Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 30)

7. Mỹ: Nhà nước nửa dân chủ

Muốn loại bỏ sự ảo tưởng về nước Mỹ, phải nhận thức được tính chất nhà nước của Mỹ. Mỹ là nước như thế nào? Người Mỹ nói họ là nước dân chủ kiểu mẫu trên thế giới. Sự xác định này chỉ đúng có một nửa. Mỹ không phải là nước dân chủ triệt để theo ý nghĩa hoàn chỉnh, mà là nước dân chủ nửa vời hoặc nói cách khác là nước bán dân chủ.

Định nghĩa “nhà nước dân chủ”

“Dân chủ” trong đặc trưng của bản chất một nhà nước dân chủ bao gồm nội dung trên hai phương diện: Một là áp dụng chính sách đối nội dân chủ trong nước, không đi theo chủ nghĩa cực quyền; Hai là áp dụng chính sách đối ngoại dân chủ trên thế giới, không đi theo chủ nghĩa bá quyền. Một nhà nước dân chủ thực sự, vừa là nhà nước phi quân chủ trong nước vừa phi bá chủ trên thế giới; vừa là nhà nước phi cực quyền trong nước, vừa phi bá quyền trên thế giới. Một đất nước nếu chỉ thực hiện dân chủ trong nước, mà trên thế giới làm bá chủ, thực hiện chuyên chế, vậy nước đó nhiều nhất chỉ có thể là đất nước dân chủ nửa vời. Vì thế người Mỹ nói họ là đất nước dân chủ tức là tự đề cao mình, đánh giá không đúng về mình. Mỹ là nước dân chủ nửa vời, đó là sự xác địnhkhoa học tính chất nhà nước của Mỹ. Đánh giá một nhà nước có phải dân chủ hay không, không những phải xem nước này có thực thi chế độ dân chủ trong nước hay không, mà còn phải theo dõi nước đó có áp dụng cơ chế dân chủ trong ngoại giao quốc tế hay không. Tức là chỉ có những nước vừa xây dựng nhà nước dân chủ trong nước, vừa thiết lập thế giới dân chủ trong cộng đồng quốc tế mới là nhà nước dân chủ thực sự theo ý nghĩa hoàn chỉnh.

“Một nước hai chế độ” mang đặc sắc Mỹ

Từ khi lập nước đến nay, Mỹ là một đất nước “mâu thuẫn”. Mâu thuẫn nổi bật của nước này là vấn đề “một nước hai chế độ”. Trong khoảng thời gian từ khi lập nước đến nội chiến, vấn đề “một nước hai chế độ” của Mỹ được thể hiện bằng sự mâu thuẫn và đấu tranh giữa hai chế độ nô lệ ở miền Nam và chủ nghĩa tư bản ở miền Bắc. Cuối cùng, mâu thuẫn này được giải quyết thông qua cuộc chiến tranh Nam Bắc. Từ sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ hai đến nay, vấn đề “một nước hai chế độ” của Mỹ lại được biểu hiện nổi bật bằng sự mâu thuẫn giữa hai chế độ trong ngoài có tính chất khác nhau khi thực hiện chế độ dân chủ trong nước và thực hiện chế độ bá quyền trên thế giới.

“Một nước hai chế độ” giai đoạn đầu tiên của Mỹ, từ khi lập nước đến kết thúc chiến tranh Nam Bắc, kéo dài gần 100 năm. Chiến tranh Nam Bắc bảo đảm sự thống nhất của Mỹ và xóa bỏ chế độ nô lệ, giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ dân chủ trong nước và chế độ nô lệ. Các lớp người trước thuộc giai cấp tư sản Mỹ đã thúc đẩy lợi nhuận khổng lồ từ hoạt động mua bán nô lệ, thiết lập một khu vực kinh tế trồng trọt đặc biệt dựa trên chế độ nô lệ ở nửa bên kia của nước Mỹ. Khi đó các bang miền Bắc chủ yếu phát triển công thương nghiệp, thực hiện chế độ chủ nghĩa tư bản tự do, trong khi đó các bang miền Nam tiến hành trồng trọt là chính, duy trì chế độ nô lệ da đen do các chủ nông trường kiểm soát. Nước Mỹ sau khi giành độc lập, đầu tiên thiết lập chế độ liên bang, sau đó lại xây dựng lại chế độ này, do giai cấp tư sản và giai cấp nô lệ chủ đồn điền cùng nhau chấp chính. Chính quyền này là sự kết hợp tạm thời giữa hai chế độ và hai lực lượng. Kết quả cuộc điều tra dân số đầu tiên vào năm 1790 cho thấy cứ sáu người Mỹ thì có một nô lệ. Khi nội chiến bùng phát, cứ tám người thì có một nô lệ. Khi Thomas Jefferson soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập, trong đồn điền của ông còn có hơn 200 nô lệ. Khi đề cập tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng, có lẽ ông không tính đến những người da đen. Tuy nhiên, chính tư tưởng bình đẳng và nhân quyền tất yếu trở thành thứ vũ khí tư tưởng của những người nô lệ da đen trong quá trình đấu tranh đòi tự do và giải phóng sau này. Khi George Washington mất năm 1799, ông cho tất cả nô lệ của mình được quyền lựa chọn con đường của họ. Jefferson khi qua đời năm 1826 cũng trả tự do cho nô lệ. Năm 1860, miền Nam nước Mỹ có 9 triệu dân, trong đó có 4 triệu người da đen. Những mâu thuẫn, xung khắc và xung đột giữa hai chế độ khác nhau ở miền Nam và miền Bắc đã khiến chiến tranh Nam Bắc bùng phát. Karl Marx từng chỉ ra rằng cuộc đấu tranh giữa hai miền Nam Bắc này chính là cuộc đấu tranh giữa chế độ nô lệ và chế độ lao động tự do. Sở dĩ đấu tranh bùng phát vì hai chế độ này không thể dung hòa với nhau trên lục địa Bắc Mỹ nữa. Nó chỉ có thể được kết thúc bằng chiến thắng của một trong hai chế độ.

Nguy cơ chia cắt đất nước trong thời kỳ chiến tranh Nam Bắc ở Mỹ là do mâu thuẫn bắt nguồn từ tình trạng “một nước hai chế độ” của Mỹ tạo ra. Mà nước Mỹ có thể giành được thắng lợi thống nhất đất nước là do cuộc chiến tranh Nam Bắc, trong mục tiêu thống nhất đất nước, bao gồm cả nội dung giải phóng nô lệ, khiến cuộc chiến thêm phần thiêng liêng. Khi chiến tranh nổ ra, miền Bắc có 21 triệu dân, miền Nam có 9 triệu. Ngày 1/1/1863, Tổng thống Abraham Lincoln ký “tuyên ngôn giải phóng”, mang lại cho cuộc chiến tranh Nam Bắc sức mạnh và giá trị đạo lý to lớn. Cuộc chiến vừa nhằm thống nhất đất nước, vừa vì sự tự do và tôn nghiêm của nhân loại. Bản tuyên ngôn đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Mỹ, làm chấn động thế giới, khiến bất cứ cường quốcnào ở châu Âu đều không dám ủng hộ miền Nam để rồi thân mang tội bất nghĩa. Vài triệu nô lệ trở thành người tự do, trong hàng ngũ quân đội miền Bắc có 210.000 binh sĩ da đen. Có 500 nghìn nô lệ da đen trốn chạy khỏi đồn điền.

“Một nước hai chế độ” giai đoạn thứ hai của Mỹ bắt đầu từ sau khi Mỹ trở thành bá chủ toàn cầu sau thắng lợi trong Thế chiến II, được biểu hiện qua hai bộ mặt dân chủ đối nội và bá chủ đối ngoại.

Thế nên chúng ta mới nói rằng Mỹ trước sau là “một nước hai chế độ”. Trước khi xóa bỏ chế độ nô lệ, Mỹ là nước tồn tại chế độ nửa nô lệ, nửa dân chủ. Sau Thế chiến II, Mỹ là nước có chế độ nửa dân chủ, nửa bá quyền. “Một nước hai chế độ” mang đặc sắc Mỹ đã quyết định việc Mỹ chỉ có thể thuộc loại “nhà nước bán dân chủ”. Muốn trở thành nhà nước dân chủ thực sự, Mỹ buộc phải giải quyết mâu thuẫn giữa nền dân chủ trong nước và sự chuyên chế quốc tế.

Mỹ không thể mãi duy trì trạng thái “nửa dân chủ, nửa bá quyền”

Ngày 16/6/1858, trong bài diễn văn đầu tiên của chiến dịch tranh cử tại thượng viện bang Illinois, Lincoln nói: “Căn phòng bị rạn nứt không thể đứng vững. Tôi tin rằng chính phủ này không thể duy trì trạng thái nửa nô lệ nửa dân chủ”. Nước Mỹ của thế kỷ 21 cũng không thể một nửa đối nội dân chủ, một nửa đối ngoại bá quyền.

Ngày nay, người ta có thể nói rằng nước Mỹ rạn nứt không thể đứng vững. Nước Mỹ không thể mãi duy trì trạng thái “nửa dân chủ, nửa bá quyền”. Trạng thái “nửa dân chủ, nửa chuyên chế”, thực hiện dân chủ trong nước và thi hành bá quyền trên thế giới, không thể duy trì lâu dài được.

Mỹ từ một nhà nước có chế độ nửa dân chủ nửa nô lệ đến chế độ dân chủ thống nhất đất nước, đó là lần thay máu thứ nhất. Mà giải quyết mâu thuẫn giữa dân chủ trong nước và bá quyền thế giới là lần thay máu thứ hai của Mỹ. Là một thực thể chứa đựng sự mâu thuẫn giữa hai chế độ dân chủ và chế độ nô lệ tồn tại song song, Mỹ là nhà nước bán dân chủ; Là một thực thể chứa đựng sự mâu thuẫn giữa dân chủ trong nước và bá quyền thế giới tồn tại song song, Mỹ vẫn là nhà nước bán dân chủ. Chỉ có tiến hành hai đợt thay máu, Mỹ mới có thể trở thành nhà nước dân chủ theo ý nghĩa hoàn chỉnh. Muốn xây dựng một nước Mỹ kiểu mới, trở thành nhà nước dân chủ triệt để, Mỹ bắt buộc phải xoá bỏ “hai chế độ”: Một là chế độ nô lệ của quan hệ đối nội, hai là chế độ bá quyền trong quan hệ quốc tế. Hiển nhiên, đây sẽ là cuộc cách mạng có ý nghĩa sâu rộng nhất đối với cả Mỹ lẫn thế giới.

Nếu nói chiến tranh độc lập là cuộc cách mạng đầu tiên của Mỹ, là cuộc cách mạng dân tộc đánh đổ sự thống trị của thực dân Anh và tranh thủ độc lập, và chiến tranh Nam Bắc là cuộc cách mạng thứ hai của Mỹ, cuộc cách mạng dân chủ duy trì sự thống nhất liên bang, xoá bỏ chế độ nô lệ, thì cuộc cách mạng thứ ba chính là cuộc cách mạng ngoại giao thay đổi chính sách đối ngoại của chủ nghĩa bá quyền Mỹ, là một đợt cách mạng biến chuyển Mỹ từ nước bá quyền thành nước phi bá quyền.

Mỹ lấy việc thúc đẩy dân chủ trên thế giới làm ngọn cờ đầu, mà “dân chủ quốc tế” và “dân chủ trong nước” là hai phương diện trong quá trình thúc đẩy dân chủ hoá thế giới. Làm tốt cuộc cách mạng thứ ba của Mỹ, thực hiện sự chuyển biến trọng đại đối với tính chất nhà nước của Mỹ, là một khâu quan trọng trong tiến trình dân chủ hoá thế giới.

Trong cạnh tranh, có kiềm chế mới có dân chủ. Một nước Mỹ không có kiếm chế thì ắt là một nước Mỹ lộng hành. Nước Mỹ dân chủ phải có thế giới dân chủ kiềm chế. Nếu trên vũ đài thế giới xuất hiện cục diện độc quyền, mất đi sự giám sát, không có sự kiềm chế đối với quốc gia siêu cường, sẽ xuất hiện tình trạng chuyên chế quốc tế. Có cơ chế nhiều nước cạnh tranh mới có nền chính trị thế giới dân chủ. Sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Mỹ gia tăng thực hiện bá quyền, bạo ngược và đơn phương hoá là vì không có đối thủ cạnh tranh. Muốn ngăn chặn sự lộng hành và biến chất của siêu cường, ngăn chặn xu hướng hùng mạnh trở thành cường quyền, phải tạo ra cục diện nước lớn trỗi dậy, anh theo tôi đuổi và cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng quốc tế.

Kỳ sau:Trỗi dậy phải có quân đội hùng mạnh

 

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59