Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Sự mạo hiểm trên Biển Đông

Nhiều nhà quan sát, trong đó có tác giả bài báo này [1], cho rằng động cơ chủ yếu thúc đẩy Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ khu vực Biển Đông là niềm tin rằng dưới lòng vùng biển này ẩn chứa nguồn tài nguyên hyđrôcácbon rất dồi dào.

Đây không phải là lần đầu tiên một nước lớn bị người ta nghi ngờ đang có ý đồ nhòm ngó nguồn tài nguyên hyđrôcácbon được cho là rất dồi dào còn nằm dưới đáy biển. 40 năm trước đây, khi các nhà phân tích không thể đưa ra một lời lý giải nào khác cho việc tại sao Hoa Kỳ lại trợ giúp cho chính quyền miền Nam Việt Nam đang mục ruỗng và chực chờ sụp đổ, một số người đã cho rằng có lẽ là vì Washington biết rằng ở ngoài khơi Việt Nam có nhiều mỏ dầu.

 

Lần này, dường như có nhiều cơ sở xác đáng hơn cho cách lý giải đó. Bởi vậy, trong khi bầu không khí căng thẳng tại Biển Đông đang lắng xuống, dù chỉ là tạm thời, sẽ là một việc hữu ích nếu chúng ta xem xét các bằng chứng cho cách lý giải xoay quanh vấn đề năng lượng về  cách hành xử của Trung Quốc tại Biển Đông.

Trước khi thị trường thế giới đảm nhiệm việc phân phối các nguồn tài nguyên, các quốc gia giành giật lãnh thổ với nhau nhằm mục đích kiểm soát các nguồn tài nguyên. Trong 7 thập kỷ đầu của thế kỷ 20, các cường quốc trên thế giới lúc đó tranh giành nhau quyền độc quyền khai thác các vùng đất giàu dầu mỏ và khí đốt.

Cho đến thập niên 1970, các đế quốc thực dân đều đã sụp đổ và các nước sản xuất dầu mỏ thuộc thế giới thứ ba đã cùng nhau lập nên Hiệp hội các Quốc gia Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), nhằm tạo nên đối trọng trên thị trường trước các cường quốc. Cũng vào thập niên 1970, các cuộc khủng hoảng dầu mỏ liên tiếp xảy ra; hệ quả của chúng là sự đồng thuận ngầm giữa các nhà sản xuất và các khách hàng dầu mỏ lớn về xu hướng “tăng cường đầu tư vào dầu mỏ, bảo đảm một thị trường dầu mỏ toàn cầu linh hoạt và gắn kết chặt chẽ hơn, và coi đó là nền tảng để đảm bảo an ninh năng lượng, thay vì tiếp tục cuộc chạy đua giữa các quốc gia nhằm kiểm soát nguồn cung cấp dầu mỏ“.

Giờ ta hãy trở lại vùng Đông Á. Trung Quốc, mặc dù là một siêu cường đang trỗi dậy của châu Á, lại sở hữu trữ lượng dầu mỏ tương đối khiêm tốn. Theo một báo cáo thống kê cặn kẽ về năng lượng của tập đoàn BP, trữ lượng dầu mỏ của Trung Quốc chỉ chiếm 1,1% trữ lượng dầu mỏ đã được thăm dò trên toàn thế giới, đủ để nước này khai thác nội địa trong vòng 11 năm tới với tốc độ sản xuất hiện tại.

Bởi lẽ cho đến tận những năm 1980, Trung Quốc vẫn bám chặt theo tư tưởng Mao Trạch Đông trong việc tự lực tự cường, nước này vẫn còn là một gương mặt mới trên thị trường dầu mỏ thế giới. Phải đến năm 1993 thì Trung Quốc mới trở thành nước nhập khẩu ròng về dầu mỏ, và đến 2007 trở thành nước nhập khẩu ròng về khí tự nhiên. Tuy nhiên, ngày nay nước này càng ngày càng trở nên phụ thuộc vào các nguồn năng lượng nhập khẩu để duy trì tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của mình. Mức tiêu thụ dầu mỏ của Trung Quốc đã tăng gấp đôi kể từ năm 1990 cho đến 1999, và tiếp tục tăng gấp đôi lần nữa từ năm 2000 đến 2009. Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo mức tiêu thụ dầu mỏ của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng gấp đôi lần tiếp theo vào năm 2035, còn mức nhập khẩu dầu mỏ sẽ tăng gấp ba. Năm phần sáu lượng dầu mỏ họ có sẽ là nhờ nhập khẩu.

Ngay cả nếu như Trung Quốc chia sẻ với các quốc gia khác quan điểm về an ninh năng lượng tập thể, dựa trên nền tảng thị trường, thì cơn khát dầu mỏ và khí đốt của nước này vẫn sẽ gây khuấy đảo thị trường trên toàn thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế, nhà phân tích Mikkal Herberg đã nhận định rằng:

Các nhà lãnh đạo Bắc Kinh dường như có quan điểm của riêng họ, trong đó vấn đề an ninh năng lượng lại được xem xét dựa trên nền tảng quốc gia, thông qua việc thiết lập kiểm soát đối với các nguồn cung cấp và tuyến vận chuyển năng lượng.

Đó rõ ràng là đường lối theo chủ nghĩa trọng thương của thế kỷ 19. Việc duy trì các nguồn cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định và với lượng ngày càng tăng được xem là không thể bỏ qua trong việc bảo đảm tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, tạo công ăn việc làm và giữ vững ổn định chính trị-xã hội, đồng nghĩa với việc tiếp tục bảo đảm tính chính thống về quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh chẳng mấy tin tưởng vào việc thị trường năng lượng thế giới có thể cung cấp nguồn năng lượng đầy đủ, ổn định với giá phải chăng cho Trung Quốc: năng lượng là vấn đề quá quan trọng để có thể phó mặc cho thị trường.

Hai thập kỷ vừa qua đã chứng kiến các công ty dầu mỏ quốc gia của Trung Quốc xuất hiện ở hàng chục quốc gia, bao gồm cả các nước bên lề của toàn cầu hóa như Iran, Myanmar, Syria và Sudan, và dẫn đầu xu hướng đưa thị trường dầu mỏ thế giới trở lại tình trạng bị xé lẻ, quốc gia hóa và chính trị hóa. Herberg cũng lưu ý rằng nhu cầu nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc đang tăng nhanh gấp ba lần so với tốc độ khai thác hoặc phát triển mới các cơ sở sản xuất ở nước ngoài của các công ty dầu mỏ quốc gia của họ.

Chính vì vậy, giấc mơ trở thành bá chủ Biển Đông của Bắc Kinh không phải là điều đáng ngạc nhiên.

Rất khó để có thể ước tính được chính xác trữ lượng dầu và khí ẩn dưới vùng biển rộng 1,5 triệu kilômét vuông trải dài từ Hồng Kông cho đến tận Singapore này. Gần như toàn bộ việc thăm dò, khai thác từ trước đến nay đều mới chỉ được thực hiện ở các vùng rìa – do Malaysia ở Vịnh Thái Lan, Việt Nam ở ngoài khơi cửa sông Mêkông, Brunei ở bờ bắc đảo Borneo, và Trung Quốc ở ngoài khơi vùng đồng bằng Châu Giang. Có rất ít các cuộc khảo sát địa chấn, chứ chưa nói gì đến khoan thăm dò, từng được thực hiện ở khu vực rộng lớn giữa Biển Đông còn đang nhiều tranh chấp này.

Tuy nhiên, các nhà địa chất dầu khí Trung Quốc đang ôm một tham vọng lớn lao. Theo hãng tin Bloomberg, ông Lạc Đổng Hồng (Luo Donghong), một quan chức cấp cao của Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), đã dự đoán rằng cho đến năm 2020, Trung Quốc sẽ nắm giữ được trữ lượng 22 tỷ thùng ở các mỏ dầu nước sâu ở Biển Đông. Con số đó lớn gấp rưỡi trữ lượng của mỏ Đại Khánh (Daqing), mỏ dầu trên đất liền lớn nhất của Trung Quốc – cho đến giờ đã gần cạn kiệt. Theo tờ The Economist, ông Trương Cung Thành (Zhang Gongcheng), cũng thuộc CNOOC, cho biết thêm có gần 200 nghìn tỷ mét khối khí tự nhiên nằm dưới lòng Biển Đông.

Theo các nhà địa chất khác của Trung Quốc, gọi đó là “mỏ Đại Khánh thứ hai” vẫn còn là quá khiêm tốn. Theo các nhà phân tích thuộc Chính phủ Hoa Kỳ, một số ước tính khác của Trung Quốc cho rằng Biển Đông có trữ lượng dầu gấp 14 lần và trữ lượng khí gấp 10 lần trữ lượng dầu và khí hiện tại của Trung Quốc.

Dù trữ lượng dầu khí thực hư có thế nào đi nữa, ngày càng có nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy Trung Quốc đang ngắm đến việc tìm kiếm và nắm giữ “miếng bánh” lớn nhất.

Ông Trung Tự Nhiên (Zhong Ziran), phó giám đốc Cơ quan Trắc địa Quốc gia Trung Quốc, trả lời các phóng viên vào tháng 1 vừa rồi rằng ngân sách hàng năm của cơ quan này dành cho việc thăm dò dầu khí đã tăng lên gấp mười lần, ở mức 500 triệu nhân dân tệ (60 triệu đô-la)/năm – trong đó, 60% sẽ được dành cho các dự án thăm dò ngoài khơi. Khoản tiền này được dành để chi trả cho các nhà khoa học tham gia và để vận hành tàu Giao Long (Jiaolong), một tàu ngầm thăm dò dầu khí của Trung Quốc có khả năng hoạt động tới độ sâu 5.000 mét. Cách đây một năm, tàu Giao Long đã cắm lá cờ Trung Quốc xuống một vực biển có độ sâu 3,759 mét dưới lòng Biển Đông.

Còn có nguồn tin cho biết các khoản tiền trị giá 30 tỷ nhân dân tệ dành cho việc thăm dò dầu khí “nội địa” được bơm đều đặn hàng năm đến cho các công ty dầu mỏ quốc gia – CNOOC, Sinopec và PetroChina.

Vào tháng 11 năm 2010, CNOOC thông tin cho giới phóng viên rằng họ đã dành ra 200 tỷ nhân dân tệ để phát triển dầu khí ở Biển Đông. CNOOC giải thích rằng, tận dụng công nghệ của các đối tác nước ngoài như Devon Energy, Husky Energy và Anadarko Petroleum, tập đoàn này đặt mục tiêu phát triển năng lực khoan khai thác ở các vùng biển ngày càng sâu hơn.

Cho đến nay, việc khoan khai thác ngoài khơi của Trung Quốc vẫn chỉ giới hạn ở các vùng nước tương đối nông gần bờ, sử dụng các giàn khoan tự nâng (jack-up rig) được cố định thẳng xuống đáy biển. Tuy nhiên, vào hồi tháng 5, CNOOC đã tuyên bố kế hoạch triển khai giàn khoan dầu khí nổi đầu tiên của mình tới các vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) do Phillipin tuyên bố chủ quyền. Tân Hoa Xã đưa tin cho biết giàn khoan Marine Oil 981 khổng lồ trị giá 30 tỷ đô-la này mỗi năm sẽ sản xuất ra lượng dầu mỏ trị giá 50 tỷ đô-la cho đến năm 2020. Một giàn khoan nổi tương tự cũng đang được xây lắp cho PetroChina sử dụng.

Trong khi đó, Bắc Kinh đã cảnh báo hai tập đoàn khổng lồ trong lĩnh vực dầu khí là Exxon-Mobil và BP phải từ bỏ mọi ý định khai thác dầu khí tại các khu vực do Việt Nam cấp phép gần quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa – mặc dù chúng đều nằm sâu trong vùng ĐQKT của Việt Nam. BP quyết định rút lui; còn Exxon tuyên bố vẫn sẽ tiếp tục.

Chưa hài lòng với việc đưa ra những lời dọa dẫm, trong tháng 5 và 6 vừa qua, Bắc Kinh còn triển khai các tàu tuần tra thuộc cơ quan Giám sát Hàng hải Trung Quốc (CMS) ra quấy nhiễu hoạt động của các tàu thăm dò dầu khí làm việc cho Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và công ty Forum Energy của Philippin. Các tàu Trung Quốc, một số đội lốt tàu đánh cá, đã cố gắng cắt các dây cáp của máy sonar mà các tàu thăm dò này đang kéo theo. Mặc dù Bắc Kinh giải thích đó chỉ là những “biện pháp thực thi pháp luật bình thường” để bảo vệ “chủ quyền không thể tranh cãi” của nước này, các động thái đầy khiêu khích này của Trung Quốc đã đẩy căng thẳng tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông gần như đến ngưỡng xung đột.

Trong một diễn biến được biết đến rộng rãi gần đây, Trung Quốc cử soái hạm mới của CMS tới thăm Singapore, biểu thị sự phát triển nhanh chóng về sức mạnh của lực lượng tuần duyên và hải quân Trung Quốc trong khu vực. Theo Nhân dân Nhật báo, con tàu 3.000 tấn có trang bị trực thăng mang tên Haixun 31 này sẽ tiến hành kiểm tra “các giàn khoan dầu khí, các tàu đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng và thăm dò . . . và các tàu nước ngoài đang di chuyển, neo đậu, hay hoạt động ở các vùng biển của Trung Quốc” trên đường tới Singapore và từ Singapore trở về.

Lại một lần nữa cố tình phô diễn sức mạnh với Hà Nội và Manila vào năm nay, liệu còn lý do nào nữa để tin rằng Trung Quốc có hứng thú với việc chia sẻ quyền lợi đối với Biển Đông theo khuôn khổ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) hay theo bất cứ một luật lệ quốc tế nào khác? Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng Bắc Kinh muốn đàm phán song phương với các bên. Tuy nhiên, chẳng có mấy hy vọng về việc Trung Quốc sẽ chịu ngồi xuống đàm phán về tuyên bố chủ quyền lãnh hải đầy tham vọng của mình. Cùng lắm là họ sẽ chỉ đồng ý thỏa thuận việc cùng khai thác các nguồn tài nguyên ở các vùng biển tranh chấp.

Ông Dương Phương (Yang Fang), một nhà nghiên cứu tại Trường Quốc tế học S Rajaratnam của Singapore, nói rằng lượng dầu khí mà Việt Nam, Philippin hay Malaysia đang khai thác tại các vùng biển ngoài khơi của họ – khoảng 20 triệu tấn mỗi năm – “bị Trung Quốc coi là đã để mất vào tay nước ngoài.”

Bên cạnh đó còn có một nguồn lợi hấp dẫn khác nữa, đó là mêtan, hay còn được gọi là “nước đá cháy”, thứ mà Bộ Năng lượng Hoa Kỳ gọi là “khí đốt của tương lai”.

Từ thập niên 1970, giới khoa học đã rất phấn khích với việc phát hiện ra rất nhiều các khu vực trầm tích bị đóng băng ở sâu bên dưới các lớp băng vĩnh cửu ở Bắc Cực, dưới cả đáy biển tại hàng chục địa điểm. Khi bị đốt nóng, chúng sẽ nhả ra mêtan, hay còn gọi là khí tự nhiên.

Không ai cho rằng sẽ là dễ dàng để sản xuất được lượng lớn khí tự nhiên từ các trầm tích chứa mêtan hyđrat (một dạng mêtan bị kẹt trong cấu trúc tinh thể nước) mà không gây ra một thảm họa về môi trường. Còn rất nhiều trở ngại kỹ thuật cần phải vượt qua. Tuy nhiên, với các dự đoán về trữ lượng trầm tích chứa mêtan hyđrat cho đến nay đã ngang bằng với tổng trữ lượng đã được biết đến của than, dầu mỏ và khí đốt cộng lại, có nhiều khả năng rằng các trở ngại đó sẽ được khắc phục trong một vài thập kỷ tới.

Các cuộc thăm dò gắt gao do các nhà khoa học Trung Quốc thực hiện từ năm 1999 đã khẳng định rằng khu vực bắc Biển Đông – phần gần Trung Hoa đại lục nhất – rất giàu mêtan hyđrat. Các khu vực xa hơn về phía nam được cho là có nhiều triển vọng nhưng lại chưa được thăm dò. Một báo cáo của Trung Quốc vào năm 2007 ước tính rằng các khu vực trầm tích chứa mêtan hyđrat được tìm thấy ở sâu trong lòng Biển Đông có thể chứa một nguồn năng lượng có thể khai thác được tương đương với 10 tỷ tấn dầu.

Khó lòng có thể chỉ trích Trung Quốc vì nóng lòng muốn khai thác các nguồn lợi hyđrôcácbon của Biển Đông càng sớm càng tốt. Điều mà Trung Quốc – hay ít nhất là một bộ phận đáng kể lãnh đạo và người dân Trung Quốc – đã phạm sai lầm ở đây là họ nghĩ rằng họ có quyền sở hữu mặc định đối với gần như toàn bộ dầu mỏ, khí đốt và mêtan hyđrat có thể được phát hiện và khai thác ở nơi đây.

Bắc Kinh có vẻ bị mê hoặc bởi viễn cảnh rằng họ sẽ có thể chiếm giữ và khai thác các nguồn tài nguyên này mà không phải cạnh tranh với các hãng dầu khí nước ngoài lớn hơn và/hoặc giàu kinh nghiệm hơn nhờ việc khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Tham vọng của Trung Quốc về vấn đề này không chỉ đi ngược lại với quan điểm về an ninh năng lượng tập thể, dựa trên nền tảng thị trường của các nước khác, mà còn đi ngược lại với luật quốc tế, ví dụ như UNCLOS, và mối quan hệ hợp tác mà họ đã dày công gây dựng, một mặt với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và mặt kia là với Hoa Kỳ và các đồng minh.
Các học giả pháp lý nghiên cứu về mớ bòng bong các tuyên bố chủ quyền chồng chéo nhau trên Biển Đông có xu hướng kết luận rằng hướng đi khả thi duy nhất tiếp theo là gạt bỏ các tuyên bố chủ quyền qua một bên và tập trung vào đàm phán các cơ chế để cùng khai thác các nguồn tài nguyên dưới đáy biển. Ý tưởng hấp dẫn này có lẽ là đỉnh cao của sự ngờ nghệch. Ông Walden Bello, một học giả Philippin vốn không ưa gì bản thân quá trình toàn cầu hóa, nhìn nhận rằng “cùng khai thác mà không phân định biên giới rạch ròi sẽ là ngòi nổ cho các xung đột tương lai”. Ông ấy nói thêm rằng, “Nơi nào còn các yêu sách đan chéo lẫn nhau, giải pháp duy nhất còn lại cho nơi đó là đàm phán đa phương”.

Bốn nước ASEAN tuyên bố chủ quyền một phần Biển Đông thì dường như có thể tự dàn xếp vấn đề với nhau. Cả bốn nước đều đã tuyên bố rằng một thỏa thuận chung, nếu có, sẽ được dựa trên các nguyên tắc của UNCLOS. Hơn nữa, theo các nguyên tắc này, thì việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hơn hai phần ba Biển Đông về phía nam là không có căn cứ.

Dễ có thể dự đoán rằng Bắc Kinh sẽ trở nên giận dỗi nếu như ASEAN, dù chỉ một lần, có thể giải quyết vấn đề một cách triệt để. Đó là lý do tại sao, cùng lúc đó, càng phải cẩn trọng hơn để trấn an Trung Quốc rằng họ sẽ không bị gạt ra rìa các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở bất cứ khu vực nào trên biển Đông. Có lẽ ngay cả việc dành cho các công ty dầu khí Trung Quốc một số ưu đãi nhất định cũng là điều hợp lý, miễn là họ chơi theo luật của thế giới chứ không phải là thứ luật mà họ tự mình đặt ra.

Ghi chú

1.  Đối đầu hay bỏ chạy ở Biển Đông Asia Times Online, 09/06/2011. Xem thêm bản dịch tiếng Việt.

David Brown nguyên là một quan chức ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam trước 1975. Ông chuyên viết bài về các vấn đề thời sự ở Việt Nam. Liên hệ e-mail: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..

Anh T.H.A. đã đóng góp nhiều công sức vào bản dịch này. 

Nguồn: BS/Asia Times Online/14-07-2011

 

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59