Văn hóa Nghệ An

Switch to desktop Register Login

Trung Quốc sẽ đè bẹp nước Nga như thế nào?

Chiến tranh diễn ra chớp nhoáng. Nga không có nhiều cơ hội

Những mâu thuẫn của quá trình phát triển ở Trung Quốc, nói một cách mềm mỏng, là không nhìn thấy khả năng giải quyết, kết hợp với sự phân hóa nhiều mặt của xã hội (giữa giàu - nghèo, thành thị - nông thôn, giữa các tôn giáo) tất yếu sẽ dẫn đến, trong một tương lai gần, mối đe dọa nghiêm trọng cho sự tồn tại của quốc gia Trung Quốc.
Không thể khắc phục tình trạng này trong thực tế, nếu không tính đến việc thống nhất dân chúng về mặt tâm lý - đạo đức. Giới cầm quyền Trung Quốc hiểu quá rõ điều đó. Và họ tạo ra một hệ tư tưởng mới để dần dần thay thế hệ tư tưởng của họ đang ngày càng mâu thuẫn một cách kì quái với hiện thực đời sống. Đó là tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, một hệ tư tưởng biện hộ cho sự tồn tại, và có thể, cho cả việc bành trướng của Trung Quốc hiện nay.
Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 11/2002) đã đưa ra nghị quyết “không ngừng đề cao và vận dụng tinh thần dân tộc”, coi đó là nhiệm vụ chiến lược, và hơn thế, là điều kiện, là sự thiết yếu đối với sự sống còn của dân tộc Trung Hoa, và tất nhiên nhiên là của cả nhà nước Trung Hoa. Đồng thời, quan niệm “Trung hoa dân chủ” - tức là quan niệm về một dân tộc Trung Hoa duy nhất, đã tìm được vị thế chính thức.
 
 Trong quan niệm này có nhiều khía cạnh cực kì đặc biệt.
Lịch sử TQ không chỉ là lịch sử của tộc người Hán và các dân tộc bị Trung Quốc nô dịch, dù chỉ trong một thời gian ngắn (ví như Hồi Hột, Kazac, Kirgiz), mà còn là cả lịch sử của những dân tộc đến xâm lăng Trung Quốc (Tungus, Mông Cổ, Mãn Châu). Theo đó, với tư cách chủ sở hữu lãnh thổ của Trung Quốc, các nhân vật lịch sử Trung Hoa hiện nay là kết quả của những cuộc xâm lăng của các quốc gia không phải của người Hán (ví như Mông Cổ, Mãn Châu). Chẳng hạn, Thành Cát Tư Hãn vẫn được xem là anh hùng dân tộc của Trung Quốc, nhưng trong thực tế, ông ta hành xử với Trung Quốc như một kẻ xâm lược tàn bạo. Thực tế này bao giờ cũng lùi xuống bình diện thứ hai trên cái nền lịch sử: đế chế Mông Cổ trong suốt các thế kỉ XIII - XV đã trải ra trên một phần rộng lớn đại lục Âu - Á mà ngày nay Trung Quốc tuyên bố là quốc gia của họ. Chẳng những thế, bề ngoài, bản thân những người Mông Cổ quả là đã lập ra vương triều nhà Nguyên của mình ở Trung Quốc, mà sau này bị người Trung Quốc lật đổ vào năm 1368.
 
Nét đặc thù của những lối đi lịch sử đã dẫn tới chỗ, Trung Quốc luôn luôn có những yêu sách lãnh thổ đối với bất kỳ quốc gia nào cùng chung biên giới với nó, không có ngoại lệ. Nguy cơ này đối với nước Nga, đáng buồn, là lớn nhất.
Theo Hiệp ước Nerchinski 1689 mà nhà Thanh dùng sức mạnh buộc Nga phải kí, nước Nga bị mất vùng Priamuri[2] (hơn nữa, vào thời điểm này, người Nga không chỉ cư trú bên tả ngạn, mà còn sống trên một phần phía hữu ngạn sông Amur). Trước và sau hiệp ước này, Trung Quốc chưa hề có ý đồ chiếm đoạt vùng đất ấy. Theo Hiệp ước Aigunski năm 1858 và Hiệp ước Bắc Kinh năm 1860, Nga thu hồi lại được phần đất bị mất, lập nên đường biên giới hiện nay, chạy dọc bờ sông Amur và Ussuri. Thế nhưng Trung Quốc lại luôn coi Hiệp ước Nerchinski là một sự nhượng bộ của Trung Quốc, còn hai Hiệp ước sau thì đều bị xem là “không công bằng”, “không chính đáng”.
 
Năm 1926 Trung Quốc đề nghị Liên Xô phục hồi lại đường biên giới theo thỏa thuận của Hiệp ước Nerchinski. Trong các cuộc thương thuyết diễn ra ở Bắc Kinh vào năm 1964 về vấn đề tranh chấp biên giới, Trung Quốc đã chính thức tuyên bố rằng Nga đã chiếm đọat của họ bằng những hiệp ước không công bằng 1.540 ngàn km2, trong đó theo Hiệp ước Aigunski là hơn 600 ngàn, theo Hiệp ước Bắc Kinh - 400 ngàn. Cho đến giờ, cách giải thích lịch sử như thế vẫn không thay đổi ở TQ, dù giới giới cầm quyền chính thức của nhà nước Trung Hoa vẫn luôn tuyên bố rằng họ không có yêu sách và tham vọng gì về lãnh thổ đối với Nga cả.
 
Việc kí kết các hiệp ước về biên giới chỉ làm giảm bớt căng thẳng, phù hợp với lối nói khoa trương của TQ, còn thực chất, tham vọng của họ không hề mảy may suy suyển. Trong ý thức của người TQ, chúng ta vẫn mãi mãi là một đất nước cướp giật hàng triệu km2 lãnh thổ của họ.
Ở đây không thể không nói về tình trạng di cư của người Trung Quốc đến Nga. Không thể biết chính xác số lượng Hoa kiều ở Nga: mọi con số đưa ra đều là nhận định riêng của từng tác giả. Nhưng cái đáng nói không phải là ở con số, mà là ở việc trên lãnh thổ Nga, Hoa kiều đã lập nên những cộng đồng vững chắc cho phép tiếp nhận đồng bào của mình và giúp họ thích nghi thực tế với bất cứ số lượng nào. Những cộng đồng như thế đang hoạt động không chỉ ở Đông Sibir hay Viễn Đông, mà trong khắp cả nước ta, kể cả Moskva và Peterburg.
 
Nông dân TQ, những người không có đất đai và việc làm, hiện chưa lũ lượt kéo sang nước ta vì 2 lí do: vì không có phương tiện, và vì nói chung, rất mù mờ, không biết cái nước Nga ấy nó ở đâu. Chỉ cần các cấp chính quyền TQ muốn khắc phục những “hạn chế” này, họ sẽ đạt được kết quả hết sức nhanh chóng và dễ dàng. Về việc này, không thể không chú ý đến điều 50 của Hiến pháp CHNDTH: “Nhà nước CHNDTH bảo vệ các quyền hạn và lợi ích chính đáng của người Trung Quốc đang sinh sống ở nước ngoài, các quyền hạn và lợi ích hợp pháp của người Trung Quốc hồi hương và của những thành viên gia đình của cả hai loại người trên đang sinh sống tại Trung Quốc”. Trong điều khoản này không nói về “các công dân CHNDTH”, mà về “người Trung Quốc”, chính điều khoản ấy đã trở thành cái cớ cho cuộc xâm lược của Trung Quốc chống lại Việt Nam vào năm 1979. Ngoài ra, giới lãnh đạo CHNDTH còn tuyên bố sẽ bảo vệ quyền lợi cho tất cả người Tung Quốc, không phụ thuộc vào đất nước mà họ đang sinh sống.
Tờ báo QĐGPNDTH ngày 3/4/1988 đã viết một cách thật thà đáng yêu thế này: “Việc kiểm soát một cách hiệu quả được tiến hành trong một thời gian dài đối với vùng chiến lược nằm ngoài khu vực biên giới địa lí, cuối cùng sẽ dẫn tới việc di dời biên giới địa lí”. Rất đáng đọc kỹ câu trên để thấy hết ý nghĩa đặc biệt của nó.
 
Cần nhấn mạnh thêm rằng, ở ngay cả những nước dân chủ hơn Trung Quốc rất nhiều, một tờ bào là cơ quan ngôn luận của lực lượng vũ trang chỉ có thể phát biểu quan điểm thật sự mang tính chính thống. Sự bành trướng về kinh tế và nhân khẩu luôn đảm bảo cho toàn bộ cái gọi là “kiểm soát có hiệu quả” đối với “vùng chiến lược”, ví dụ, như Sibir và Viễn Đông. Đối chiếu các dữ kiện trên cho phép đưa ra một giả thuyết, rằng những mục đich như thế của giới cầm quyền TQ cũng được áp dụng cho nước Nga (và một vài nước láng giềng khác của TQ).
 
Quan niệm về một dân tộc Trung Hoa duy nhất và việc phát triển cảm thức về nước mình như một nước “bị tất cả xúc phạm” có những mục đích đối nội hoàn toàn mang tính thực dụng ở Trung Quốc: siết chặt tư tưởng của dân chúng, chống lại các khuynh hướng phân liệt về sắc tộc và kinh tế - xã hội.
Việc xuất khẩu lao động cũng mang một ý nghĩa vụ lợi như thế: trút được gánh nặng căng thẳng xã hội và nhận về những lợi tức ngoại hối.
Bằng toàn bộ những biện pháp nêu trên, TQ đang dành ưu thế về thời gian, trì hoãn cơn khủng hoảng, thử ngăn chặn nó hoàn toàn mà không cần vượt ra ngoài giới hạn của chính sách tiệm tiến hiện nay. Còn sự bành trướng ra ngoài, TQ cũng chủ trương tiến hành “thầm lặng”, “hòa dịu” bằng con đường kinh tế và nhân khẩu. Tuy thế, cũng không loại trừ khả năng họ dùng một kịch bản khác, kịch bản chiến tranh.
Tất nhiên, kịch bản này nằm ngoài ý muốn của Bác Kinh. Nhưng hoàn toàn không loại trừ.
 
Có lẽ, kịch bản này được sử dụng trong trường hợp giới cầm quyền TQ nhìn thấy sự khủng hoảng nghiêm trọng trong nội bộ đang tất yếu sẽ nổ ra. Và họ sẽ xác quyết, rằng phương thức duy nhất giúp thoát khỏi khủng hoảng là chủ động, tăng cường bành trướng ra bên ngoài để vừa chiếm đất đai và tài nguyên, vừa khiến cho dân chúng bị thu hút vào những vấn đề đối ngoại. Nghĩa là cuộc bành trướng công khai chớp nhoáng sẽ được xem là “mối hoạ nhỏ nhất” so với thảm họa nội bộ.
 
Trong trường hợp này, cả dữ liệu sử học như đã miêu tả ở trên (như là cơ sở tư tưởng) lẫn việc di dân của người Hoa sang Nga (như “đội quân thứ năm”, tiếp ứng cho việc “kiếm soát đầy hiệu lực đối với vùng chiến lược nằm ngoài cương vực đất nước”) đều hữu dụng.
Các lực lượng vũ trang TQ được xây dựng phù hợp với nguyên tắc về  “biên giới chiến lược và không gian sinh tồn”, một nguyên tắc được tạo ra nhằm trao cho các lực lượng vũ trang của Trung Quốc cơ sở và quyền hạn thực hiện các cuộc tấn công quân sự. Nguyên tắc này dựa vào quan điểm cho rằng, sự tăng trưởng dân số và sự hạn chế tài nguyên tất dẫn đến nhu cầu tự nhiên cần mở rộng không gian đảm bảo cho sự tiếp tục hoạt động kinh tế của nhà nước và tăng cường “địa bàn sinh tồn tự nhiên”. Hiện có quy ước cho rằng, biên giới lãnh thổ và không gian chỉ quy định giới hạn mà trong đó, với sự hỗ trợ của sức mạnh thực tế, nhà nước có thể “bảo vệ một cách hiệu quả các lợi ích của mình”. Còn “biên giới chiến lược của không gian sinh tồn cần chuyển dịch mềm dẻo theo đà trưởng thành của sức mạnh tổng hợp của quốc gia”.
 
Nguyên tắc trên cho phép chuyển hoạt động quân sự từ các khu vực bên trong biên giới ra các vùng “biên giới chiến lược”, hoặc, thậm chí, ra cả bên ngoài phạm vi ấy, khi sự phức tạp trong quá trình “bảo vệ quyền hạn và lợi ích hợp Pháp của Trung Quốc ở khu vực châu Á - Thánh Bình dương” đã trở thành nguyên nhân tạo nên các xung đột quân sự.
 
Về các học thuyết của Giải phóng quân nhân dân Trung hoa đang được phổ biến ở trung quốc với kịch bản xâm lược Nga, tôi đã có bài viết trên Webite “APN” (“Trung Quốc sẽ gây chiến với ai”, 21.9.2006)
 
Cần tính đến vai trò hết sức lớn lao của lực lượng quân sự trong đời sống chính trị TQ (vị trí lãnh đạo cao nhất trong bộ máy chính quyền TQ không phải chức tổng bí thư BCH ĐCS hay chủ tịch nước, mà là chức vị chủ tịch Hội đồng quân ủy trung ương), cũng như nguồn dự trữ nhân lực vô biên trong thực tế rất.
 
Đội quân thất nghiệp khổng lồ trong giới trẻ và nạn “khan hiếm cô dâu” hiện nay đang khiến những mất mát to lớn của cá nhân trong quá trình tiến hành các hoạt động quân sự thành chuyện không thể cho phép một cách giản đơn, nhưng, với giới lãnh đạo chính trị và quân sự của nhà nước, có thể điều đó còn được xem là cần thiết.
 
Việc Nga có kho vũ khí hạt nhân không nên coi là liều thuốc vạn ứng, bởi TQ cũng có kho vũ khí hạt nhân. Ưu thế của Nga về phương tiện vận chuyển xuyên lục địa (mà trong trường hợp cụ thể ở đây là dư thừa) về nhiều mặt có thể sánh ngang với số lượng tên lửa tầm trung khổng lồ của CHNDTH, loại vũ khí giữa vai trò chiến lược hiện có giữa các nước có chung biên giới. Do bị ràng buộc bởi hiệp ước Xô - Mĩ về thủ tiêu tên lửa tầm trung (kí tại Washington, ngày 7.12.1987.- ND), nước Nga hoàn toàn không có loại tên lửa như thế.
 
Kịch bản cuộc xâm lược vũ trang có thể như sau:
Cuộc xâm lược sẽ bắt đầu vào mùa đông, cụ thể hơn nữa là vào dịp năm mới, khi cộng đồng nhiều dân tộc của Liên bang Nga, trong đó có cả giới lãnh đạo quân sự - chính trị Nga đang trong tình trạng tiêu hao nhiều nhất khả năng hành động. Ngoài ra, mùa đông sẽ làm cho sông Amur và hồ Baical đóng băng, vì thế việc vượt sông không còn là vấn đề khó khăn. Cuối cùng, mùa đông cũng làm đóng băng đường biển Bắc, làm Nga mất khả năng cung ứng cho các vùng phía đông từ ngả bắc. Để tiếp tế chỉ còn lại phương tiện giao thông từ Sibiri mà đã bị cắt đứt ngay từ những giờ đầu của chiến tranh bởi những nhóm biệt kích được thành lập từ đám di dân.
 
Nguyên cớ cho cuộc xâm lăng sẽ là “sự xâm phạm quyền lợi thiết thân của người Hoa đang sinh sống ở nước ngoài”. Chẳng hạn, trong thời gian vui chơi dịp Năm mới, một người Nga (hay người Ijacut, Tacta) đấm vào mặt một người Hoa. Chẳng lẽ đó không thể là hành vi xâm phạm đến quyền lợi thiết thân hay sao?
 
Binh đoàn thiết giáp - cơ giới hùng hậu nhất của QĐGPNDTH sẽ từ vùng Hailar đột kích vào phía tây, tiến theo hướng Chita - Ulan-Ude - Irkutsk.
Lính Tàu có thể vào thẳng Irkutsk qua ngả Mông Cổ không - điều này khó nói. Chỉ biết rằng họ sẽ không giữ gìn chủ quyền của Mông Cổ (đất nước này được họ coi là một phần không tách rời của TQ), và bảo vệ cũng chẳng cho ai, nhưng ở đây nảy sinh vấn đề về khoảng cách di chuyển xa, địa hình sở tại và hệ thống đường xá tồi tệ. Vả lại, đây là vấn đề không mấy quan trọng.
 
Sau khi chiếm được Irkutsk, mục tiêu tiếp theo của lực lượng QĐGPNDTH sẽ là tìm lối ra khu vực sông Enisei. Lực lượng Nga bố trí giữa Chita và Krasnodar quá mỏng, không đủ để chống lại một cuộc xâm lược tập trung, và không thể tin là giới lãnh đạo Nga hiện nay sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân để chống lại một đế quốc hạt nhân.
Ngay từ đầu cuộc xâm lăng, toàn bộ lãnh thổ Nga phía Bắc và Đông bắt đầu từ Chita trở ra sẽ hoàn tòan bị cách li khỏi phần còn lại của đất nước. Để chiếm vùng Amur và các khu vực thuộc Primor và Khavarovsk, chỉ huy quân đội TQ sẽ tung ra những sư đoàn lính bộ binh được tuyển mộ từ đội ngũ nông dân và dân thành thị thất nghiệp. Bằng sự đông đảo, họ đủ sức đè bẹp bất cứ sự kháng cự nào.
 
Vả lại, như đã nói ở trên, những tổn thất to lớn của cá nhân sẽ được giới lãnh đạo xem là cần thiết.
 
Nga không có một khả năng nào để có thể bảo vệ các tỉnh thành Iakutchia, Xakhalin và Kamchatka. Do lợi thế địa hình, Kamchatka và Xakhalin có thể cầm cự được một thời gian, nhưng chắc chắn không giữ được đến cùng, vì chẳng có ai tiếp ứng cho họ. Thêm vào đó, sức mạnh của hải quân Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh hơn, so với tuần dương mẫu hạm của Nga đang bị suy thoái, từ lâu đã không còn nhớ đơn vị chiến đấu mới là gì.
Theo nguyên do đó, lợi thế địa hình không còn là phao cứu sinh của Kamchatka và Xakhalin, chứ đừng nói gì đến Iakutchia. Cho nên, người ta sẽ đề nghị Mỹ và Nhật đứng ra bảo vệ những vùng này. Để đổi lại sự độc lập tự chủ từ phía Moskva. Chắc chắn, một đề nghị như thế sẽ được chấp thuận, bởi dẫu sao nhận sự bảo trợ của Mỹ và Nhật vẫn tốt hơn là bị TQ chiếm đóng.
 
Việc TQ có tiếp tục tiến về phía tây, xa hơn Enisei hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nhưng sau khi chiếm được nam Viễn Đông và đông Sibiri, họ sẽ giành được một vùng lãnh thổ to lớn để di dân đến ở (giúp họ xóa bỏ việc hạn chế sinh đẻ), cướp đoạt được vô số mỏ khoáng sản quý hiếm, trong đó có dầu lửa, cũng như báu vật chính yếu và hi hữu mà vì nó, họ chẳng cần suy tính, có thể ném vào đó hàng mấy triệu sinh mạng binh lính - ấy là nước hồ Baical[3].
Thế là Nga không còn cách nào thu hồi lại phần lãnh thổ bị mất trong một cuộc chiến tranh thông thường.
 
Việc sử dụng vũ khí hạt nhân như một chiến thuật, như đã nói ở trên, ít khả năng xảy ra. Bởi nếu dùng chiến thuật vũ khí hạt nhân là phải sử dụng ngay tại lãnh thổ của mình (và sẽ lãnh đủ từ nó). Hai bên giáng trả nhau và cùng lãnh đủ hậu quả, lại còn ảnh hưởng tới một phần châu Âu là điều TQ không muốn.
Không hoài nghi gì nữa, khi cần phải lựa chọn giữa sự huỷ hoạ bản thân với việc để mất lãnh thổ phía đông vùng Enisei, các thủ lĩnh Kremli sẽ chọn cái thứ hai.
 
Như đã nói từ đầu, sự bành trướng ra ngoài đối với TQ là một phương thức sống còn. Vấn đề chỉ còn là hình thức và tốc độ. Bành trướng bằng hình thức quân sự không phải là việc được hoạch định sẵn, nhưng cũng không thể loại trừ. Nó được thúc đẩy bằng sự suy sụp của lực lượng quân sự Nga và đặc điểm cơ cấu tâm lí ở giới lãnh đạo cao cấp Nga. Họ sẽ không bảo vệ nước Nga, nếu vì việc ấy mà bản thân họ phải khốn khổ.
 
Cuối cùng, thời gian gần đây xuất hiện thêm một nhân tố thuận lợi nữa cho Bắc Kinh. Đó là chiến thắng của Trung Hoa Quốc dân Đảng tại quốc vụ viện, và sự quy thuận của Trung Hoa Đài bắc trong cuộc bầu cử tổng thống ở Đài Loan. Thế là TQ không còn phải chi phí một khoản ngân sách to lớn cho cuộc chiến giành lại Đài Loan, mà ngược lại, nó còn nhận được từ sự kiện trên tòan bộ quyền điều hành nguồn tài chính và công nghệ của Đài Loan.
Và thế là nó chỉ việc nhìn lên phương bắc.
                                                                         Phạm Thị Phương dịch
Nguồn: Báo: “АПН” (Агенство политических новостей),
                              http://www.apn.ru/publications/article20310.htm
 
 


[1] Aleksandr Anatolievich Khramchikhin (sinh: 1967): Phó Giám đốc Viện Phân tích Chính trị và Quân sự, Liên Bang Nga.
[2] Приаму́рье:  lãnh thổ vùng Viễn Đông của Nga, người Trung quốc gọi là tỉnh Hắc Long Giang.- ND
[3] Nước hồ Baical có một số đặc điểm sau: thứ nhất: trữ lượng lớn: gần 23 nghìn kilômét khối, chiếm 93% nguồn dự trữ nước sạch của Nga, 20% nguồn dự trữ nước sạch của thế giới (nếu mỗi người một năm dùng 500 lít nước sạch, thì nguồn nước của Baical đủ cho hơn 6 tỉ người của trái đất dùng trong 40 năm; thứ hai: trong suốt, rất sạch, chứa nhiều dưỡng khí, nên từ thời xa xưa, nó đã được xem là loại nước có thể dùng chữa bệnh; thứ ba: chứa nhiều khoáng chất có lợi cho sức khoẻ con người, có tuổi thọ và độ trầm lắng cao, nên có thể dùng để sản xuất nước giải khát. Như tôi biết, mùa hè năm 2008, ở Moskva giá mỗi lít xăng loại A-95 là 25,9 rup, nhưng giá mỗi chai nước hồ Baical loại 0,9 lít giá 49,9 rúp, tức là nước hồ Baical đắt gấp đôi giá xăng dầu. ND.

 

   

Sửa lần cuối vào Thứ năm, 21 Tháng 2 2013 21:59