Tue05222012

Cập nhật lần cuối07:11:35 PM GMT

Untitled Document
Đường dây nóng: 0913 325 043. Email: tapchivanhoanghean@yahoo.com

Từ điển triết học giản yếu

Từ điển triết học kỳ 38

Bergson, Henri: Henri Bergson sinh năm 1859 tại Paris, thân phụ vốn là nhạc sĩ, gốc ở Ba lan lưu vong qua Pháp, thân mẫu là người Anh và chỉ nói chuyện với ông bằng tiếng Anh, cho nên dường như những tài liệu khoa học, kể cả từ những tác giả Đức, ông đọc từ bản Anh ngữ. Cha mẹ ông nuôi dưỡng, giáo dục ông trong những quy tắc Do thái thái cổ truyền. Tuy nhiên, có lẽ vì lý do gia đình, ông đã sớm được gửi học ở ký túc xá từ năm chin tuổi. Bergson cũng sớm tỏ ra ưu tú cả về triết học và toán học, ông đoạt giải nhất trong những cuộc tranh tuyển hai môn học này. Khi học ở  trường Cao đẳng sư phạm, bạn cùng lớp với ông là Durkheim, Baudrillart và Jaurès. Ông thích lối giảng dạy nghiêm túc của J. Lachelier, người thày mà ông đề tặng trên luận án chính Essai sur les données immédiates de la conscience 1889, đọc Essais của Cournot và nhất là Spencer (ảnh hưởng quan điểm sinh học và cụ thể của thiên tài người Anh này), cũng như Ravaisson. Bergson hoàn tất sự nghiệp dạy đại học ở Collège de France từ năm 1900, nhận giải Nobel văn chương vào năm 1928. Ngay từ 1937 trong chúc thư, ông bày tỏ ý định xuất bản tất cả những gì muốn gửi đến công chúng và tác phẩm toàn thành vào năm ông mất (1941).

Luận về những dữ kiện trực tiếp của ý thức như lời mở đầu chỉ ra  tất yếu của ngôn ngữ, tư duy trong không gian những khu biệt  và gián đoạn  của những đối tượng vật chất, cho nên Bergson chọn cái chung của siêu hình học và tâm lý học là vấn đề tự do. Đó là toan tính đem siêu hình học vào lĩnh vực kinh nghiệm, thuộc khoa học và ý thức, dùng trực giác và phân tích những  đặc tính nguyên ủy của kỳ gian/durée nội tại để minh giải tự do.

Vật chất và ký ức/Matière et mémoire 1896 nhằm khẳng định thực tại của tinh thần và vật chất cũng như xác định quan hệ giữa tinh thần và vật chất khi nghiên cứu những vấn đề qua tri giác và ký ức. Trong tác phẩm này, Bergson đã khai triển khái niệm kỳ gian/durée mô tả trong luận án nói trên thành một hệ thống những đối lập giữa cái trống không của quá khứ và tương lai với cái đầy của hiện tại. Kỳ gian có thể xét trên ba chiều kích, không gian, thân thể và vật chất: nhận thức vật chất và những quan hệ với ký ức, quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trong chuyển động tiến hóa, khu biệt giữa ảo và thực cũng như ảo và thực tiễn của trực giác. Bergson xác định: vật chất là toàn bộ những ảnh tượng và tri giác là những ảnh tượng này quan hệ với hoạt động khả hữu của một ảnh tượng nhất định: thân thể của tôi. Ông coi ký ức là bản chất của kỳ gian, sinh động, có những nhịp điệu  khác nhau đo lường mức độ của căng giãn ý thức, do đó định vị chúng trong chuỗi những hữu. Ông khẳng định tính nhị nguyên, song coi chủ nghĩa duy thực và duy tâm là những thuyết thái quá như nhau (idéalisme et réalisme sont deux thèses également excessives).

Tiến hóa sáng tạo/L'évolution créatrice 1907 nhằm khảo sát lịch sử tiến hóa của đời sống, xét đến đối lập giữa duy cơ luận và cứu cánh luận, hoạt động của trí hiểu/intelligence (dẫn đến một trong những kết luận của công trình này là “trí hiểu của con người  nhằm khẳng quyết tiếp hợp toàn diện thân thể vào trong môi trường, biểu hiện những quan hệ của sự vật ngoại tại với nhau, ngõ hầu tư duy vật chất”. Bergson xây dựng cơ sở cho một tiến hóa luận tương ứng với thực tại, chỉ có cái thực mà bản thể của nó là biến đổi, một đà sống nguyên ủy. Đời sống nội tại của con người là sáng tạo  không ngừng và không dự kiến trước được. Cơ thể sinh động là thực tại tồn tục. Trong kết luận (cũng là phần tranh biện thường xuyên với tiến hóa luận  của Spencer) Bergson nói đến chức năng riêng có của triết học, không những chỉ để trở về của tinh thần với chính nó, trùng phùng của ý thức con người với nguyên lý sống ở đó phát sinh ra nó, một tiếp cận với nỗ lực sáng tạo. 

Hai nguồn của đạo đức và tôn giáo/Les deux sources de la morale et de la religion 1932 đánh dấu một khoảng thời gian khá xa với những tác phẩm dẫn trên, cũng như sự chờ đợi của triết học truyền thống Pháp là xây dựng một thuyết đạo đức. Hai nguồn của đạo đức là nghĩa vụ và nguyện vọng. Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụ xã hội, bắt nguồn từ thể tính sinh học, con người thoát ra khỏi tính động vật sống trong những “xã hội đóng kín” như  một bước lùi làm chậm đà tiến của con người, biểu hiện áp lực xã hội trên hoạt động đạo đức của phần lớn nhân loại.Ông quan niệm bên cạnh đạo đức tiêu cực này còn có một đạo đức cởi mở, đó là có những người anh hùng đầy nghị lực có thể hóa thân cái mới qua thái độ ứng xử làm điển hình sống và tạo một công lý, thanh tịnh, bác ái, lĩnh hội tự tại mới. Bergson cũng trình bày tính nhị nguyên này trong lĩnh vực tôn giáo.

Quan niệm xã hội đóng kín và xã hội cởi mở của Bergson chịu ảnh hưởng của Durkheim và Freud. Quan niệm về Thượng đế của ông đã bắt nguồn từ khái niệm đà sống như một “siêu ý thức” khác hẳn với quan niệm thần học tây phương cổ truyền. Tuy nhiên hiểu biết của ông về những tôn giáo đông phương khá nghèo nàn, phần chịu ảnh hưởng Lévy-Bruhl và quan niệm thần bí.

Ngày nay, Bergson vẫn là thể hiện một nền nhân bản riêng của triết học Pháp; ảnh hưởng của ông trong quan hệ với chủ nghĩa hiện sinh Pháp phân biệt với hiện tượng luận Đức, mặc dầu cũng có người cho rằng Bergson có một con đường tương tự như nhà triết học cùng thời, Husserl khi hướng triết học về con đường cụ thể  của ý thức. Jean Hyppolite trong tham luận tại hội nghị quốc tế triết học tháng tư 1949 Từ chủ nghĩa Bergson đến chủ nghĩa hiện sinh đã xem như mở ra một con đường triết học Pháp có ý nghĩa quan trọng (như quan niệm ngã sâu sắc/ngã hời hợt với quan niệm tính chính thực/phi chính thực); quan niệm về tri giác và thân thể của Bergson ảnh hưởng đến tư tưởng Merleau-Ponty sau này (trong Ca ngợi triết học, Merleau-Ponty nhận xét Bergson nói về cơ giới luận, luận về thời giờ rảnh rỗi của công nhân, thân phận của phụ nữ với một giọng ít có tính cách bảo thủ), nhà triết học trẻ người Pháp Frédéric Worms (sinh năm 1964) viết Bergson ou les deux sens de la vie/Bergson hay hai ý nghĩa của đời sống 2004 khai phá nguồn gốc và tầm vóc cực kỳ sâu xa của tư tưởng Bergson, và vị thế triết học trong lịch sử giữa thời đại của ông với hiện tại. Đọc Bergson để thấy dấu hiệu của một triết học lớn, “trong những thời khoảng lớn lao nhất của cuộc đời, thân thể hữu cơ của con người và lịch sử hòa trộn lẫn nhau không rời; những sự biến ấy luôn luôn là những quan hệ, không phải sống hay chết, nhưng là những giáng sinh và tang tóc, những gặp gỡ và sụp đổ đánh dấu mốc cuộc đời chúng ta, nối kết và chia lìa chúng”.

Ngoài những sách dẫn trên, những tác phẩm khác của Bergson: Le Rire 1900, L'Energie spirituelle 1919, Durée et simultanéité 1922, La Pensée et le mouvant 1934.

Bách khoa : từ 'Bách khoa' bắt nguồn từ tiếng hy lạp έγχύχλιοςπαιδεία để chỉ khởi thủy là chu kỳ học tập khoa học và nghệ thuật mà thanh niên có điều kiện tự do phải theo đuổi  đặng trở thành công dân.

Ngay từ thế kỷ IV trước C.N. đã có những khoa học hình thành chuyên biệt. Những biện giả hy lạp là những người đầu tiên đề ra lý tưởng có văn hóa bách khoa, nhưng thật sự hiếm có những đầu óc khả dĩ bao trùm mọi kiến thức nhân loại, như Aristote, người đã tổng hợp mọi tư tưởng đi trước trong mọi lĩnh vực như triết học, các khoa học vật lý,chính trị, tu từ, thi ca.

Bộ bách khoa cổ nhất là của học giả Varron/Marcus Terentino Varro (116-27 tr.C.N.) gồm chín quyển Disciplinarum/Những bộ môn học chứa những nguyên lý giảng dạy những văn nghệ cho thời Trung cổ sau này, và bốn mươi mốt quyển Antiquitatum rerum humanarum et divinarum/ Cổ sự của người và thần thâu gồm những nghiên cứu  liên quan đến sử, địa, luật, tôn giáo song không có phê bình. Đó là khuyết điểm chung của những công trính cùng loại của người La mã. Tuy nhiên phải kể những tác phẩm quan trọng như Naturalis historia/Sử tự nhiên của Gaius Plinius Secundus (Pline lão - 23-79 C.N.), Naturales quaestiones/Vấn nạn tự nhiên nghiên cứu những vấn đề căn bản của khoa học của Lucius Annaeus Seneca (4 tr.C.N.-65 C.N.), Satyricon của Marcien Capella (thế kỷ V) khảo sát những văn nghệ.

Francis Bacon với The Advancement of Learning 1605, Cogitata et Visa 1607, De Sapienta Veterum 1609, Novum Organum 1620, De Augmentis Scientiarum 1623 đề ra hai khả năng quan sát và phản tư, giữa triết học kinh nghiệm và thuần lý để quan niệm bách khoa.

Nhóm Bách khoa (encyclopédistes) Pháp ở thế kỷ 18 với Denis Diderot và Jean Le rond d'Alembert coi Bacon như người tiên khu : Encyclopédie ou Dictionnaire raisonné des sciences, des arts et des métiers, par une société de gens de lettres 1751-1772 do Diderot chủ xướng và là biên tập chính, gồm 17 quyển chính, 11 đồ bản/planches, 5 quyển phụ lục và 2 quyển đồ biểu/tables tham chiếu, khởi thủy là dịch và phỏng theo Cyclopaedia 1728 của Ephraim Chambers, hình thành đầu tiên từ John Mills người Anh, Godefroy Sellius người Đức, rồi đến Gua de Malves của Viện Hàn lâm khoa học Pháp.

Triết học của nhóm Bách khoa gồm mọi mặt : hữu thể luận, tri thức luận, đạo đức học, lý luận xã hội và chính trị, lý luận ngữ học, mỹ học. Quan điểm chính có thể tóm gọn trong câu của Diderot : Con người là hạn từ duy nhất để khởi đầu và mọi sự phải trở lại (l'homme est le terme unique, d'où il faut partir, et auquel il faut tout ramener). Ba quan năng của tinh thần là ký ức, lý trí, tri tưởng. Cây tri thức không có căn rỗi trong trật tự siêu việt của Thượng đế mà trong tinh thần của con người và trật tự quan năng của con người. Những nhà Bách khoa Pháp cũng chịu ảnh hưởng của Bayle (trong Dictionnaire historique et critique) khi quan niệm từ điển là một tuyên ngôn của tự do tinh thần và là một vũ khí chiến đấu tư tưởng, như trong mục từ 'Encyclopédie' phát biểu « phải thay đổi lối suy nghĩ thông thường/ changer la façon commune de penser ». Họ cũng chịu ảnh hưởng của Chambers dựa trên những nghiên cứu mới nhất của những nhà bác học như Boyle, Halley, Hooke, Newton, Leibniz, Clairaut, Maupertuis, Lagrange trong lĩnh vực vật lý học và toán học, hay Boerhaave, Lémery, Sydenham, Réamur, Bordeu và trường phái Montpellier trong lĩnh vực y học. 

Blondel, Maurice : Blondel sinh năm 1861 ở Dijon, vào trường Cao đẳng sư phạm năm 1881, là một nhà triết học Thiên chúa giáo nổi tiếng nhất ở thế kỷ XX, có ảnh hưởng tới nhiều nhà triết học Thiên chúa giáo muốn tìm một lưa chọn thay cho học thuyết Tô-mít. Oâng dạy ở đại học Aix-en-provence từ năm 1896 cho đến khi mất (1949). Tác phẩm chính của ông là L'Action 1893 với tiểu đề : Essai d'une critique de la vie et d'une science de la pratique/Luận về một phê bình đời sống và một khoa học thực tiễn đề tặng người thầy ở trường Sư phạm là Léon Ollé-Laprune, coi bản chất của ý thức mới trong khuôn khổ Thiên chúa giáo là phấn đấu, chịu khổ, có trách nhiệm với toàn diện sáng tạo ; chức năng của triết học hành động là tạo ra con đường tràn đầy niềm tin. Blondel được coi là một triết gia hiện thực duy linh.

Những tác phẩm khác của ông là : La Pensée 1934 ; L'Eâtre et les êtres 1935 ; L'Action (cùng nhan đề với sách xb năm 1893) gồm 2 quyển : Le Problème des causes secondes et le pur agir (Vấn đề những nguyên nhân thứ cấp và hành sử thuần túy) và L'Action humaine et les conditions de son aboutissement (Hoạt động của con người và những điều kiện thông đạt) 1937 ; La philosophie et l'esprit chrétien 1944-46 ; Exigences philosophiques du Christianisme (Những yêu cầu triết lý của Thiên chúa giáo) 1950.

Boutroux, Emile : Eùmile Boutroux sinh năm 1845 ở Montrouge (Hauts-de-Seine), gần Paris theo học trường Cao đẳng Sư phạm từ năm 1865, là học trò của Jules Lachelier hướng dẫn ông vào con đường nghiên cứu Kant [giảng khoa của Boutroux ở Sorbonne niên khóa 1896-97 La philosophie de Kant và niên khóa 1887-88 La philosophie allemande au XVIIe siècle (triết học Đức thế kỷ 17) chuyên biệt về Leibniz và những nhà triết học trước Leibniz]. Ông đã từng sang Đức học tại đại học Heidelberg 1869-70 với Hermann von Helmholtz Xu hướng của ông về triết học khoa học, thể hiện ở luận án De la Contingence des lois de la nature (Về tính bất tất của những quy luật tự nhiên) 1874 và phát triển trong giảng khoa ở Sorbonne De l'Idée de loi naturelle dans la science et dans la philosophie contemporaine 1895, quan niệm có sự gián đoạn cơ bản phân chia những tầng lớp khác nhau của hữu thể về vật chất, bản năng và tư duy. Theo ông, trật tự của tự nhiên là biến đổi khi phân tích khái niệm tất yếu và khu biệt giữa khái niệm này với tất định thuyết, tư duy có tính đa nguyên.

Boutroux đối lập với chủ nghĩa duy vật trong khoa học. Trong tác phẩm Science et religion dans la philosophie contemporaine 1908, ông quan niệm 'cái gọi là tôn giáo' hướng dẫn lý trí, và tính nhân quả mục đích luận thay cho nhân quả duy cơ. Người con trai của ông là Pierre Boutroux sinh năm 1880 là một nhà toán học và triết học toán học với những tác phẩm Les principes de l'analyse mathématique 1914-1919 ; L'idéal scientifique des mathématiques 1920.

(còn tiếp)

bấm vào đây xem Từ Điển Triết Học các kỳ 1-29  

Từ Điển Triết Học kỳ 30

 Từ Điển Triết Học kỳ 31

 Từ Điển Triết Học kỳ 32

 Từ Điển Triết Học kỳ 33

 Từ Điển Triết Học kỳ 34

 Từ Điển Triết Học kỳ 35

 Từ Điển Triết Học kỳ 36

 Từ Điển Triết Học kỳ 37

 http://www.gio-o.com/DangPhungQuan.html

 

 


Các bài liên quan:
Các bài mới đăng:
Các bài viết khác:

Cập nhật ngày Thứ ba, 08 Tháng 2 2011 07:53

Tổng mục lục

 

 

Mục lục số 174

 

 

Mục lục số 172 - 173