Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Trung Quốc có thể tự cứu vãn nền kinh tế của mình?

Tạp chí Forbes của Mỹ ngày 27/11 đăng bài của tác giả Gordon Chan, chuyên gia về Trung Quốc, về khả năng Trung Quốc có thể tự cứu vãn nền kinh tế của chính mình hay không. Sau đây là nội dung bài viết:


Ngày 23/11, HSBS làm khuấy động các thị trường trên toàn thế giới bằng việc công bố chỉ số PMI (Chỉ số quản lý Mua hàng) của Trung Quốc trong tháng 11. Chỉ số được nhiều người theo dõi này đã giảm từ 51,0 xuống 48,1, xuống dưới ngưỡng 50 là hết sức quan trọng vì có ý nghĩa phân biệt giữa tăng và giảm. Đáng lo ngại nhất, ngành sản xuất gần như đang giảm sút do sự yếu kém về nhu cầu nội địa chứ không phải xuất khẩu.

Sự giảm đột ngột của chỉ số PMI, vốn chỉ dao động ở mức 0,1 mỗi lần, chỉ là một trong nhiều chỉ dấu cho thấy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang đi xuống từng tháng. Thông tin xấu vừa rồi tiếp nối với những con số cũng phản ánh xu hướng đi xuống nhanh chóng của tháng 10. Chẳng hạn, tỉ lệ lạm phát giảm nhanh, bất động sản rớt giá, lượng xe hơi bán ra giảm mạnh. Bánh xe của nền kinh tế Trung Quốc đang trượt khỏi đường ray, với các chỉ số sụt giảm nhanh hơn hầu hết các nhà phân tích – kể cả tác giả – đã dự đoán.

Các nhà kỹ trị của Trung Quốc đã bắt đầu phản ứng bằng việc sử dụng các biện pháp tiền tệ. Ngân hàng nhân Trung Quốc, tức ngân hàng trung ương, trong tháng này đã giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với 20 ngân hàng xuống còn 16%, tức là giảm một nửa điểm. Các quan chức cho rằng động thái này không phải là sự thay đổi trong chính sách thắt chặt tiền tệ. Vì thế các nhà quan sát coi động thái này như một dấu hiệu cho thấy Ngân hàng Trung ương Trung Quốc sẽ sớm cắt giảm yêu cầu dự trữ, hiện đang ở mức cao lịch sử, đối với tất cả các ngân hàng.

Ngày 21/11 vừa qua, Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn phát đi một tín hiệu về sự thay đổi chính sách tổng thể. Phát biểu trong cuộc gặp giữa những người đồng cấp Mỹ tại phiên họp lần thứ 22 của Ủy ban Hỗn hợp về Thương mại Mỹ – Trung tại Thành Đô, ông nói: “một sự phục hồi không cân bằng sẽ tốt hơn là suy thoái cân bằng”. Ý nghĩa của câu nói này không hoàn toàn rõ ràng, ít nhất là từ các bình luận được công bố của ông. Các quan chức Trung Quốc ở Thành Đô không nói là họ sẽ cố thúc đẩy xuất khẩu, mặc dù họ đã làm điều đó trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối năm 1990 và lặp lại vào năm 2008. Quả thực, nhiều người hiện dự đoán rằng Bắc Kinh sẽ ngưng nâng giá đồng nhân dân tệ chính vì mục đích thúc đẩy xuất khẩu này.

Hơn nữa, Bắc Kinh chắc chắn sẽ quay trở lại với các biện pháp kích thích kinh tế. Đồng thời với việc Phó thủ tướng Vương Kỳ Sơn nói về sự mất cân bằng hơn nữa của nền kinh tế Trung Quốc, các nhà kỹ trị của Bắc Kinh cũng bắt đầu nói về mục tiêu của họ, được đưa vào kế hoạch 5 năm lần thứ 12, là chi 1700 tỉ USD vào các ngành công nghệ cao và thân thiện với môi trường.

Bắc Kinh đã liên tục thành công trong vịêc tạo ra tăng trưởng trong lúc bên ngoài đang khủng hoảng. Nhưng liệu các kế hoạch của họ lần này có thành công?

Các yếu tố thuận lợi của khủng hoảng tài chính châu Á không phù hợp với tình hình hiện nay, các đơn đặt hàng từ châu Âu đã giảm rất nhiều. Người tiêu dùng Mỹ – hiện vẫn là động lực tăng trưởng toàn cầu – có vẻ như đang thiếu tiền, cho du mức mua sắm đạt kỷ lục vào ngày “Thứ sáu đen tối’’ 25/11 vừa qua.

Mặt khác, cộng đồng quốc tế thể hiện ít chấp nhận chủ nghĩa trọng thương mại của Trung Quốc hơn trước rất nhiều, bằng chứng là việc Trung Quốc bị đứng ngoài các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Honolulu. Và nếu thế giới rơi vào một cuộc suy thoái lần thứ hai, như những gì đang diễn ra tại châu Âu báo hiệu, thì xuất khẩu sẽ không đóng góp được gì nhiều cho tăng trưởng của Trung Quốc. Vì vậy, Bắc Kinh sẽ cần dùng đến các công cụ tiền tệ và tài khoá để khởi động lại nền kinh tế nội địa. Nếu nhìn vào việc thắt chặt tiền tệ gần đây thì thấy vẫn còn khoảng trống để nới lỏng. Nhưng ngân hàng trung ương không thể giảm lãi suất cơ bản – công cụ tiền tệ hiệu quả nhất – vì điều này chắc chắn sẽ gây ra việc rút ồ ạt tiền gửi tại các ngân hàng thương mại. Lãi suất tiền gửi đã thấp hơn khá nhiều so với lạm phát, vì thế Bắc Kinh không có nhiều khả năng linh hoạt.

Việc giảm dự trữ bắt buộc sẽ có tác dụng, nhưng các ngân hàng thương mại của Trung Quốc đã phải gánh hàng đống các khoản cho vay đáng ngại do chính phủ chỉ đạo. Vì vậy sự yếu kém của các ngân hàng này là một hạn chế. Về mặt lý thuyết, Bắc Kinh có thể tránh được hạn chế này bằng việc sử dụng một phần của khoản dự trữ ngoại tệ 3200 tỉ USD để cấp vốn cho các ngân hàng – giống như đã từng làm hồi giữa thập kỷ trước – nhưng điều đó sẽ làm ngân hàng trung ương mất thêm khả năng trả nợ so với hiện nay (vì cơ quan này đã phát hành nợ bằng đồng nhân dân tệ để duy trì dự trữ USD, euro và yên Nhật). Ngoài các khoản cấp vốn cho các ngân hàng, ngoại tệ không được sử dụng nhiều trong khủng hoảng nội tệ của Trung Quốc.

Không may cho Bắc Kinh, các nhà kỹ trị của họ đã tăng cung tiền đến mức cao chót vót. Cung tiền M2 (tiền rộng) của Trung Quốc vào cuối tháng trước đã cao hơn của Mỹ 34%, cho dù nền kinh tế chưa bằng một nửa của Mỹ. Cung tiền của Trung Quốc tăng nhanh trong ba năm vừa qua, gây ra tình trạng lạm phát cao hiện nay. Lạm phát đã giảm nhanh trong tháng 10, nhưng vẫn còn cao trên thực tế, có lẽ gấp hai lần so với con số chính thức.

Trong bối cảnh này, sự lựa chọn thực tế duy nhất của Bắc Kinh là tạo ra tăng trưởng bằng chi tiêu trực tiếp, điều mà một số người gọi là “đầu tư sóng thuỷ triều”. Ở vùng trung tâm có thể tiêu tiền đầu tư, nhưng Trung Quốc đã có các “thành phố ma” và các dự án không thể tồn tại được trên khắp đất nước. Tín hiệu rằng Bắc Kinh sẽ tăng chi tiêu một lần nữa chắc chắn sẽ vực dậy tâm lý, nhưng các nhà kỹ trị không còn chỉ đạo một nền kinh tế tập trung và họ hạn chế về phương tiện để ép buộc các nhà đầu tư đi vào các dự án không có triển vọng sinh lời.

Biện pháp kích thích của Bắc Kinh không có gì mới, mà là sự bắt chước Tôkyô theo nhiều cách. Các quan chức Nhật Bản cố gắng chi tiêu tiền theo cách của họ để thoát khỏi suy thoái sau khi bong bóng của họ bị vỡ, nhưng cách làm này chỉ tạo ra suy thoái và tình trạng ì ạch giống như suy thoái. Lúc đó, các quan chức Nhật Bản nói rằng kinh tế của họ khác biệt, hàm ý cho rằng có thể không tuôn theo lý thuyết kinh tế truyền thống bằng việc mở đường, xây dựng cầu cống chẳng đi đến đâu ở khắp đất nước. Tất nhiên, họ đã sai. Hiện gần như tất cả các nhà phân tích đều cho rằng Trung Quốc có thể sử dụng cách tiếp cận tương tự và tạo ra tăng trưởng trong nhiều thập kỷ.

Với mức mợ kỷ lục hiện nay của Bắc Kinh – ít nhất 89% GDP – một chương trình chi tiêu nữa có vẻ không hứa hẹn lắm. Chính phủ trung ương có thể chi tiêu, nhưng các nhà đầu tư Trung Quốc cũng có thể tìm lối thoát khi họ mất lòng tin. Có tới 29 tỉ USD, hầu hết qua các chuyển nhượng không được giải thích, đã được chuyển ra nước ngoài vào tháng 10. Kinh tế Trung Quốc sắp chạm tới điểm giới hạn mà nó có thể đạt được. hãy cùng chờ thêm tin xấu từ Trung Quốc sớm xảy ra.

***

(Đài RFI 29/11)

Hai báo cáo của IMF về tình trạng ngân hàng và tương lai kinh tế của Trung Quốc không mấy sáng sủa. Nợ xấu của ngân hàng, đe doạ vỡ bong bóng địa ốc ngày càng đè nặng lên nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới.

Này 14/11/2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế công bố một bảng báo cáo về tình trạng của các ngân hàng Trung Quốc. Theo đó, lĩnh vực tài chính và ngân hàng của nền kinh tế thứ hai toàn cầu “nhìn chung vẫn vững mạnh” nhưng dễ bị tổn thương trong trường hợp xảy ra khủng hoảng, đặc biệt là trước đe doạ vỡ bong bóng địa ốc. Chưa đầy 10 ngày sau, cũng IMF trong “Báo cáo về Phát triển Bền vững của Trung Quốc” không hoàn toàn lạc quan về tương lai kinh tế của nước đông dân nhất địa cầu này.

Trong bối cảnh kinh tế châu Âu bị đe doạ khủng hoảng và suy thoái, những tin sấu về viễn cảnh tăng trưởng của Trung Quốc càng gây hoang mang.

Nợ xấu, căn bệnh trầm kha của ngân hàng Trung Quốc

căn cứ vào một cuộc khảo sát trên 17 ngân hàng lớn nhất của Trung Quốc, bảo đảm 83% các hoạt động của các ngân hàng ngoại thương, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã đi đến kết luận: “nhìn chung, hệ thống ngân hàng Trung Quốc có khả năng đối phó với những khó khăn riêng lẻ” nhưng sẽ khó đững vững nếu như gặp quá nhiều khó khăn dồn dập cùng một lúc như hiện tượng thiếu tín dụng, khu vực địa ốc bị khủng hoảng, tỷ giá nhân dân tệ dao động đột ngột hoặc lãi suất ngân hàng biến đổi bất thường.

IMF cũng cảnh báo Trung Quốc về nguy cơ nợ khó đòi gia tăng phía Trung Quốc nhấn mạnh tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng nước này đang trên đà được thu hẹp. Tuy nhiên, mọi ngưòi còn nhớ trong hai cuộc khủng hoảng tài chính gần đây (năm 1999 và 2004) Trung Quôc đã vô cùng nhức đầu vì nợ xấu. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương luôn báo cáo là tỉ lệ khó đòi chi tương đương với 1% các khoản tín dụng mà hệ thống ngân hàng trên toàn quốc cấp cho khu vực sản xuất tư nhân. Vào thời điểm năm 1999, các chuyên gia quốc tế đã báo trước là tỷ lệ này tương đương với ít nhất 30% đến 40%. Cũng phải nói thêm, khác với hai đợt khủng hoảng tài chính trước đây tại Trung Quốc, lần này môi trường phát triển kinh tế toàn cầu không được thuận lợi bằng.

Theo đánh giá của ngân hàng Thuỵ Sĩ, Credit Suisse, trong vài năm sắp tới, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Trung Quốc sẽ lên tới 12% và như vậy sẽ hút đến 60% thanh khoản của các ngân hàng. Hậu quả trực tiếp là tiền mặt thêm khan hiếm. Doanh nghiệp tư nhân sẽ càng vất vả khi đi vay tín dụng.

Trong báo cáo gần đây nhất, chính Quỹ đầu tư của nhà nước Trung Quốc (CICC), cực chẳng đã phải lên tiếng báo động về hiện tượng nợ khó đòi của các ngân hàng sẽ tăng lên trong nửa đầu năm 2012. Quỹ CICC cho rằng “khan hiếm tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” là nguyên nhân làm tăng mức độ rủi ro của ngân hàng.

Dự trữ vốn yếu kém

Thế nhưng, đây chính là điểm thứ hai đáng lo ngại theo quan điểm của IMF. Do để hỗ trợ tiêu thụ nội địa và để khắc phục hậu quả khủng hoảng kinh tế, Chính quyền Bắc Kinh ngay từ cuối 2008 đầu 2009 đã bơm thêm 440 tỷ USD vào cỗ máy kinh tế quốc gia. Gói kích cầu này đành rằng đã giúp Trung Quốc duy trì được tỷ lệ tăng trưởng vẫn trên 8-9%/năm. Nhưng mặt khác hiện tượng “tiền đổ vào như nước” cũng đã góp phần làm suy yếu thêm hệ thống ngâng hàng, hiểu theo nghĩa của các ngân hàng là dễ dãi cấp tín dụng, đặc biệt là cho các tập đoàn nhà nước mà không đòi hỏi nhiều về hiệu quả kinh tế.

Ngân hàng Trung Quốc từ 2009 tới nay đã nhắm mắt cho vay và theo IMF có tới 20% tín dụng các ngân hàng Trung Quốc cấp cho tư nhân chỉ được đảm bảo ở mức rất thấp, chua đầy 8%. Luận điểm này đã bị Ngân hàng Ngoại thương Trung Quốc phản bác lại. Theo đó tỷ lệ vốn cơ bản của các ngân hàng Trung Quốc là 21,5%, tức cao vào mức kỷ lục. Để so sánh, Công ước ngân hàng Bassel 3 quy định đến năm 2013 tỷ lê vốn cơ bản so với khoản tín dụng mà một số cơ quan tài chính có thể cho vay tối thiểu phải 9%.

Nói một cách dễ hiểu, phía Trung Quốc cho biết để có thể cho vay 100 đồng, ngân hàng cần chứng minh khoản dự trữ ít nhất là 21,5 đồng. Thế nhưng, theo các chuyên gia, nếu như tỷ lệ dự trữ của các ngân hàng Trung Quốc thực sự ở mức cao kỷ lục 21,5% , thì điều đó chứng tỏ là ngân hàng ở nước này không mấy tin tưởng vào khả năng thanh toán của các con nợ. Thêm vào đó không phải bất kỳ một ngân hàng nào ở Trung Quốc đều có tỷ lệ dự trữ an toàn hơn 20% như vừa nêu.

Nói như một nhà tài chính nổi tiếng người Mỹ, hệ thống ngân hàng Trung Quốc rất mong manh vì được “xây trên cát lầy”. Vùng cát lầy theo quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là nợ chồng chất của các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là của ngành mua bán bất động sản. Chính vì điểm này, Quỹ Tiền tệ Quốc tế kêu gọi Bắc Kinh nên xét lại tiêu chuẩn cấp tín dụng cho các đơn vị sản xuất. Định chế tài chính đa quốc gia này trong mọi quyết định cấp tín dụng hay không phải được dựa trên các tiêu chuẩn kinh tế, như mức độ tin cậy đối với người đi vay, hay tiềm năng phát triển của một cơ sở sản xuất, chứ không phải là được căn cứ trên cơ sở chính trị như hiện nay.

IMF kêu gọi Trung Quốc nên “tiến hành cải cách, kể cả việc cho phép các ngân hàng hoạt động dựa trên cơ chế thị trường”. để làm được việc đó, “chính phủ Trung Quốc cần giảm bớt vai trò của mình trong hệ thống ngân hàng và cho phép các nhà co vay đưa ra quyết định dựa trên mục tiêu thương mại”.

Nguy cơ thị trường địa ốc sụp đổ

Như vừa nói, nhà đất là một khu vực kinh tế được đặc biệt ưu đãi, được cấp vốn dồi dào để xây dựng. Với hậu quả là bong bóng địa ốc ở Trung Quốc đã nổi lên. Giá nhà đất trên quê hương ông Đặng Tiểu Bình đã liên tục giảm sút từ tháng 8/2011. Tại các thành phố lớn giá cả nhà đất còn đổ mạnh hơn. Nguy cơ vỡ bong bóng địa ốc tại Trung Quốc theo các nhà quan sát ngày càng rõ nét: Từ năm 2009 giá bất động sản ở các thành phố như Bắc Kinh, Thượng Hải tăng lên đều đặn hơn 30% trong 1 năm. Thế nhưng trong 3 quý đầu năm, ngành địa ốc tại nước đông dân nhất địa cầu này đang trải qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất.

Các vụ kiện chủ thầu bán nhà cho tư nhân với giá cao ngày càng nhiều và bên cạnh đó thì khối lượng các căn hộ, các khu nhà cao tầng đã xây xong nhưng vẫn còn để trống ngày thêm lớn. Trong khi đó số người không có nhà ở cùng ngày càng tăng khi mà “đồng lương của cả đời người” chưa chắc đã đủ sắm một căn nhà tươm tất tại các thành phố lớn. Chỉ riêng trong tháng 10, tại thủ đô Bắc Kinh 120.000 căn hộ vừa được hoàn tất nhưng vẫn chưa tìm được chủ nhân. Hoạt động trì trệ của ngành địa ốc khiến 177 văn phòng mua bán nhà đất phải đóng cửa và cũng ở trong tháng 10, giá nhà ở tại 30 thành phố lớn của Trung Quốc giảm đi rõ rệt.

Một báo cáo của ngân hàng thế giới hồi tháng 4/2011 cảnh báo là chỉ cần lạm phát ở Trung Quốc tăng 5% trong một năm cũng đủ đe dọa đến sự phồn thịnh của ngành địa ốc. Lạm phát Trung Quốc trong tháng 10 vừa qua lên 5,5%.

Để làm hạ nhiệt trên thị trường bất động sản, Chính quyền Bắc Kinh đã tìm cách “kiểm soát” giá nhà đất, giới hạn các dịch vụ mua nhà đầu cơ. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu các “liều thuôc” có hiệu quả hay không và làm sao chính quyền có thể kiểm soát được các vụ mua bán nhà đất đó?

Địa ốc và núi nợ 1000 tỷ euro của các chính quyền địa phương

Thêm một vấn đề khác đặt ra: do muốn tránh để xảy ra hiện tượng “vỡ bong bóng địa ốc”, Trung Quốc đá yêu cầu giới ngân hàng từng bước siết lại các vòi tín dụng, đòi tư nhân phải chứng minh là có những bảo đảm thuế chấp. Mặt khác thì chính quyền cũng đã áp dụng các biện pháp tăng thuế nhà đất. Các biện pháp này đã khiến hoạt động của ngành địa ốc “chạy chậm” lại. Nhưng khi tư nhân dời lại dự án mua nhà, thì nạn nhân đầu tiên lại là các chính quyền địa phương. Câu hỏi đặt ra là làm sao Bắc Kinh có thể giải quyết núi nợ 1.000 tỷ euro của các chính quyền địa phương do chỉ có chính quyền địa phương mới đủ thẩm quyền trưng thu hay mua lại đất đai để xây dựng những ngôi nhà cao tầng.

Dự báo của nhiều trung tâm quốc tế nghiên cứu về kinh tế Trung Quốc cho thấy nhiều vụ biểu tình trước các công ty bất động sản sẽ diễn ra trong tương lai khi những người mua nhà, nhận thấy rằng căn hộ họ đã mua với giá quá đắt không phản ánh đúng giá trị của nó. Khi đó liệu chính sách kiểm soát tiền tệ để kìm hãm lạm phát của Bắc Kinh sẽ có hiệu quả hay không? Trở lại với hai báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế về tình trạng ngân hàng và phát triển bền vững của Trung Quốc, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nêu lên những lý do giải thích vì sao IMF không chút lạc quan khi nhìn vào cỗ máy kinh tế đồ sộ của ông khổng lồ châu Á này. Trước hết chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết vì sao trong chưa đầy 10 ngày Quỹ Tiền tệ Quốc tế lại công bố hai văn bản về tình hình Trung Quốc.

+ Chuyện thứ nhất, sau vụ khủng hoảng Đông Á vào các năm 1997 – 1998, từ năm 1999, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) có chương trình định lượng tài chính trông 25 khu vực kinh tế của thế giới, tiến hành cứ 5 năm một lần cùng Ngân hàng Thế giới, mục đích để khỏi bị khủng hoảng bất ngờ như thế giới đã từng trải qua. căn cứ trên dữ kiện tình hình năm ngoái, báo cáo IMF về hệ thống tài chính Trung Quốc thuộc khuôn khổ đó và hoàn tất từ tháng 6, nên không hẳn là một sự biện bạch từ những gì đang sảy ra ở châu Âu. Thế rồi, cũng do sự bất ổn chung, IMF mới chủ động thanh tra thẩm định mức độ an toàn của các hệ thống tài chính tại 25 quốc gia khác nhau, trong đó có Trung Quốc, vì có thể gieo hoạ cho cả cơ cấu quốc tế.

Chuyện thứ hai, giữa những bất trắc của kinh tế toàn cầu, từ hội nghị Thượng đỉnh năm ngoái của nhóm G-20, IMF đựoc yêu cầu đánh giá khả năng phát triển bền vững của 7 đầu tàu kinh tế lớn nhất là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Ấn Độ và báo cáo cho Hội nghị Thượng đỉnh G-20 tại Cannes vào tháng 11/2011. Phúc trình về khả năng bền vững của kinh tế Trung Quốc được soạn thảo trong mục tiêu đó, với sự đồng ý và hợp tác của Bắc Kinh. Nó đáng chú ý vì nói đến tình trạng bấp bênh của kinh tế Trung Quốc và sự khác biệt về về cách ứng phó của Bắc Kinh và IMF. Tuy nhiên, ngay trước mắt thì người ta chú ý đến hồ sơ cấp bách hơn của tương lai ngắn hạn, đó là những rủi ro trong hệ thống tài chính và ngân hàng của Trung Quốc.

- Theo dõi hồ sơ tài chính này từ lâu, ông nghĩ sao về những yếu kém qua hệ thống ngân hàng Trung Quốc qua cách đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế?

+ Phúc trình IMF có đầy thuật ngữ chuyên môn lồng trong ngôn từ ngoại giao lịch sử của một định chế quốc tế nên có thể không phản ánh hết sự u ám của cả cơ cấu tài chính Trung Quốc. Chưa kể là họ cũng không muốn gây thêm tâm lý hốt hoảng vào lúc này! Một cách cụ thể thì sau khi ngợi ca thành tích  cải cách kinh tế của Trung Quốc, IMF nêu ra cả chục rủi ro. Trước hết là bốn rủi ro ngắn hạn của các ngân hàng Trung Quốc, rồi nguy cơ bất ổn về cơ cấu trong tương lai trung hạn, từ 2 -5 năm tới, nếu không tiến hành cải cách hệ thống tài chính và ngân hàng. Sau cùng, quan trọng nhất là sự lệch lạc do tính chất kinh tế chính trị gây ra cho nước này.

- Chúng ta sẽ bắt đầu từ bốn loại rủi ro trước mắt, đó là những rủi ro gì?

+ Trước hết, hậu quả về cả chất lẫn lượng của việc ào ạt bơm tín dụng vào nền kinh tế qua hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước. Vì được bơm tiền quá nhiều mà mà sổ sách luật lệ thiếu nghiêm minh thì người ta không thẩm định rủi ro khi cho vay, nên càng không tính ra được rủi ro tín dụng. Nguy cơ khủng hoảng được đánh giá từ trùng bình đến cao.

Thứ hai, hiện tượng tài trợ ngoại ngạch trong quyết toán tài sản các nghiệp vụ tài trợ nên gây ra tình trạng bơm tiền không đúng chỗ. Hệ thống tài chính Trung Quốc không chỉ có các ngân hàng bị đe doạ mất nợ mà còn có tình trạng bơm tiền vào hoạt động đầu cơ về địa ốc hay thương phẩm và trước mắt còn gây ra rủi ro lạm phát khá cao.

Thứ ba nạn đầu cơ thổi lên bong bóng địa ốc làm giá cả bất động sản tăng vọt, dẫn tới rủi ro vỡ bóng làm ngâng hàng mất nợ, vì đã và đang tích luỹ nhiều khoản nợ, khó đòi và sẽ mất,  mà rủi ro đến mức nào thì khó ai biết được vì sổ sách  không rõ ràng và lại được bảo vệ bởi quy tắc bí mật quốc gia.

Vấn đề thứ tư, chính là cơ chế mất quân bình hiện tại với vai tò quá lớn của doanh ngiệp nhà nước và thẩm quyền mờ ám của các địa phương khi tiền đầu tư để kích thích kinh tế bằng cách đi vay ngân hàng cũng cuả nhà nước ở địa phương. Kết cục là một núi nợ lớn có thể sụp đổ, mà lớn cớ nào thì các ngân hàng và cả trung ương vẫn chưa biết được.

- Đấy là loại rủi ro ngay trong ngắn hạn, chứ trong trung hạn thì bất ổn về cơ cấu đó là gì?

+ Cơ cấu tài chính và ngân hàng phải có chức năng hỗ trợ phát tiển kinh tế về lâu dài nên cần được cải cách. Nhưng nạn xơ cứng trong chính sách quản lý vĩ mô lại cản trở việc cải cách này, cho nên Trung Quốc không chỉ gặp rủi ro trước mắt mà còn tích lũy bất ổn cho tương lai trung hạn. Vấn đề then chốt ở đây là thứ nhất, chính sách vĩ mô nhằm đạt mức tăng trưởng cao về lượng mà không chú ý đến chất và thứ hai là chức năng phân phối tài nguyên hay tín dụng lại chủ yếu nằm trong tay nhà nước, qua ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước, từ cấp trung ương đến cấp địa phương. Vì vậy mà nếu nước này có thoát rủi ro nhất thời thì sau đó vẫn còn nhiều nguy cơ hoạn nạn!

- Sau khi đánh giá như vậy, Qũy Tiền tệ Quốc tế khuyến cáo các ngân hàng của Trung Quốc nên cải tổ như thế nào?

+ Họ khuyến cáo qua 29 đề nghị khá rắc rối! Về đại thể, chính quyền phải đẩy mạnh hơn việc cải cách ngân hàng theo quy luật thị thị trường và quy củ kinh doanh: khi cho vay thì phải biết tính lời lỗ, có chứng từ sổ sách phân minh, cần thẩm định rủi ro cho chính xác để ngân hàng đảm nhiệm cho tròn chức năng thu hút tiết kiệm và phân phối tín dụng sao cho an toàn và có lời. Song song, chính quyền phải bớt can thiệp vào nghiệp vụ ngân hàng, cần công cụ điều tiết tiền tệ và tín dụng tinh vi hơn là quyết định hành chính thô kệch như hiện tại. Cao hơn vậy, bản phúc trình còn đề nghị gia tăng quyền độc lập cho Ngân hàng Trung ương và khả năng định lượng tinh tế hơn cho các cơ quan hứu trách ở trên để lãnh đạo có thể thấy trước rủi ro mà còn kịp thời ngăn ngừa. Đây là một loạt khuyến cáo về cải cách định chế, hoặc “định chế hóa” sự vận hành của các ngân hàng theo sát với tiêu chuẩn quốc tế.

- Nếu dự báo này xảy ra thì nguy cơ với các ngân hàng Trung Quốc là gì và hậu quả sẽ ra sao?

 + Sau ba đợt “kiểm tra sức khỏe tài chính” của các ngân hàng châu Âu với kết quả tưởng khả quan mà thực tế vẫn gây lo ngại. IMF cùng Trung Quốc cũng đã trắc nghiệm khả năng ứng phó với sóng gió của 17 ngân hàng Trung Quốc. Kết quả cũng có vẻ an toàn nếu có bị hiệu ứng của một số cú sốc đơn lẻ, chứ thật ra tình hình lại nguy ngập hơn mà chẳng ai tính ra vì thiếu thông tin đáng tin cậy ở mọi cấp! Đa số dân Trung Quốc còn nghèo mà tiết kiệm lại rất cao, đến 40% lợi tức vì họ thiếu mạng lưới an sinh ở dưới. Khi ngân hàng sụp đổ, dân nghèo “chết” trước, doanh nghiệp phá sản và dân thất nghiệp sẽ theo sau. Hiện nay, các tiểu doanh nghiệp của tư nhân đều đã ở mé bờ khủng hoảng và nạn cho vay với lãi suất cắt cổ trên thị trường tín dụng đen đã trở thành phổ biến. Nếu hệ thống tài chính này bị đổ thì vấn đề không chỉ là kinh tế hay xã hội mà sẽ dội lên thượng tồng chính trị. Ở một nước thiếu dân chủ như Trung Quốc, có lẽ những biến động xã hội và chính trị như tại châu Âu là chuyện lãng du. Lãnh đạo Bắc Kinh không thể không biết mối nguy đó nên kế hoạch 5 năm thứ 12 mới đặt ưu tiên là cải cách và IMF nhân đó mà đề nghị cải cách mạnh hơn./.

 

 

 

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59