừu to béo bị một bày lang sói bao vây rượt bắt.

Dân tộc không có tinh thần thượng võ là dân tộc không có quyền sinh tồn. Trước khi xảy ra chiến tranh Nha Phiến, một số nhà truyền giáo đã nhìn ra thực tế rằng đế quốc Trung Hoa tuy lớn mà không có sức mạnh, yếu mà không có khả năng vũ trang, đã trở thành một dân tộc không thượng võ, không thiện chiến, thế là sử dụng biện pháp vũ lực cứng rắn để buộc Trung Quốc mở cửa. Có người vì lẽ đó mà đi thu thập thông tin tình báo và tham gia chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Trong đó, trường hợp của Charles Gutzlaff là khá điển hình. Gutzlaff là người Phổ, ông được hội truyền giáo Hà Lan cử đến vùng Viễn Đông. Về sau Gutzlaff tách khỏi hội này năm 1829 và đi truyền giáo tự do. Từ năm 1831, ông ta từng 10 lần đi thuyền khảo sát vùng duyên hải Đông Nam Trung Quốc, thu thập một lượng thông tin tình báo lớn. Ông phát hiện ra rằng Chính phủ nhà Thanh quân sự không phát triển, phòng vệ lỏng lẻo, vũ khí lạc hậu, vì vậy đi đến kết luận: “Nếu chúng ta là kẻ địch đến đây thì cả nước Trung Quốc không chống cự nổi nửa giờ đồng hồ”.

Về sau, những nước xâm lược Trung Quốc trăm trận trăm thắng. Người châu Âu sau khi đánh Trung Quốc thu về lợi lộc, khi tổng kết kinh nghiệm đã tuyên bố đầy ngạo mạn: “Biện pháp đối phó với Trung Quốc là đánh cho họ nhừ tử rồi mới giảng đạo lý”.

Từ khi nổ ra chiến tranh Nha Phiến năm 1840 đến khi thành lập nước Trung Quốc mới năm 1949, Trung Quốc đã hứng chịu 470 cuộc ngoại xâm. Trong 65 năm từ 1840 đến 1905, Trung Quốc bị buộc phải ký kết đến 745 điều ước bất bình đẳng.

Giỏi tự vệ mới giỏi sinh tồn. Tinh thần thượng võ là tinh thần sinh tồn, tinh thần cứu sống một dân tộc.

Thế kỷ 20: “Trung Quốc đấu tranh”

Ngày 28 thá¢ng 11 năm 1924, trong bài “diễn thuyết tại Hiệp hội thương mại Kobe và các nhóm kinh doanh ” ở Nhật Bản, Tôn Trung Sơn đã nói: “Đối với người châu Âu, chỉ dùng nhân nghĩa để cảm hoá họ, yêu cầu người châu Âu ở châu Á trả lại quyền lợi hoà bình cho chúng ta, chẳng khác gì bảo cọp cho lột da, nhất định là không làm được. Chúng ta muốn giành lại hoàn toàn quyền lợi, cần phải có sức mạnh quân sự”.

Tôn Trung Sơn đã tổng kết bài học kinh nghiệm về quan hệ giữa người châu Âu và người Trung Quốc sau 80 năm cuộc chiến tranh Nha Phiến của Trung Quốc, là dùng nhân nghĩa để cảm hoá người châu Âu chẳng khác gì bảo cọp cho lột da. “Trung Quốc đấu tranh” trong thế kỷ 20 chính là dùng sức mạnh quân sự giành lại quyền lợi. “Trung Quốc đấu tranh ” thực tiễn là chân lý “ súng tạ#o ra chủ quyền”, “ súng tạo ra độc lập”, “súng tạo ra an ninh”, “ súng tạo ra hoà bình”, “súng tạo ra phát triển ”.

“Súng tạo ra chủ quyền”, chủ quyền là sự sống còn của một quốc gia. “Trung Quốc đấu tranh” trong thế kỷ 20, trước hết là cuộc đấu tranh cứu nước, trong đó có cuộc chiến tranh chống Nhật. Sau 8 năm kháng chiến, Trung Quốc chịu sự mất mát lớn lao về người và của, 35 triệu người đã bị thương vong, mới giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh Nha Phiến

-đây là lần đầu tiên trong vòng một trăm năm,Trung Quốc đã giành được thắng lợi tuyệt đối trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc.

Thực tiễn thế kỷ 20 “Trung Quốc chiến đấu” là thực tiễn to lớn của “súng tạo ra hòa bình”, là cuộc chiến tranh viện trợ cho Triều Tiên chống Mỹ và viện trợ cho Việt Nam chống Mỹ. Hai cuộc chiến tranh này là cuộc đọ sức giữa chủ nghĩa đế quốc mạnh nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc mới.

Trung Quốc ra đời trong chiến đấu, Trung Quốc cũng dùng chiến đấu để bảo vệ. Cuộc chiến tranh Triều Tiên diễn ra vào lúc Trung Quốc vừa mới thành lập mà đã dám đối đầu với cường quốc số 1 thế giới, đã thể hiện tinh thần thượng võ của Trung Quốc mới. Cuộc chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến tranh đầu tiên trong lịch sử, cũng là cuộc xung đột chính diện về quân sự duy nhất giữa Mỹ và Trung Quốc. Số người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh này của Mỹ là 1.789.000 người , trong đó số người tử vong là 36.574, số người bị thương là 103.284. Trong cuộc chiến tranh này Trung Quốc cũng đã lần lượt có 25 quân đoàn dã chiến tham gia, 16 sư đoàn pháo binh, 10 sư đoàn bộ đội đường sắt, 12 sư đoàn không quân, được đưa vào Triều Tiên để tác chiến. Ngay sau đó bổ sung thêm cả nhân viên công vụ và binh sĩ bổ sung, đưa số binh sĩ lên đến hơn 2.000.000 người. Một dân tộc trong 100 năm bị các cường quốc trên thế giới uy hiếp, trong vòng 3 năm lại có thể đánh ngang sức với liên quân 16 nước mạnh nhất thế giới, tạo ra một kỳ tích chấn động thế giới.

Trước lúc cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Chu Ân Lai chỉ ra rằng: “Cuộc chiến tranh Triều Tiên là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt với quốc tế sau khi kết thúc cuộc chiến tranh thế giới thứ 2. Cuộc chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến tranh mang tính cục bộ, nhưng ý nghĩa của nó thì mang tính thế giới”. Cuộc chiến tranh viện trợ cho Triều Tiên chống Mỹ, ngăn chặn nước Mỹ không thể giành thắng lợi đã đi vào huyền thoại, mở ra uy phong cho quân đội và đất nước Trung Quốc mới. Bành Đức Hoài nói: “Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã chứng minh hùng hồn rằng thời đại mà bọn xâm lược phương Tây mấy trăm năm nay chỉ cần đặt ở bờ biển phía Đông mấy cỗ đại bác là có thể chiếm được nước khác đã qua rồi”. Các binh sĩ và tướng quân của Mỹ tham gia cuộc chiến tranh này đã thừa nhận rằng, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên “Mỹ đã phải trả giá lớn, đổ máu rất nhiều” mà lại còn “lãng phí thời gian, không giải quyết được vấn đề gì”. Tư lệnh “quân Liên hợp quốc”, tướng Clark đã ký hiệp định đình chiến, sau này trong hồi ký của mình đã viết: “Tôi đã giành được tiếng tăm không đáng ngưỡng mộ: tôi là quan tư lệnh đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ không giành được thắng lợi để phải ký vào hiệp định đình chiến”. Các học giả Mỹ khi bình luận về cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cho rằng, trong cuộc chiến tranh này Trung Quốc mới là nước giành được thắng lợi: ngoài việc khiến “chiến tranh bị hạn chế ở bán đảo, chính quyền Bắc Triều Tiên đã nhận được cứu trợ, cơn ác mộng về sự uy hiếp của quân đội Mỹ tồn tại ở biên giới sông Áp Lục dần dần biến mất”, còn khiến Trung Quốc “trở lên trưởng thành hơn và nhận được sự tôn trọng của mọi người”. Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã để lại “ấn tượng sâu sắc” cho các nhà sách lược Mỹ, nó có vai trò quan trọng trong việc hạn chế những hành động tiến về phía Đông của Mỹ sau này, từ đó “Mỹ và Trung Quốc không xảy ra cuộc chiến tranh lớn nào nữa”. Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, toàn thế giới phải nhìn Trung Quốc với con mắt khác.

Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên Trung Quốc đã giành được thắng lợi, nó có ý nghĩa quan trọng làm cho Mỹ phải dè chừng đối với cuộc chiến tranh Việt Nam sau này. Cùng năm ấy, Tư lệnh quân đội Mỹ Palamer đóng quân tại Việt Nam nói rằng: “Nỗi lo của Mỹ sợ xảy ra chiến tranh với Trung Quốc là sự bảo vệ đáng tin cậy hơn so với bất kỳ loại vũ khí nào mà Hà Nội có thể sử dụng ở chiến trường để đảm bảo Bắc Việt không bị xâm lược. “. Kết quả cuộc chiến tranh Triều Tiên đã khiến Mỹ hết sức tránh một lần nữa đối đấu trực tiếp với Trung Quốc trên chiến trường.

Cuộc chiến tranh Việt Nam bắt đầu 1961, là bước quan trọng để Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara trong bài phát biểu của mình vào tháng 1 năm 1965 đã nói thẳng rằng: Mục đích chính của Mỹ “không phải là giúp đỡ bạn bè, mà là ngăn chặn Trung Quốc ”. Cuộc chiến tranh kéo dài đến tận năm 1975 này, đây là 10 năm quyết liệt nhất của những năm 60, thế kỷ 20. Mỹ đưa số quân đội vào xâm lược Việt Nam cao nhất là 543.000 người. Cũng khi đó Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong bài phát biểu lần thứ nhất vào năm 1965 còn chỉ ra rằng: “Trung Quốc là kẻ địch chủ yếu của Mỹ ngày hôm nay”.

Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh thương tâm của Mỹ. Tư lệnh quân đội Mỹ ngài Maxwell Tailor, người chịu trách nhiệm trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mỗi khi nhớ lại cuộc chiến tranh này đã thừa nhận rằng: Mỹ đã phải trả giá đắt trong cuộc chiến tranh Việt Nam mà chính người Mỹ cũng không ngờ tới. Ông cho rằng ngoài việc các binh sĩ bị thương vong một cách năng nề, các khoản chi lớn cho quân đội ra, thì “vì cuộc chiến tranh này mà Mỹ đã phải trả giá về các mặt như: nội bộ nước Mỹ bị chia rẽ, trong khi giải quyết các vấn đề cấp bách trong và bên ngoài quốc của gia khác, Mỹ đã đánh mất quyền tự do hành động; trong đại gia đình quốc tế, đã lộ rõ sự yếu kém bên trong của nước Mỹ”. Cuộc chiến tranh Việt Nam đối với người Mỹ mà nói là “đây là cuộc chiến tàn khốc, hy vọng cơn ác mộng về những khó khăn và ảo tưởng bị tiêu tan”. Trong cuốn sách “Lịch sử nước Mỹ từ năm 1900 đến nay” có viết rằng: “Cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh đẫm máu và kéo dài nhất trong lịch sử nước Mỹ: hơn 35.000 người Mỹ bỏ mạng tại cuộc chiến tranh này, 75.000 người bị thương, ngoài ra số người bị bắt làm tù binh giam giữ trong doanh trại ở miền bắc Việt Nam cũng lên đến con số hàng trăm, các khoản chi tài chính cũng đạt đến con số trăm tỷ USD, khoảng 5.000 máy bay bao gồm máy bay trực thăng trị giá hơn 5 tỷ USD bị phá hủy ”. Cuộc chiến tranh Việt Nam dường như đã đem lại cho mỗi người Mỹ vết thương tâm. Hàng ngàn hàng vạn quân nhân Mỹ sau khi về đến nước, thì một nửa trong số đó cảm thấy nhục nhã vì những việc đã làm tại Việt Nam, số còn lại thì lo lắng về sau họ sẽ như thế nào. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm cho Mỹ tổn thất lớn về người và của. Mỹ đã phái đến cuộc chiến tranh Việt Nam 1,2 triệu binh sĩ, trong đó hơn 200.000 người bị thương vong, 58.015 người chết, đó là con số kỷ lục của quân đội Mỹ, đồng thời khả năng chiến đấu của quân đội Mỹ cũng giảm đi một cách trầm trọng. Cuộc chiến tranh này, Mỹ đã tiêu hao 200 tỷ USD, thêm vào đó là cuộc khủng hoảng chính trị xã hội trong nước đã làm xấu hình ảnh Mỹ trên quốc tế. Kissinger cho rằng, cuộc chiến tranh Việt Nam đối với người Mỹ mà nói, “thắng lợi cũng vô nghĩa”, “thất bại thì lại không có cách nào chịu đựng nổi”, “cần phải giải thoát từ trong ra ngoài ”, “cho dù kết cục như thế nào, trong cuộc chiến tranh này Mỹ không tránh khỏi rủi ro, Mỹ bây giờ chỉ khi nào thoát ra khỏi ám ảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam, mới có thể giữ được thể diện”

Trung Quốc thế kỷ 21: “Trung Quốc lớn mạnh”

Chuyên gia nổi tiếng Trịnh Tất Kiên (Chủ nhiệm Uỷ ban học thuật Trường Đảng trung ương Trung Quốc -ND) nói: “Trung Quốc muốn đi theo con đường phát triển trỗi dậy trong hoà bình, theo đuổi sự nghiệp trở thành cường quốc quân sự không phải để tranh chấp bá chủ, mà xây dựng Trung Quốc trở thành nước có thị trường lớn, nước có nền văn minh lớn, nước lớn gánh vác vai trò xây dựng cộng đồng quốc tế”. Kỳ thực, cường quốc quân sự không giống như nước lớn tranh bá chủ. Trung Quốc không thể trở thành cường quốc quân sự để tranh bá chủ thế giới, nhưng Trung Quốc nên trở thành cường quốc quân sự để bảo vệ chủ quyền dân tộc và duy trì hoà bình thế giới, trở thành nước lớn có lực lượng quân sự hùng mạnh để bảo vệ và thực hiện thống nhất quốc gia. Trung Quốc không thể chỉ là nước có thị trường lớn, nước có nền văn minh lớn mà còn là cường quốc về quân sự. Trung Quốc trở thành một cường quốc quân sự mà không tranh bá chủ thì mới có thể tự bảo vệ chủ quyền của “nước có thị trường lớn” và sự tôn nghiêm của “nước có nền văn hóa lớn”, mới có lực lượng và điều kiện trở thành nước lớn gánh vác trách nhiệm trong vai trò xây dựng xã hội quốc tế.

Đặng Tiểu Bình đã từng nói: “Trung Quốc hiện tại là lực lượng bảo vệ ổn định hoà bình thế giới, không phải là lực lượng phá hoại. Trung Quốc phát triển càng hùng mạnh, hoà bình thế giới càng được củng cố vững chắc”. Trung Quốc hùng mạnh không chỉ là nhu cầu phát triển, sự an toàn của Trung Quốc, mà còn là nhu cầu hoà bình thế giới. Trung Quốc hiện tại không phải muốn xưng bá, cho dù tương lai hùng mạnh lên cũng không thể xưng bá. Trung Quốc không phải vì hùng mạnh mà xưng bá, cũng không thể vì không xưng bá mà không hùng mạnh, mà cho dù không xưng bá thì vẫn phải thực hiện quốc gia vững mạnh.

Mỹ sau khi dựng nước, tranh luận về việc triển khai xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh. Lúc đó thủ lĩnh phái liên bang Hanmillneck chỉ ra rằng: “Nếu chúng ta muốn trở thành dân tộc thương mại, hoặc muốn duy trì an ninh bên này Đại Tây Dương, nhất định phải nhanh chóng xây dựng lực lượng hải quân ”. Cuộc tranh luận này đã đạt được nhất trí sau cuộc chiến tranh thứ hai giữa Mỹ và Anh. Chiến lược quân sự Mỹ thời kỳ đầu dựng nước và chiến lược an ninh quốc gia đã đi đến nhất trí là: Mỹ nhanh chóng thúc đẩy phát triển lực lượng quân sự và thực lực kinh tế, xây dựng lục quân và hải quân hùng mạnh để bảo vệ chủ quyền và lợi ích thương mại Mỹ. Đồng thời, trong các vấn đề quốc tế thì Mỹ cũng thi hành chính sách chủ nghĩa cô lập, thực hiện ẩn mình chờ thời. Mỹ không phải vì thi hành chính sách chủ nghĩa cô lập mà không xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh. Mỹ cũng không phải vì muốn trở thành dân tộc thương mại mà không xây dựng hải quân hùng mạnh.

Nga tuyên bố rằng, đã nghiên cứu và phát triển hệ thống tên lửa có một không hai trong hệ thống phòng thủ tên lửa. Nga còn có kế hoạch trước năm 2015 chế tạo ra 5 tàu ngầm hạt nhân thế hệ mới, có chuyện kể rằng, Vladimir Putin từng nói: “Dù có phải bán sạch Điện Kremlin cũng phải chế tạo tàu ngầm hạt nhân thế hệ mới”.

Thế kỷ 21, xây dựng “Trung Quốc hùng mạnh”, thì phải xây dựng Trung Quốc thành “nước có thị trường lớn” và “cường quốc quân sự”. Một nước lớn, nếu chỉ là kẻ mạnh trên thị trường nhưng là kẻ yếu trên chiến trường, thì nước lớn đó giống như con dê béo, là con mồi cho kẻ mạnh.

Kỳ sau:  2. Nếu muốn “trỗi dậy trong hòa bình” cần phải “trỗi dậy quân sự”

 

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59