Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Trung Quốc sẽ thua nếu vấn đề biển Đông được quốc tế hóa

Gần đây mọi người ngạc nhiên khi phát hiện thấy nhiều năm qua, cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc thì ngược lại, nước này đang « liên tiếp thất bại phải lui bước » trên vấn đề Nam Hải [Việt Nam gọi là biển Đông]. Nhất là từ năm ngoái tới nay, xu thế này ngày một thể hiện rõ. Sau cải cách mở cửa, Trung Quốc cố gắng thực thi chiến lược « trỗi dậy hoà bình ».
Họ từ bỏ chính sách một bên, cố phát triển quan hệ hữu hảo nhiều bên với ASEAN. Trên vấn đề Nam Hải, Trung Quốc đề xuất « gác lại tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác ». Những hành động đó xét về thực tiễn và lý luận đã hình thành đường lối và sách lược ngoại giao « giấu mình chờ thời ». Thế nhưng rất nhiều người đã cảm thấy trên rất nhiều vấn đề nếu Trung Quốc không thể trực tiếp đối mặt thì họ lại thúc đẩy chính sách của họ đi tới phía phản diện.
Một lần nữa Nam Hải bỗng dưng trở thành vấn đề nóng hổi của thế giới. Trung Quốc cho rằng chính sách của họ trên vấn đề này về thực chất chưa có gì thay đổi, mà là các quốc gia liên quan đã áp dụng một loạt hành động không có lợi cho Trung Quốc, chẳng qua Bắc Kinh chỉ phản ứng theo kiểu « chữa cháy » mà thôi.
Trên thực tế trong rất nhiều năm nay chính là do Trung Quốc luôn luôn áp dụng các biện pháp đối phó bị động nên các vấn đề Nam Hải đã tích tụ lại và gây nên tình trạng hiện nay. Dù thích hay không, dù hiểu hay không hiểu, Trung Quốc đang đứng trước những thách thức chưa từng có trên vấn đề Nam Hải.
Thứ nhất, từ lâu Trung Quốc đã hoàn toàn thua trong cuộc chiến dư luận quốc tế. Nhiều năm qua, trong khi Trung Quốc đắm mình với hệ thống từ ngữ « trỗi dậy hoà bình » do họ xây dựng thì các quốc gia Đông Nam Á liên quan đã cố hết sức chuẩn bị đầy đủ trên vũ đài quốc tế, chờ đợi vấn đề Nam Hải nổi lên khỏi mặt nước như dự kiến của họ.Xét về hệ thống pháp lý, hiện nay Trung Quốc rất khó tìm được bất cứ lực lượng ủng hộ hữu hiệu nào. Môi trường dư luận nhất biên đảo đã hình thành, Trung Quốc không có quyền ăn nói nữa. Có người nói, dùng từ chính sách cứng rắn không đủ để hình dung thái độ của Trung Quốc trên vấn đề Nam Hải, mà nên dùng từ có tính xâm lược. Quan điểm như vậy về Trung Quốc khá phổ biến trong cộng đồng quốc tế. Bản thân Bắc Kinh thì do không có hành động gì cả nên cảm thấy bị « oan uổng ». 
Thứ hai, Trung Quốc cũng thua một cuộc chiến về chiến lược. Các quốc gia liên quan có chiến lược khá rõ ràng trên vấn đề Nam Hải, gồm nhiều phương diện, như nhiều bên hóa trong khu vực, quốc tế hóa và chính trị nước lớn hóa. Thế nhưng Trung Quốc ngoài việc không chịu đối diện với hiện thực thì lại úp mở không rõ ràng. Họ không dám phân tích chi tiết vấn đề mà dùng khái niệm quá ư vĩ mô như « chống quốc tế hóa » để đối phó một cách qua loa tác trách. Trên thực tế, vấn đề Nam Hải đã nhiều bên hóa, quốc tế hóa, gần đây lại nhanh chóng « chính trị nước lớn hóa ». Chỉ có điều Trung Quốc không dám thừa nhận sự thực đó mà thôi.
Thứ ba, nếu tình hình này cứ tiếp tục thì Trung Quốc cuối cùng cũng tất sẽ mất cả chiến trường chủ quyền. Từ năm ngoái tới nay, chính sách vấn đề Nam Hải của Trung Quốc không có thay đổi thực chất nào mà chỉ có một số động tác có tính phản ứng, nhưng hiện nay ai cũng coi Trung Quốc là nguồn gốc của vấn đề. Tình hình thực tế là các quốc gia liên quan đang tăng tốc hoạt động trên các vùng có tranh cãi ở Nam Hải, nhất là khai thác tài nguyên.
Trung Quốc sống trong « mơ mộng »   
Trên vấn đề Nam Hải (cũng như nhiều vấn đề khác), Trung Quốc nhiều năm nay dường như luôn luôn sống trong « giấc mơ » họ tự đặt ra. Xét về chiến lược, Trung Quốc không phải không có cơ hội chiếm ưu thế trên vấn đề Nam Hải, ngược lại, họ chiếm ưu thế nhưng sau đó lại tự động từ bỏ ưu thế đó....
Kết cục cuối cùng ra sao ? Ngày nay, khi truyền thông phát triển như thế, trên vấn đề chủ quyền, không gian mà người nắm chính quyền có thể thỏa hiệp đang ngày một nhỏ đi. Tình hình này nếu còn tiếp tục thì cuối cùng tất sẽ xảy ra xung đột. Nhưng xung đột hiện nay là vô cùng bất lợi cho Trung Quốc.
Khi nảy sinh vấn đề thì cần đối phó. Nhiệm vụ quan trọng đầu tiênphải hiểu vì sao xuất hiện tình hình đó. Đối với các quốc gia liên quan, đây là sản phẩm của « hoàn cảnh quốc tế lớn » và « hoàn cảnh quốc tế nhỏ »
Hoàn cảnh quốc tế lớn quan trọng nhất với các quốc gia liên quan là sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc kèm theo sự hiện đại hoá quốc phòng, quân sự và ảnh hưởng đối với tình hình địa chính trị của châu Á. Các quốc gia đó cảm thấy thời gian không đứng về phía họ. Trung Quốc bị coi là đang áp dụng chính sách trì hoãn câu giờ, chờ khi tình thế có lợi cho Trung Quốc thì sẽ giải quyết vấn đề.
Vì thế với các quốc gia đó, vấn đề Nam Hải tất phải được giải quyết có lợi cho họ trước khi Trung Quốc thực sự trỗi dậy; nếu không, khi Trung Quốc đã trỗi dậy thì hy vọng sẽ rất nhỏ bé. Bởi vậy tất phải dùng mọi cách gấp rút hành động thúc đẩy tình hình phát triển theo hướng có lợi cho mình.
Với Trung Quốc, hoàn cảnh quốc tế lớn chủ yếu là nói sự thay đổi về chính trị giữa các nước lớn, nhất là quan hệ với Mỹ. Trên vấn đề Nam Hải, Trung Quốc không tránh khỏi phải đối mặt với Mỹ. Có điều là trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc dù đã bỏ nhiều công sức nhưng vẫn chưa biết nên chung sống như thế nào với Mỹ, nhất là ở châu Á. Rất rõ ràng, sự tồn tại của Mỹ có tính chất quan trọng đối với các quốc gia châu Á. Trung Quốc không hiểu lắm vì sao Mỹ phải ở lại châu Á. Rất nhiều người cho rằng ở đây mục đích chính của Mỹ là nhằm đối phó Trung Quốc. Nhưng trên thực tế câu chuyện không đơn giản như vậy. Không những đểđối phó Trung Quốc mà Mỹ có mặt ở châu Á cũng vì yếu tố địa chính trị. Thí dụ, nếu không có yếu tố Trung Quốc thì Mỹ vẫn có thể tìm được không gian sinh tồn ở châu Á. Dù ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á hoặc Nam Á, mối quan hệ phức tạp giữa các quốc gia đều cần sức mạnh của Mỹ để cân bằng.
Việc Trung Quốc không hành động đã tạo ra không gian cho Mỹ
Sở dĩ rất nhiều quốc gia châu Á cần đến sự tồn tại của Mỹ, điều đó cũng là kết quả của việc tự thân Trung Quốc không có hành động gì. Thí dụ trên vấn đề Triều Tiên, hành động của Trung Quốc hầu như làm cho tất cả các nước châu Á bất mãn, trừ Triều Tiên. Dù phía Bắc Kinh có rất nhiều cái khó, song điều ấy không thể chứng minh hành động của Trung Quốc là hợp lý. Quan hệ Trung Quốc-Nhật luôn luôn căng thẳng. Hiện nay, với sự trỗi dậy của Ấn Độ, mối quan hệ Trung-Ấn cũng có tính không xác định rất lớn. Cho dù Trung Quốc và các nước châu Á đều có mặt hợp tác với nhaunhưng dường như mặt xung đột lại luôn luôn xuất hiện.
Dù thế nào, xét về mặt xử lý các vấn đề châu Á, Mỹ là quốc gia duy nhất trải qua nhiều thử thách, còn Trung Quốc tuy ngày một quan trọng nhưng còn chưa trải qua thử thách lớn nào, vì thế Mỹ vẫn là cường quốc đáng tin cậy nhất. Điều đó thể hiện ở chỗ các quốc gia liên quan đều muốn Mỹ dính dáng vào vấn đề Nam Hải. Như thế vấn đề này đã được chính trị nước lớn hóa ...
Ở đây còn có hoàn cảnh nội bộ Trung Quốc. Sang năm đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ họp đại hội XVIII ; trong thời gian này, nhiệm vụ chính của Trung Quốc là công việc nội bộ, ổn định áp đảo hết thẩy. Một số quốc gia Đông Nam Á phán đoán trong thời gian này Trung Quốc sẽ không có điều chỉnh lớn về chính sách ngoại giao, chủ yếu vẫn là có tính phản ứng. Phán đoán này thúc đẩy các quốc gia đó cho rằng đây là cơ hội áp dụng những cách làm cấp tiến hơn.
Cần suy nghĩ lại lối mòn tư duy của Trung Quốc
Hạt nhân tư duy truyền thống của Trung Quốc là phản đối « quốc tế hóa » vấn đề Nam Hải. Về lý thuyết, điều đó dĩ nhiên không sai. Vấn đề là khái niệm ấy chẳng những không thể mô tả được tình hình khách quan của vấn đề Nam Hải, mà còn càng khó có thể theo tư duy đó để tìm ra cách giải quyết vấn đề. Nó liên quan tới mấy vấn đề chính như sau.
Thứ nhất, chủ nghĩa song phương. Trung Quốc chủ trương gác bỏ tranh cãi, cùng nhau khai thác. Nhưng chính sách này cho tới nay về cơ bản vẫn dừng ở chỗ là khẩu hiệu mà thôi. Trung Quốc chưa có chính sách khai thác biển Đông. Các quốc gia liên quan không có ý định cùng khai thác, hoặc ý định không mạnh. Nói thẳng ra là Trung Quốc không có đủ lực lượng hoặc cơ chế động lực để làm cho các quốc gia liên quan tán đồng và tiếp nhận chính sách cùng khai thác do Trung Quốc đưa ra.
Thứ hai, chủ nghĩa nhiều bên (đa biên), tức quan hệ Trung Quốc-ASEAN, chủ yếu thể hiện trên Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã ký kết. Nhưng văn bản này không có sự ràng buộc pháp lý nào. DOC ký đã lâu nhưng chưa quốc gia nào thúc đẩy nó trở thành văn bản có tính ràng buộc pháp lý. Cần nói là Trung Quốc chưa làm hết trách nhiệm trong quá trình này. Mấu chốt là do Trung Quốc nghiêm chỉnh tuân thủ chủ nghĩa song phương, chống nhiều bên hóa vấn đề Nam Hải. Nhưng xét tới rất nhiều vấn đề tranh chấp ở Nam Hải về bản chất là có tính nhiều bên, cho nên từ chối nhiều bên hóa chẳng qua chỉ là Trung Quốc không muốn đối mặt với hiện thực mà thôi.
Thứ ba, quốc tế hóa. Các quốc gia liên quan đã đưa vấn đề Nam Hải ra trước Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế; Trung Quốc không đồng ý lắm với cách làm ấy, bởi lẽ nếu nhờ đến tổ chức quốc tế hoặc luật quốc tế thì cơ hội thua của Trung Quốc vượt xa cơ hội thắng. Như trên đã nói, Trung Quốc đã thua trong cuộc chiến dư luận quốc tế, chẳng mấy ngườiđồng tình với lập trường của Trung Quốc.
Thứ tư, chính trị nước lớn hóa. Các quốc gia liên quan ở Đông Nam Á muốn Mỹ can dự vào (vấn đề Nam Hải) ; điều đó có thể hiểu được. Nhưng mức độ can dự của Mỹ sâu thế nào thì phải xem nó có hợp với lợi ích quốc gia của Mỹ hay không. Yếu tố Mỹ luôn luôn tồn tại ở Đông Nam Á, xưa nay Mỹ là một phần của hệ thống này. Trên thực tế lợi ích của Mỹ tại Đông Nam Á còn thâm căn cố đế hơn lợi ích của Trung Quốc. Từ thời chiến tranh lạnh Mỹ đã bắt đầu dốc sức xây dựng mối quan hệ với các quốc gia ASEAN, còn Trung Quốc thì chỉ sau khi cải cách mở cửa mới bắt đầu có quan hệ có ý nghĩa thực chất với ASEAN. Quan hệ Mỹ-ASEAN bao quát tất cả các mặt còn Trung Quốc chủ yếu chỉ có quan hệ kinh tế với ASEAN, các mối quan hệ mặt khác còn ở giai đoạn ban đầu. Cho nên Trung Quốc phản đối « chính trị nước lớn hóa » cũng là do không nhìn thấy sự thật.
 
Nguyễn Hải Hoành   lược dịch                                                                                                            
Nguyên văn đầu đề : Tại Nam Hải, Trung Quốc làm thế nào để biến « bị động » thành « chủ động » ?
 (*): Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore
 Nguồn:
郑永年中国如何在南中国海变被动主动
Báo Buổi Sớm (Singapore) 2011-07-12  
 
 
Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59